MỞ ĐẦU
1.Mục đích,ý nghĩa của đề tài.
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đặt ra cho đất
nước chúng ta rất nhiều vấn đề cần giải quyết.Thành phố Hà Nội cũng là một
trong nhũng thành phố lớn đất nước cũng đặt ra cho mình một trong những vấn
đề cần giải quyết hiện nay là việc quy hoạch đô thị.
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu chúng tôi đã thấy rõ mục đích và ý
nghĩa của đề tài và thiết thực của quá trình đô thị Hà Nội hiện nay qua đó hiểu
rõ thêm quá trình đô thị hóa ở Hà Nội là tổ chức không gian sống cho các đô thị
và các khu vực đô thị. Nó là nghệ thuật sắp xếp tổ chức các không gian chức
năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị trên cơ sở các điều tra, dự báo,
tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu cầu và nguồn lực của đô thị, nhằm
cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phát sinh trong
quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, và hướng tới sự phát triển
bền vững. Các không gian đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng
xã hội đô thị cần được quy hoạch phù hợp với phát triển tổng thể kinh tế - xã
hội- môi trường.
2.Nhiệm vụ nghiên cứu.
Qua việc nghiên cứu ta phải thấy rõ nhiệm vụ cần làm là công tác quy
hoạch nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, trước
tiên là cụ thể hóa chiến lược phát triển của đô thị đối với nền kinh tế quốc dân.
Tất cả các đô thị đều phải có quy hoạch: quy hoạch cải tạo và quy hoạch xây
dựng phát triển đô thị. Các đồ án quy hoạch được duyệt là cơ sở pháp lý để quản
lý xây dựng đô thị, tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng cơ bản. Ở Việt
Nam, theo quy định của bộ xây dựng thực thi đồ án quy hoạch xây dựng đô thị
bao gồm các giai đoạn sau: quy hoạch vùng lãnh thổ , quy hoạch chi tiết đô thị,
quy hoạch chi tiết cụm công trình ,thiết kế xây dựng công trình.
1
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở
HÀ NỘI HIỆN NAY.
1.1 Định nghĩa đô thị.
Đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con
người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Các đô thị có thể là thành
phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng phạm vi này thông thường không
mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng,xã,ấp.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo
đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở
rộng đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị.
Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn
bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên
hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công
ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị
cốt lõi là thị trường lao động chính. Thật vậy, các đô thị thường kết hợp và phát
triển như trung tâm hoạt động kinh tế dân số trong một vùng đô thị lớn hơn.
Các vùng đô thị thường thường được định nghĩa bằng việc sử dụng
các quận (như ở Hoa Kỳ) hoặc các đơn vị chính trị cấp quận làm đơn vị nền
tảng. Quận có chiều hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch..
Các đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính toán việc sử
dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư .
1.2 Định nghĩa quy hoạch đô thị.
Quy hoạch đô thị, còn gọi là quy hoạch không gian đô thị là việc nghiên
cứu có hệ thống các phương pháp để bố trí hợp lý các thành phần của đô thị, phù
hợp với nhu cầu của con người và điều kiện tự nhiên, đồng thời đề ra những giải
pháp kĩ thuật để thực hiện các phương pháp bố trí đó.
Quy hoạch đô thị là môn khoa học tổng hợp liên quan đến nhiều ngành
Quy hoạch vùng lãnh thổ.
Quy hoạch chi tiết đô thị.
Quy hoạch chi tiết cụm công trình.
Thiết kế xây dựng công trình.
4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở HÀ NỘI
HIỆN NAY.
2.1.Quy hoạch đất ở Hà Nội.
Quản lý sử dụng đất hiệu quả là điều kiện quan trọng nhằm đảm bảo điều
kiện sống tốt nhất cho người dân ,cơ sở cho các hoạt động kinh tế cạnh tranh và
tính bền vững về môi trường.Khi phân bổ cho các mục đích khác nhau cần cân
nhắc tới mục tiêu kinh tế - xã hội như: dân số và việc làm, điều kiện thổ
nhưỡng,những vấn đề về môi trường,cấu trúc không gian của thành phố,các chỉ
tiêu về sử dụng đất.Quản lý và phát triển sử dụng đất là cơ sở để phát triển đô thị
hiệu quả.Việc cấp đất đô thị công bằng và thông suốt là yếu tố quan trọng để
thành phố phát triển mạnh mẽ và bền vững.
2.1.1. Đất ở đô thị Hà Nội.
Đất ở đô thị Hà Nội là đất xây dựng các công trình nhà ở các loại. Việc tổ
chức hợp lý khu đất ở đô thị có ý nghĩa quyết định đến đời sống nhân dân đô
thị , đến môi trường và khung cảnh sống đô thị. Trước đây đất ở đô thị được coi
là những đơn vị ở tiểu khu được tổ chức theo một nguyên lí cứng nhắc và đồng
đều trong một cuộc sống đô thị. Quan niệm bình quân và đồng đều trong việc
phân chia, quản lí đất đai xây dựng nhà ở đã dẫn đến tình trạng ổn định trong
cấu trúc đô thị và hình thức tổ chức không gian kiến trúc các khu ở. Đất ở đô thị
Hà Nội là phạm vi đất đai xây dựng các công trình nhà ở, các công trình phục vụ
công cộng thiết yếu hàng ngày, các cửa hàng dịch vụ tư nhân, tập thể hoặc nhà
nước gắn liền với công trình nhà ở có quy mô nhỏ dọc theo các đường phố nội
+ Các công trình dịch vụ công cộng xây dựng ở các khu trung tâm thành
phố, quận. khu nhà ở lớn, các khu vực nghỉ ngơi, các trung tâm chuyên ngành
khác ( y tế, giáo dục, khoa học...)
Đất xây dựng các công trình công cộng trong khu dân dụng Hà Nội là
những khu đất dành riêng cho các công trình dịch vụ công cộng cấp thành phố,
cấp quận và khu nhà ở về các mặt văn hóa, chính trị, hành chính, xã hội…
6
Các công trình này trực tiếp phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày ở đô thị,
xây dựng tập trung hoặc phân tán trong khu dân dụng tùy theo yêu cầu và chức
năng dịch vụ. Các công trình xây dựng ở trung tâm TP là những cửa hàng lớn,
xây dựng tập trung hoặc phân tán trong khu trung tâm cùng với các công trình
trung tâm khác của toàn đô thị. Các công trình dịch vụ công cộng xây dựng ở
các khu trung tâm TP, quận, khu nhà ở lớn, các khu nghỉ ngơi, các trung tâm
chuyên ngành khác (y tế, giáo dục, khoa học….)
2.1.3. Đất đường và quảng trường Hà Nội.
Đất đường và quảng trường Hà Nội chúng ta phải quy hoạch mạng lưới
giao thông nối liền các bộ phận chức năng với nhau thành một thể thống nhất.
Không gian đường bao gồm các tuyến đường cho xe chạy, các lối đi và trang
thiết bị dọc đường như vỉa hè, cây xanh, quảng trường. Đây là những không gian
công cộng do thành phố quản lí và xây dựng.
Quy hoạch đất đường và quảng trường Hà Nội trong khu dân dụng tạo
mạng lưới giao thông nối liền các bộ phận chức năng với nhau thành một thể
thống nhất. Đường trong khu dân dụng cũng là ranh giới cụ thể phân chia các
khu đất trong khu dân dụng thành các đơn vị ở, các khu ở và các khu công cộng.
Không gian đường bao gồm các tuyến đường cho xe chạy, các lối đặc điểm và
trang thiết bị dọc đường như vỉa hè, cây xanh quảng trường. Đây là những
không gian công cộng đô thị thành phố quản lý và xây dựng .Tạo không gian
Trung tâm để phát triển ổn định lâu dài. Cần dựa vào hệ thống các đô thị vệ tinh
và đối trọng trong Vùng để giảm sức ép lên Thành phố Trung tâm...
Sông Hồng là một thắng cảnh đẹp của Thủ đô, cần phải được nghiên cứu
bài bản, đồng bộ và toàn diện, gắn với tổng thể chung của Thủ đô. Khai thác yếu
tố cây xanh - mặt nước - văn hoá làm bật lên trục không gian chính của Thủ đô
gắn với trục Cổ Loa - Hồ Tây tạo thành trọng tâm bố cục không gian cho mặt
bằng thành phố. Hình thành hệ thống trung tâm công cộng lớn cả phía Bắc và
phía Nam sông Hồng trong một tổng thể chung thống nhất. Xác định các khu
vực đặc thù của Thủ đô như: phố cổ, phố cũ, Hồ Tây - Hồ Gươm - Thành Cổ Sông Hồng - Cổ Loa, các làng nghề truyền thống… để khoanh vùng kiểm soát
phát triển và giữ được nét đặc trưng văn hoá riêng của Hà Nội. Hệ thống cây
8
xanh công viên cũng cần được hình thành và xác định rõ trên cơ sở các công
viên nội đô, công viên ven đô, kết hợp với vành đai xanh tạo thành các nêm cây
xanh đưa sâu vào Thành phố Trung tâm.
2.2.Quy hoạch kiến trúc Hà Nội.
Lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa phong phú đã giúp Hà Nội có được
kiến trúc đa dạng và mang dấu ấn riêng. Nhưng sau một thời gian phát triển
thiếu quy hoạch, thành phố hiện nay tràn ngập những ngôi nhà ống trên các con
phố lắt léo, những công trình tôn giáo nằm sâu trong các khu dân cư, những cao
ốc bên các khu phố cũ, những cột điện chăng kín dây... nhưng thiếu vắng không
gian công cộng. Năm 2010, Hà Nội lập Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ
đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 cho một thành phố 9,1 triệu
dân vào năm 2030 và trên 10 triệu người vào năm 2050. Về mặt kiến trúc, có thể
chia Hà Nội ngày nay thành bốn khu vực: khu phố cũ, khu thành cổ, khu phố
Pháp và các khu mới quy hoạch.
Hình ảnh Hà Nội
2.2.1.Khu phố cổ Hà Nội
một số tấm bia đá có từ năm 1856; hoặc ngôi nhà số 87 phố Mã Mây có kiến
trúc đẹp với những bày trí vật dụng mang phong cách Á Đông...
Việc trùng tu và bảo tồn khu phố cổ Hà Nội hiện đang khiến các nhà
chức năng băn khoăn bởi trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đã có nhiều ngôi nhà,
công trình xuống cấp cần phải sửa sang, trùng tu lại. Tuy nhiên, theo ông
Nghiêm, vẫn chưa thấy phương án trùng tu phổ cổ nào phù hợp, mặc dù Hà Nội
10
đã mời rất nhiều nước tham gia, hoặc là tự nguyện hoặc là hợp tác, như
Australia, Nhật, Pháp, Thụy Điển…
Theo số liệu của Ban Quản lý khu phố cổ Hà Nội, hiện thành phố có gần
1.100 ngôi nhà có giá trị cần phải trùng tu, sửa chữa với khoảng 15.000 hộ gia
đình sinh sống. Trong số các công trình nhà ở phố cổ có trên 20% nhà mới;
63,1% nhà xuống cấp; 11,7% nhà hư hỏng; 5,1% nhà không đủ điều kiện sinh
sống.
Hiện nay, một trong những khó khăn lớn của Hà Nội là phải nâng cấp,
trùng tu các ngôi nhà này như thế nào trong khi tổng thể các ngôi nhà mọc san
sát, liền kề nhau. Mặt khác, vấn đề sửa chữa, nâng cấp khu phố cổ Hà Nội phải
tính đến việc bảo vệ các di tích văn hoá, lịch sử, cách mạng nằm liền kề với các
ngôi nhà cổ bởi khi sửa chữa ngôi nhà này sẽ ảnh hưởng tới kiến trúc và kết cấu
của các di tích lịch sử kề cận.
Để giữ gìn khu phố cổ, vấn đề đáng quan tâm là phải đảm bảo điều kiện
dân sinh, đảm bảo điều kiện sống cho người dân. Một vấn đề đặt ra hiện nay,
nhiều người dân đã ở đây 30 - 40 năm, phải sống trong cảnh chật hẹp nhưng vẫn
không chịu chuyển đi nơi khác vì cuộc sống của họ còn gắn liền với việc buôn
bán, kinh doanh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân giải thích vì sao mà
thành phố Hà Nội có chủ trương di dân đến nơi khác để trùng tu, nâng cấp phố
cổ nhưng tiến độ thực hiện còn chậm và chưa đồng bộ.
nhiều hoạt động văn hóa.
Ngày 31 tháng 7 năm 2010, tại kỳ họp lần thứ 34 tại Brasilia, thủ đô
của Brasil, Ủy ban di sản thế giới của UNESCO đã công nhận khu Trung tâm
Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới dựa trên 3 tiêu chí:
Chiều dài lịch sử văn hóa, tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm
quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú. Sáng 1 tháng 10 năm
2010, trong buổi khai mạc Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Tổng Giám
đốc UNESCO Irina Bokova đã trao bằng Di sản văn hóa thế giới khu Trung tâm
Hoàng thành Thăng Long cho lãnh đạo Thành phố Hà Nội.
12
2.2.3 Khu phố Pháp
Năm 1883, người Pháp bắt đầu lên kế hoạch xây dựng lại thành phố. Dựa
trên các khu phố Hà Nội vốn có, những kiến trúc sư người Pháp vạch thêm các
con đường mới, xây dựng các công trình theo hướng thích nghi với môi trường
sở tại, tạo nên một phong cách ngày nay được gọi là kiến trúc thuộc địa. Khu
vực đô thị do người Pháp quy hoạch và xây dựng gồm ba khu: nhượng địa,
thành cũ và nam hồ Hoàn Kiếm, ngày nay mang tên chung là khu phố cũ, hay
khu phố Pháp.
Khu nhượng địa mang hình chữ nhật được giới hạn bởi các con phố Bạch
Đằng, Tràng Tiền, Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Nguyễn Huy Tự hiện
nay. Vốn là đồn thủy quân của Hà Nội cổ, đến năm 1875, khu vực này được
nhượng lại cho quân đội Pháp xây doanh trại, dinh thự và bệnh viện. Những
công trình kiến trúc ở đây có mái lợp ngói đá đen, hành lang xung quanh, nhà
cuốn hình cung. Dinh thự Tổng tham mưu trưởng quân Pháp, ngày nay là Nhà
khách Bộ Quốc phòng xây dựng trong khoảng thời gian 1874 đến 1877. Bệnh
viện Lanessan, hiện là Quân y viện 108 và Bệnh viện Hữu Nghị, khánh thành
năm 1893. Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng
Hiện những nhà tập thể lắp ghép đang dần được thay thể bởi các chung cư mới.
Cuối thập niên 1990 và thập niên 2000, nhiều con đường giao thông
chính của Hà Nội, như Giải Phóng, Nguyễn Văn Cừ, Láng Hạ, Ngọc Khánh,
Thái Hà, được mở rộng. Các khách sạn, cao ốc văn phòng mọc lên, những khu
đô thị mới như Khu đô thị mới Nam Thăng Long, bắc Thăng Long, Du lịch Hồ
Tây, Định Công, Bắc Linh Đàm... cũng dần xuất hiện. Khoảng thời gian gần
đây, khu vực Mỹ Đình được đô thị hóa nhanh chóng với hàng loạt những ngôi
nhà cao tầng mọc lên. Tuy vậy, các khu đô thị mới này cũng gặp nhiều vấn đề,
như công năng không hợp lý, thiếu quy hoạch đồng bộ, không đủ không gian
công cộng. Trong trận mưa kỷ lục cuối năm 2008, Mỹ Đình là một trong những
khu vực chịu thiệt hại nặng nề vì nước ngập.
14
2.3.Quy hoạch giao thông Hà Nội.
Trong qui hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ đã xác
định rõ hệ thống giao thông .Thủ đô phát triển theo sơ đồ mạng bao gồm các
tuyến vành đai và các trục hướng tâm với hai chức năng chủ đạo: giao thông đô
thị và giao thông đối ngoại. Tuy nhiên, để việc quy hoạch giao thông Hà Nội đạt
được kết quả như mong đợi cũng còn nhiều khó khăn và những vấn đề cần bàn
luận.
Hệ thống giao thông đô thị Hà Nội mặc dù đã được quan tâm đầu tư xây
dựng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, đang bị quá tải nặng nề trước tốc độ
phát triển kinh tế - xã hội và sự tăng nhanh dân số.
Đất cho giao thông quá ít,thủ đô Hà Nội hiện nay đang đứng trước một
thực trạng là áp lực của sự gia tăng dân số cơ học. Đây là một thách thức lớn với
toàn bộ kết cấu hạ tầng của thành phố trong đó có hệ thống GT đô thị.
Quy hoạch giao thông Hà Nội là đảm bảo kết nối với hệ thống giao thông
khu vực lân cận.Có xe bus chạy qua khu đô thị, có đường xung quanh.Đường
chưa đáp ứng nhu cầu. Trong giai đoạn 1990 - 2010, mức sở hữu xe máy ở Hà
Nội tăng từ 100 lên 600 xe máy/1.000 dân. Đây là mức tăng siêu nhanh trong
điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Hà Nội hiện có khoảng 3,7
triệu xe máy và hơn 400 ngàn ôtô, tốc độ tăng bình quân là 12 – 15%/năm. Tuy
nhiên hiện thành phố chỉ có khoảng 272.370m2 đất dành cho bãi, bến đỗ xe, đạt
khoảng 1 - 1,5% diện tích đất đô thị (trong khi theo yêu cầu phải có từ 4 - 6%
diện tích đất đô thị).
Hệ thống vận tải hành khách công cộng của Hà Nội hiện nay mới chỉ có
xe buýt. Nhưng hệ thống vận tải này đang trong tình trạng quá tải và mới đảm
nhiệm khoảng 8% nhu cầu đi lại của người dân. Theo ông Nguyễn Thủy Trưởng Trung tâm điều hành xe buýt, Tổng Công ty Vận tải Hà Nội: Năm 2001,
bình quân một xe buýt chỉ vận chuyển 119 hành khách /ngày, năm 2005 là 1.095
HK, hiện tại là 1.152 HK đã chạm ngưỡng tối đa. Hệ số sử dụng sức chứa đạt
bình quân toàn mạng là 80%. Đây là mức rất cao (Xinhgapo cũng chỉ đạt 5055%). Giờ cao điểm hệ số sử dụng sức chứa của xe buýt càng cao hơn (bình
quân là 140%), đặc biệt ở các tuyến trục hành lang lên gần 200%.
Các tuyến giao thông đối ngoại cũng chạy qua thành phố làm tập trung
thêm lưu lượng gaio thông gây ùn tắc và mất an toàn giao thông đô thị. Nguyên
16
nhân của những vấn đề này có nhiều, trong đó có công tác quy hoạch và kiểm
soát thực hiện quy hoạch tại các đô thị, kiểm soát vấn đề di dân, quản lí quỹ đất
giao thông đô thị, quản lí phương tiện tham gia giao thông. Chúng ta phải tăng
cường phát triển hệ thống giao thông vận tải hành khách công cộng khối lượng
lớn, tốc độ cao, tổ chức giao thông hợp lí tại các nút giao thông, các tuyến
đường, bảo đảm lưu thông nội đô và tại các cửa ngõ đô thị góp phần giải quyết
tình trạng ách tắc và tai nạn.
Thiếu trầm trọng bến bãi đỗ xe ,trước việc gia tăng phương tiện nhanh
chóng, hiện nay, Hà Nội đang phải đối mặt với tình trạng thiếu trầm trọng bến
bãi đỗ xe. Theo kết quả thống kê, hiện nay có 150 bãi trông giữ xe công cộng
với 27,24ha, chiếm 1,2% diện tích đất đô thị, có công suất phục vụ 9,5 triệu lượt
hóa” một số mục đích sử dụng của những khu qui hoạch, thành phố Hà Nội chưa
có đề cập quy hoạch và lâu dài.
2.4.Quản lý đô thị Hà Nội.
Trong quá trình quản lý đô thị, các cấp chính quyền ở đô thị phải luôn
đương đầu giải quyết những khó khăn như: tình trạng xây dựng hỗn loạn không
tuân thủ qui hoạch, vấn đề cấp thoát nước, thiếu cây xanh, tình trạng thiếu nhà ở
(nhà ổ chuột), nạn ùn tắc giao thông, đường sá xuống cấp, mạng lưới điện quá
18
tải, ô nhiễm môi trường, thiếu công ăn việc làm, thất nghiệp, nghèo đói, tệ nạn
xã hội, gia tăng dân số, trật tự giao thông…
Thực trạng đó bắt nguồn từ các nguyên nhân sau đây: hệ thống pháp luật
chưa đủ để vận hành nền kinh tế thị trường nên nảy sinh nhiều tiêu cực (đô thị là
nơi giáp mặt giữa cung và cầu, nó là hàn thử biểu về tình hình kinh tế, nó rất
nhạy cảm với các chính sách kinh tế vĩ mô). Luật pháp về đô thị chưa đủ, chưa
đồng bộ, pháp chế chưa nghiêm.
Cơ sở hạ tầng của đô thị lạc hậu, không đồng bộ, xuống cấp nghiêm
trọng làm phát sinh những hậu quả xấu. Công tác tổ chức và quản lý đô thị chưa
khoa học, chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác qui hoạch đô thị tiến hành
chậm, chưa đồng bộ. Chưa phân biệt được quản lý đô thị và quản lý nông thôn
(điều này thể hiện trong công tác tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, trình độ
cán bộ…).
Trước thực trạng như vậy, công tác quản lý đô thị đòi hỏi phải có những
nét đặc thù riêng: tổ chức quản lý đô thị theo nguyên tắc tập trung thống nhất
cao, tránh tình trạng “cắt khúc”, quản lý đô thị nhất thiết phải theo quy hoạch...
Những người quản lý đô thị kể cả hoạch định các chính sách vĩ mô hay
các viên chức hành chính trong bộ máy chính quyền các cấp của đô thị phải nắm
vững những đặc thù của đô thị để từ đó có những chính sách và những hành
tại nhiều vấn đề bức xúc về rác thải, nước thải, nghĩa trang, cung cấp nước sạch
và vệ sinh môi trường; ...
Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý đô thị của thủ đô Hà Nội, theo
ý kiến của đông đảo các đại biểu tham dự Hội thảo, vấn đề cốt lõi là đổi mới
việc tổ chức bộ máy và xây dựng chức năng, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền
đô thị các cấp trên; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, bằng việc đổi
mới công tác cán bộ; quản lý đô thị bằng pháp luật và cơ chế, chính sách; công
tác cải cách hành chính phải tiến hành đồng bộ, thống nhất; công tác phân cấp
quản lý cần được tăng cường đẩy mạnh và thực hiện công tác quản lý của chính
quyền đô thị hiện đại. Thêm vào đó, trong quá trình quy hoạch thành phố Hà
Nội cần phải có sự tham gia của cộng đồng và có những đánh giá tác động xã
hội, môi trường; cần có chiến lược lâu dài, có công nghệ để tiến hành quy hoạch,
20
có chất vấn giữa cơ quan lập quy hoạch Hà Nội và tổ chức chính trị - xã hội và
minh bạch trong việc lựa chọn cơ quan lập quy hoạch và thẩm định quy hoạch.
21
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ Ở
HÀ NỘI HIỆN NAY.
3.1. Vấn đề quy hoạch sử dụng đất.
Chia nhỏ đất ra để quản lý:
- Khó khăn gặp phải: đó là vần đề thu hồi đất, thúc đẩy tái định cư. Ý
tưởng là người dân cùng hưởng lợi ích và cùng chia sẻ chi phí liệu có thể thực
được không? Theo tôi vấn đề này sẽ rất khó thực hiện vì: nhà đất là vấn đề khá
nhạy cảm, các nhà quy hoạch đã tính toán hết được lợi ích “được hưởng” và chi
phí “chia sẻ” của người dân hay chưa?...Điều này chưa được làm sáng tỏ trong
Cho lên có thể vẫn xảy ra ngập úng. Bản quy hoạch chưa đề cập tới vấn
đề đề xử lý ô nhiễm mỗi khi có mưa xảy ra, ví dụ: xăng dầu do phương tiện giao
thông rơi ra, mòn lốp xe …sẽ theo nước mưa chảy ra các cửa sông, nó chứa rất
nhiều chất gây ô nhiễm.
- Hệ thống thoát nước thải: được đầu tư khá lớn. Quy hoạch đã chú ý
được lượng nước ngầm.
- Môi trường: theo tôi bản quy hoạch nên nói rõ hơn về đánh giá tác động
môi trường. Quy hoạch đã chú ý tới sự phát triển của tương lai→ đây là một
điểm mạnh của dự án. Xây dựng các vành đai xanh, xây dựng môi trường đô thị:
xanh, sạch, đẹp. Có sự kết hợp quy hoạch môi trường với quy hoạch sử dụng
đất, quy môi trường với cac vùng lân cận. Đây là một nội dung của phát triển
bền vững.
- Quản lý chất thải rắn: bản quy hoạch có đưa ra một biện pháp: “chương
trình 3R” đây là một cách rất hay để quản lý chất thải rắn. Cần phải nhân rộng
mô hình này trong cả nước.
Cảnh quan đô thị: mở rộng không gian sông hồ, công viên…tích cực mở
rộng diện tích mặt nước, cây xanh → rất tốt. Nhưng bản quy hoạch cần nên chi
tiết và cụ thể hóa hơn. Và những khu nhà lụp sụp thì sẽ được quy hoạch ra sao?
Thực tế thì cảnh quan của chúng ta vẫn còn bất cập: tồn tại những khu nhà xây
cao quá quy định, xây dựng trái phép…
23
3.5.Một số ý kiến riêng cho quy hoạch đô thị Hà Nội hiện nay.
Ai cũng biết, hiện nay, hầu hết các kế hoạch, quy hoạch đô thị của ta
chỉ mang tính ngắn hạn, đến đâu hay đến đó. Nên dẫn đến nhiều quy hoạch
chồng chéo, dự án này chưa thực hiện xong đã bị "chồng" một dự án khác, mâu
thuẫn và thiếu thống nhất.
Các biện pháp xử lý vi phạm về xây dựng, về trật tự đô thị còn chậm
phải mua nhà với một số tiền "cắt cổ", thế mà lại phải chịu những dịch vụ rất đắt
đỏ do Nhà nước không quản lý được. Các công ty kinh doanh nhà đất luôn
không thực hiện các cam kết của mình khi giá cả thay đổi. Vừa phải ở chung cư
đắt đỏ, lại phải chịu nhiều tốn kém, không tự do, độc lập và thoải mái, thì làm
sao người dân thích vào ở các khu chung cư mới để xoá đi các làng mạc lộn xộn
với mức độ tiêu chuẩn sinh hoạt ở mức thấp như hiện nay, đặc biệt là khu tái
định cư. Và như thế, vấn đề đặt ra là Nhà nước cần quản lý mức thu phí cho phù
hợp với mặt bằng chung, đặt ra một mức giá chung để áp dụng chung
Có lẽ chỉ cần làm được những công việc ấy trong thời gian này đã làm
cho đô thị của chúng ta có bộ mặt mới mẻ và tiến bộ hơn rất nhiều rồi.
25