0
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––
LÊ ĐỨC THÔNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
MỘT SỐ TRẠNG THÁI RỪNG THỨ SINH
TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐỒNG TẤN
THÁI NGUYÊN - 2011
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại trường Đại học Nông lâm thuộc Đại
học Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao học khoá 17 từ năm 2009 đến
2011. Trong qúa trình học tập và thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ của tập thể cán bộ khoa đào tạo sau đại học, các
thầy giáo, cô giáo của Trường đại học Nông lâm. Tác giả xin chân thành cảm
ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Lê Đồng Tấn - người thầy
đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này, xin cảm tạ
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................4
1.1. Khái niệm và định nghĩa về tái sinh rừng ...............................................4
1.2. Các nghiên cứu về tái sinh rừng..............................................................5
1.2.1. Trên thế giới .....................................................................................5
1.2.2. Ở Việt Nam ......................................................................................9
Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................17
2.1. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................17
2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................17
2.3. Nội dung nghiên cứu.............................................................................17
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................18
2.4.1. Phương pháp điều tra .....................................................................18
2.4.2. Xử lý số liệu ...................................................................................21
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU
VỰC NGHIÊN CỨU ..................................................................24
3.1. Điều kiện tự nhiên.................................................................................24
iii
3.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích.....................................................24
3.1.2. Địa hình..........................................................................................24
3.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng ..................................................................25
3.1.4. Khí hậu, thuỷ văn ...........................................................................26
3.1.5. Tài nguyên Rừng............................................................................27
3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ......................................................................28
3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động ...........................................................28
3.2.2. Thực trạng kinh tế ..........................................................................28
3.2.3. Cơ sở hạ tầng..................................................................................29
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .........................31
4.1. Hiện trạng thảm thực vật.......................................................................31
PHỤ LỤC ......................................................................................................78
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ được viết tắt
Chữ viết tắt
Đường kính ngang ngực (cm)
D1.3
Chiều cao vút ngọn (m)
Hvn
Mật độ (cây/ha)
N
Tái sinh tự nhiên
TSTN
Chương trình phát triển liên hợp quốc
UNDP
Bảng 4.6. Hệ số tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cây bụi tại khu vực
nghiên cứu.....................................................................................49
Bảng 4.7. Hệ số tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cỏ tại khu vực
nghiên cứu.....................................................................................51
Bảng 4.8. Số lượng cây Dó, Trám, Bứa, Re và Kháo TSTN trong các OTC......52
Bảng 4.9.Tỷ lệ cây tái sinh theo cấp chiều cao tại các địa điểm nghiên cứu...55
Bảng 4.10. Phương trình biểu diễn hàm Mayer tại 4 địa điểm nghiên cứu .....56
Bảng 4.11. Trị số quan sát và lý thuyết tỷ lệ (%) phân bố cây tái sinh theo
chiều cao tại các địa điểm nghiên cứu..........................................56
Bảng 4.12. Phân bố cây tái sinh trên mặt đất trong các trạng thái thảm
thực vật tại khu vực nghiên cứu ...................................................58
Bảng 4.13. Sinh trưởng chiều cao (m) của các loài cây tái sinh tại khu vực
nghiên cứu.....................................................................................61
Bảng 4.14. Lượng tăng trưởng hàng năm (m/năm) của các loài cây tái
sinh tại khu vực nghiên cứu..........................................................62
Bảng 4.15. Tổng hợp số loài, mật độ, chất lượng, nguồn gốc và tổ thành
cây tái sinh của các trạng thái thảm thực vật tại khu vực
nghiên cứu.....................................................................................65
vii
DANH MỤC CÁC ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
Ảnh 1: Rừng thứ sinh tại khu vực nghiên cứu .................................................48
Ảnh 2: Thảm cây bụi tại khu vực nghiên cứu ..................................................50
Ảnh 3: Thảm Guột tại khu vực nghiên cứu......................................................51
Ảnh 4: Cây Dó tái sinh tại khu vực nghiên cứu ...............................................53
Đồ thị 1. Tỷ lệ cây tái sinh theo cấp chiều cao tại các địa điểm
nghiên cứu.....................................................................................55
Đồ thị 2. Đường biểu diễn trị số quan sát và trị số lý thuyết tỷ lệ cây
xã hội ở mỗi nước, mỗi vùng.
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt
đới. Tuy nhiên, rừng nhiệt đới là một đối tượng hết sức đa dạng và phức tạp,
2
trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một điểm, một vùng
hay một khu vực nhất định nào đó. Vì vậy, tái sinh tự nhiên vẫn đang là nội
dung cần được tiếp tục nghiên cứu.
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 các nhà Lâm nghiệp Việt Nam đã áp
dụng các giải pháp này để xúc tiến tái sinh rừng. Nhưng các công trình nghiên
cứu thường tập trung vào một số đối tượng loài cây gỗ trong rừng tự nhiên để
phục vụ các mục đích kinh doanh, tức là tái sinh trong môi trường rừng có
sẵn. Các công trình nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng
trong điều kiện rừng tự nhiên bị phát trắng do canh tác nương rẫy và khai thác
kiệt quá mức hiện nay còn ít.
Do đó, về mặt lý luận các giải pháp kỹ thuật Lâm sinh phục hồi rừng
sau khai thác kiệt cần tiếp tục được bổ xung.
Vườn quốc gia Tam Đảo thuộc Tổng cục Lâm nghiệp- Bộ Nông nghiệp
phát triển nông thôn, có tổng diện tích là 34.995 ha nằm trên địa phận 3 tỉnh:
Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang, trong đó tỉnh Vĩnh Phúc có
16.499,3 ha. Đây là một địa điểm thuận lợi cho việc nghiên cứu quá trình tái
sinh tự nhiên, xây dựng các mô hình phục hồi rừng.
Với những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên
một số trạng thái rừng thứ sinh tại Vườn quốc gia Tam Đảo - tỉnh Vĩnh
Phúc” là rất cần thiết và có ý nghĩa.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần xúc tiến quá trình tái sinh tự nhiên một số trạng thái rừng thứ
sinh tại Vườn quốc gia Tam Đảo và đề xuất giải pháp lâm sinh, thúc đẩy
nhanh quá trình diễn thế và nâng cao chất lượng của rừng phục hồi.
1.1. Khái niệm và định nghĩa về tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái
tạo, hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm
chí cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên. Cùng với thuật ngữ này, còn có
nhiều thuật ngữ khác đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Jordan, Peter và
Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “ Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp
lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên.
Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilation”
để chỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái...
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà
khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng.
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia 3 mức độ tái sinh như sau:
- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo
giống trực tiếp.
- Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống được con người tạo ra bằng cách
trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ tạo ra nguồn hạt cho
quá trình tái sinh tiếp theo.
- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên.
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [20], tái sinh là một quá trình sinh học
mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng
là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh
rừng. Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già
cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành
phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Ông cũng khẳng định tái sinh
rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng.
5
Bàn về vai trò của lớp cây tái sinh, Trần Xuân Thiệp (1996) [44] cho
dày rậm của thảm tươi, khả năng phát tán hạt... Trong đó ánh sáng (thông qua
độ tàn che của rừng) là nhân tố được đề cập nhiều nhất và được coi là nhân tố
chủ đạo đóng vai trò điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên [2], [33], [61].
P.W. Richards [33] đưa ra nhận xét rằng ở rừng nhiệt đới có sự phân bố
số lượng cây trong các tầng rất khác nhau. Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầng
trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít thậm chí vắng mặt ở những tầng
thấp hay cấp thể tích nhỏ. Ngược lại, ở những rừng đơn ưu như rừng Mora
gongifi ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon
ở Borneo lại có đầy đủ đại diện ở các lớp kích thước. Theo tác giả thì sự phân
bố này là do đặc tính di truyền của các loài cây, được thể hiện ở khả năng sinh
sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển. Ông cũng cho rằng,
sự thiếu hụt ánh sáng trong rừng mưa nhiệt đới ảnh hưởng chủ yếu đến sự
phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của mầm non
thường không rõ.
H. Lamprecht (1989) [61] căn cứ vào nhu cầu sử dụng ánh sáng trong
suốt đời sống của các loài cây, ông đã phân chia rừng nhiệt đới thành các
nhóm cây ưa sáng, nhóm cây nửa chịu bóng và nhóm cây chịu bóng.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta đều nhận thấy rằng: tầng cỏ và
cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nhân tố dinh dưỡng khoáng của
tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, do đó thảm cỏ
và thảm cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái
sinh không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác
thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là
nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Nguyễn Văn Thêm, 1992) [41].
Phân chia các giai đoạn trong tái sinh tự nhiên đã được đa số các nhà
nghiên cứu thống nhất cho rằng, cần phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng
7
8
Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard
(1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết
bổ xung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh
rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại
nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá
trị kinh tế, do vậy phải đề ra các biện pháp lâm sinh cần thiết để bảo vệ và phát
triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [10].
Trong nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới, nhiều nhà lâm học
còn đặc biệt quan tâm tới các phương thức tái sinh của các loài cây mục đích.
Thứ tự của các bước xử lý cũng như hiệu quả của từng phương thức đối với
tái sinh rừng tự nhiên được G. Baur (1976) tổng kết khá đầy đủ trong tác
phẩm “ Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” [2].
Các nhà nghiên cứu đều có chung một quan điểm thống nhất là: Các chỉ
tiêu đánh giá tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc
tuổi, đặc điểm phân bố và thời kỳ tái sinh rừng.
Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây
gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards,
1933; 1939; Aubréville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert,1954; Joné,
1955 - 1956; Schultz, 1960; Baur, 1946; Rollet, 1969).
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài
cây có giá trị nên trong thực tiễn lâm sinh người ta chỉ tập trung khảo sát
những loài cây mục đích có giá trị kinh tế nhất định.
Để xác định mật độ cây tái sinh người ta dùng các phương pháp khác
nhau. Lowdermilk (1927) đề xuất phương pháp điều tra theo ô dạng bản (có
diện tích từ 1 - 4m2, hoặc ô có kích thước lớn từ 10 - 100m2), điều tra theo dải
ô hẹp với ô có kích thước từ 10 - 100m2. Povarnixbun (1934), Yurkevich
(1938) đề nghị điều tra trong các ô hệ thống có diện tích từ 0,25 - 1,0ha.
10
loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ. Sự phân bố cây tái
sinh rất không đồng đều, số cây mạ (cấp H < 20cm) chiếm ưu thế rõ rệt so với
số cây ở các cấp tuổi khác. Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có
khuynh hướng lan tràn và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Trong khi đó
các loài cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp và phân
bố tản mạn. Thậm chí một số loài hoàn toàn vắng bóng ở thế hệ sau trong
những trạng thái tự nhiên. Trong thành phần cộng tác tái sinh, tác giả cũng
cho rằng bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sự sống
chung của những cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ. Dựa vào
thành phần loài cây mục đích chất lượng cây con, tác giả đã xây dựng biểu
đánh giá tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới theo tiêu chuẩn 5 cấp dựa theo số cây
non/ha: rất tốt (>12.000 cây/ha), tốt (8.000-12.000 cây/ha), trung bình (4.0008.000 cây/ha), xấu (2.000-4.000 cây/ha), rất xấu (
nhiên dưới tán rừng có thể được biểu diễn bằng hàm toán học. Qua nghiên
cứu cho thấy ở diện tích nhỏ (1x1m), (2x2m) phần lớn cây tái sinh tự nhiên ở
12
vùng sông Hiếu (Hà Tĩnh) có phân bố cụm, ở trạng thái rừng trung bình
(IIIA2) cây tái sinh có phân bố Poisson.
Trần Đình Lý và các cộng sự (1995) [24], [25] nghiên cứu tái sinh tự
nhiên thảm thực vật rừng tại đảo Kế Bào, Lâm trường Hoành Bồ (Quảng
Ninh). Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên, diễn thế của thảm thực vật trên
đất sau nương rẫy tại Chiềng Sinh (Sơn La). Kết quả nghiên cứu đã đề xuất
quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên. Kết quả đề tài xây dựng quan
niệm về phục hồi rừng và cơ sở lựa chọn đối tượng khoanh nuôi phục hồi
rừng dựa trên kết quả nghiên cứu ở các vùng sinh thái.
Trần Xuân Thiệp (1996) [44] căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây
dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (theo hệ thống phân loại
của Loschau 1961-1966): tốt, trung bình, xấu. Phân cấp chiều cao cây tái sinh
để điều tra gồm 6 cấp: (I): < 50cm; (II): 50-100cm; (III): 100-150cm; (IV):
150-200cm; (V): 200-300; (VI): > 300cm. Về phân bố số cây tái sinh theo cấp
chiều cao có sự tương đồng giữa các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm
Mayer từ cấp I-V ( ≤ 300cm), cấp VI có chiều cao > 300cm do tính cộng dồn
đến các cây có chiều cao tương ứng với đường kính dưới 10cm nên không thể
hiện quy luật này nữa.
Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1995) [40] cũng đã đưa ra kết luận tương tự
về quy luật phân bố này đối với lớp cây tái sinh tự nhiên ở vùng núi cao
Phanxiphăng.
Lâm Phúc Cố (1996) [8] nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Púng
Luông, Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luận
diễn thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừng
cao đỉnh. Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạn phát triển, từ 4 loài ở giai
Tóm lại, trong quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp tự nhiên
nguyên sinh hay thứ sinh có hai phương thức:
14
- Thứ nhất, đó là phương thức tái sinh liên tục dưới tán rừng kín rậm
của những loài cây chịu bóng mọc chậm. Phương thức tái sinh này thường
thưa thớt và yếu ớt vì thiếu ánh sáng. Chỉ một số ít cây thoát khỏi giai đoạn
đầu, còn lại đa số phải qua giai đoạn ức chế kéo dài chờ cơ hội vươn lên tầng
cao khi có điều kiện sinh thái thích hợp.
- Thứ hai là phương thức tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống
trong tán rừng của các loài cây ưa sáng mọc nhanh. Dưới tán kín hay thưa của
chúng, những loài cây định vị trong thành phần xã hợp cũ thường đòi hỏi
bóng trong 1-2 năm đầu, sẽ mọc sau và dần dần vươn lên thay thế những loài
cây tiên phong tạm thời có tuổi thọ ngắn. Những cây tiên phong sẽ tự tiêu
vong, hoặc sẽ bị tiêu diệt bởi tán kín rậm của các loài cây định vị mọc sau, chỉ
trừ một số ít loài cây tiên phong định cư có tuổi thọ dài có thể tồn tại trong
thành phần của các xã hợp đã tái sinh tự nhiên.
Yếu tố chủ đạo đối với quá trình tái sinh dưới tán rừng là ánh sáng, còn
đối với quá trình tái sinh trên các lỗ trống là mức độ thoái hoá của đất.
Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản
lý rừng bền vững theo mục tiêu đề ra, tiết kiệm được thời gian, tiền của chỉ
khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất qui luật của hệ sinh thái rừng, trước hết
là quá trình tái sinh tự nhiên [23], [24].
Qua tổng quan nghiên cứu được trích dẫn ở trên cho thấy:
Hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các
trạng thái rừng tự nhiên (số lượng, mật độ cây tái sinh, đặc điểm lớp cây tái
sinh và vai trò của ánh sáng đối với quá trình tái sinh tự nhiên) mà chưa đề
cập đến tái sinh ở các trạng thái thực bì khác nhau như: thảm cỏ, thảm cây
bụi, rừng thứ sinh nhân tác (rừng sau nương rẫy, sau khai thác kiệt). Đây là
Bồ hòn, Xoan, Dâu tằm…
16
Theo Đỗ Đình Tiến (2001) [48], Vườn quốc gia Tam Đảo có 8 kiểu
rừng và thực bì là: rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng
kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng
phục hồi sau nương rẫy và sau khai thác, rừng trồng, thảm cây bụi và thảm cỏ.
Về quá trình tái sinh, diễn thế và phục hồi rừng: Lê Đồng Tấn (2008)
cho thấy quá trình diễn thế tại khu vực Đông Nam Vườn quốc gia Tam Đảo
và xã Ngọc Thanh huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc trải qua các giai đoạn từ
trảng cỏ đến trảng cây bụi, rừng thứ sinh, rừng thứ sinh trưởng thành và cuối
cùng là rừng cực đỉnh.
Liên quan đến nội dung nghiên cứu, còn có một số công trình nghiên
cứu ở các vùng phụ cận như: đặc điểm về cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi sau
nương rẫy và đặc điểm tái sinh các trạng thái rừng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên (Đặng Kim Vui - 2002, 2008 [55], [56]), về khả năng phục hồi
rừng tự nhiên sau nương rẫy tại khu phòng hộ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên
(Trần Thị Thu Hà - 2008 [15]); v.v...
17
Chương 2
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Do kinh phí và nhân lực có hạn nên đề tài chỉ chọn nghiên cứu diện
tích rừng và đất rừng thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo quản lý ở các xã: Đạo
Trù, Đại Đình, Minh Quang (huyện Tam Đảo) và xã Trung Mỹ ( huyện Bình