ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
LÊ ĐẮC THẮNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI
CÂY BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG THÔNG MÃ VĨ
(Pinus massoniana Lamb) Ở LỤC NGẠN - BẮC GIANG
LÀM CƠ SỞ CHUYỂN HOÁ RỪNG THÔNG THUẦN
LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
LÊ ĐẮC THẮNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI
CÂY BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG THÔNG MÃ VĨ
(Pinus massoniana Lamb) Ở LỤC NGẠN - BẮC GIANG
LÀM CƠ SỞ CHUYỂN HOÁ RỪNG THÔNG THUẦN
LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chính vì vậy, với mục tiêu xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài
giữa Thông mã vĩ với các loài cây lá rộng bản địa để phát triển bền vững cả
về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái ở các địa phương thực hiện dự án là
3
một chủ trương đúng đắn. Dự án đã tiến hành trồng một số loài cây bản địa
như Lim xanh (Erythrophleum fordii), Trám trắng (Canarium album), Re
gừng (Cinamomum ilcidioides), Sồi phảng (Lithocarpus fissus), Giẻ cau
(Quecus platycalyx), Kh¸o vµng (Machilus bonii). Kết quả bước đầu cho thấy
các loài cây này đã tỏ ra sinh trưởng khá tốt dưới tán rừng Thông mã vĩ.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đặt ra, việc “Đánh giá khả năng sinh
trưởng của một số loài cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ ở Lục
Ngạn - Bắc Giang làm cơ sở chuyển hoá rừng Thông thuần loài thành rừng
hỗn loài bền vững” là cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa cả khoa học và thực tế
sản xuất hiện nay.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới cho thấy rừng trồng thuần
loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đã
quan tâm nghiên cứu xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài nhằm kinh
doanh rừng theo hướng bền vững, nhất là trong giai đoạn biến đổi khí hậu
toàn cầu hiện nay.
ceder) để tạo ra các lâm phần bền vững có giá trị, các nhà nghiên cứu ở đây
nhận thấy có ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng rừng hỗn giao
với nhau và ảnh hưởng của môi trường tới từng loài cây trồng. Khi nghiên
cứu về trồng rừng hỗn loài, các tác giả trên đều cho rằng việc bố trí các loài
cây trong mô hình rừng trồng hỗn loài thường có ảnh hưởng khá rõ tới sinh
trưởng của chúng tuỳ theo đặc điểm từng loài và cự ly trồng từng cá thể.
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán. Vì thế
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài,
Bernar Dupuy (1995) đã cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn
loài phụ thuộc vào đặc điểm sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây
trong lâm phần [25]. Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng
hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì
cần phải dựa vào đặc điểm sinh thái cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ
qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là
những cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô
hình rừng trồng hỗn loài.
Ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng
nhiều phương thức khác nhau. Tuỳ theo các đối tượng khác nhau là rừng tự
nhiên hay rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 - 15 tuổi hoặc rừng
trồng Keo tai tượng 2 - 3 tuổi mà mở các băng chặt và băng chừa khác nhau.
6
Chiều rộng băng chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng).
Thời gian đưa các loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt
cũng rất khác nhau, từ 1 - 7 năm sau khi mở băng chặt. Các loài cây bản địa
đưa vào trồng trong các băng chặt tương đối phong phú, từ 14- 23 loài cây
Bolstad và cộng sự (1988) [24] cũng đã tìm thấy một vài loại phân bón
mang lại hiệu quả tích cực cho rừng trồng thông P. caribeae ở Colombia như
potassium, phosphate, boron và magnesium. Khi nghiên cứu phân bón cho
trồng rừng thông P. caribeae ở Cu ba, Herrero và cộng sự (1988) [26] cũng
cho thấy bón phosphate nâng cao sản lượng rừng từ 56 lên 69m3/ha sau 13
năm trồng.
Ở Thái Lan từ năm 1969 – 1974 người ta đã nghiên cứu ảnh hưởng của
đất, phân bón và kỹ thuật lâm sinh đến khả năng sinh trưởng của loài Thông
nhựa kết quả cho thấy điều kiện lập địa, phân bón và kỹ thuật trồng có ảnh tới
khả năng sinh trưởng loài cây Thông nhựa [31]. Ở Swaziland cũng đã chọn
được giống Pinus patuna sau 15 năm tuổi trồng thuần loài đạt 19m3/ha/năm
[32].
Điểm qua một vài công trình nghiên cứu trên cho thấy các công trình
nghiên cứu chủ yếu tập chung vào vấn đề ảnh hưởng của phân bón và điều
kiện lập địa nhằm nâng cao năng xuất chất lượng rừng Thông trồng thuần
loài. Các nghiên cứu trên chưa đề cập tới việc phối hợp các loài Thông với
cây trồng khác, đặc biệt là trồng một số loài cây bản địa dưới tán rừng Thông.
1.2. Ở VIỆT NAM
1.2.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa
Ở Việt Nam, vấn đề trồng rừng hỗn loài đã được các nhà khoa học quan
tâm từ rất sớm, điển hình là công trình nghiên cứu của Maurand (người Pháp)
ở Đồng Nai vào những năm 30 của thế kỷ trước, tác giả đã sử dụng các loài
Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và Vên vên
8
(Anisoptera costata) để xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài, cho đến
nay các mô hình này vẫn còn giá trị tham khảo nhất định. Trong giai đoạn
1930-1980 có rất ít các công trình nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài và
Trần Ngũ Phương (2000) [23] cũng đã nghiên cứu xây dựng các mô hình
trồng rừng hỗn loài tạo ra rừng nhiều tầng tán nhằm mục đích cho phòng hộ
và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau như hỗn loài giữa
cây cao với cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao. Căn cứ kết quả của các
công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu ở rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt
Nam, tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều phân thành
nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi. Dựa
trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục
tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn
loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản
xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng.
Một thí nghiệm trồng rừng hỗn loài khác là trồng theo đám ở Trường đại
học Lâm nghiệp (Phạm Xuân Hoàn, 2004) [11], đã sử dụng 165 loài cây bản
địa trồng dưới tán của Thông và Keo, trong đó dưới tán rừng Thông mã vĩ
(Pinus massoniana) là 27 loài, dưới tán rừng Keo lá tràm (Acacia
auriculifomis) là 21 loài, số còn lại trồng dưới tán của trạng thái rừng hỗn
giao Thông mã vĩ với Keo lá tràm, Thông mã vĩ với Keo tai tượng, Bạch đàn
... tỉ lệ sống của các loài cây bản địa dưới tán rừng Thông được đánh giá đạt
93,2% và dưới tán rừng Keo đạt 91,2%. Tăng trưởng thường xuyên và tăng
trưởng bình quân của cây bản địa có sự phân hoá khác nhau khá rõ ràng ở các
loài. Đặc biệt, đáng chú ý một số loài thường được đánh giá sinh trưởng chậm
như: Re hương (Cinnammomun inners), Lim xanh (Erythurophleum fordii)...
nhưng ở giai đoạn còn nhỏ có khả năng chịu bóng tốt dưới tán rừng Thông,
Keo lại sinh trưởng tốt và rất có triển vọng.
Mô hình trồng rừng hỗn loài Keo trắng (Paraserianthes falcataria) và
Lõi thọ (Gmelia arboria) ở Lương Sơn – Hoà Bình cũng đã được Hoàng Văn
Thắng và cộng sự (2005) [18] nghiên cứu và kết quả cho thấy sau nương rẫy,
10
lai (Acacia mangium x Acaccia auriculiformis), Muồng đen (Cassia siamea),
với tỷ lệ hỗn loài là 600 cây bản địa và 1000 cây phù trợ/ha. Tuy nhiên, việc
điều chỉnh tán che của các loài cây phù trợ trong các mô hình rừng trồng hỗn
loài đB cha đợc quan tâm nghiên cứu và điều chỉnh kịp thời nên các loài cây
trồng chính có tỷ lệ sng rt thấp và thờng sinh trởng kộm. Đây cũng là tồn
tại chung của hầu hết cỏc mụ hỡnh trong cỏc d ỏn 327 v 661.
Nghiờn cu phng thc v phng phỏp hn loi cng ang c nhiu
tỏc gi quan tõm. Thc t cho thy cỏc mụ hỡnh rng trng hn loi nc ta
n nay ch yu l ỏp dng theo phng thc trng rng hn loi gia cõy
cao vi cõy cao. in hỡnh l thớ nghim trng rng hn loi theo hng gia
M (Manglietia conifera) vi cỏc loi cõy Lim xanh (Erythurophleum fordii),
X c (Khaya senegalensis), Tch (Tectona grandis) [22]. Trong mt cụng
trỡnh nghiờn cu khỏc trng rng g lng Tõy Nguyờn, Nguyn Xuõn Quỏt
v cng s (1990) ó s dng cõy u trm (Indigofera teysmanii) nh l mt
cõy phự tr cho Tch (Tectona grandis), kt qu cho thy Tch trng xen vi
cõy u trm giai on u sinh trng khỏ tt, hỡnh thõn p v thng, kh
nng phõn cnh ớt. Hn na, c di di tỏn rng trng cng hn ch phỏt
trin hn ni Tch trng thun loi [14]; Nghiờn cu to rng hn loi gia
cõy lỏ kim (Thụng uụi nga) v cõy lỏ rng (Keo lỏ trm v Bch n trng)
Nỳi Lut - Xuõn Mai ca Phựng Ngc Lan (1986) [13]; Nghiờn cu thit
lp rng trng hn loi gia cỏc loi cõy a sỏng Bch n trng (Eucalyptus
camaldu) v Keo lỏ trm (Acaccia auriculiformis) ca Nguyn Hu Vnh v
cỏc cng tỏc viờn (1991-1993) [20]. Hu ht cỏc cụng trỡnh nghiờn cu ny
u ỏp dng phng phỏp trng hn loi theo hng hoc theo bng. Cỏc kt
qu nghiờn cu ca cỏc cụng trỡnh ny cho thy dự c xõy dng theo
phng thc v phng phỏp no thỡ rng trng hn loi u to iu kin
12
13
Hiện nay nhiều đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta đã và
đang được nghiên cứu để chuyển hoá thành rừng hỗn loài khác tuổi, có cấu
trúc ổn định và bền vững hơn thông qua việc đưa thêm một số loài cây mục
đích vào trồng theo các thời điểm khác nhau. Điển hình là dự án trồng rừng
Việt - Đức ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Ban đầu rừng
trồng của dự án ở các tỉnh này là rừng thuần loài Thông mã vĩ, Keo lá tràm,
hoặc Thông mã vĩ xen Keo lá tràm. Sau 7 năm dự án đã thí nghiệm chuyển
hoá rừng Thông mã vĩ thuần loài và rừng hỗn loài Thông mã vĩ xen Keo lá
tràm thành rừng hỗn loài với một số loài cây lá rộng bản địa khác bằng cách
chặt tỉa Thông mã vĩ và Keo lá tràm, mở thành các rạch rộng 6m sau đó đưa
các loài cây lá rộng bản địa vào trồng. Như vậy, xét về thời điểm hỗn loài thì
đây có thể coi là một trong những thí nghiệm điển hình và có tính thực tiễn
cao, phần lớn diện tích rừng trồng của nước ta hiện nay đều là rừng trồng
thuần loài hoặc hỗn loài không bền vững là đối tượng cần được chuyển hoá
thành rừng hỗn loài bền vững nhằm kinh doanh rừng theo hướng ổn định, bền
vững hơn.
1.2.2. Các nghiên cứu về trồng rừng Thông
1.2.2.1. Các loài Thông có giá trị khoa học và kinh tế phổ biến ở Việt Nam
Hiện nay trên Thế giới người ta đã xác định được hơn 100 loài Thông và
ở Việt Nam đã xác định được 33 loài Thông. Tuy nhiên, một số loài có nguy
cơ bị tuyệt chủng cũng như những loài có giá trị kinh tế đã được các nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, điển hình là một số loài sau đây:
* Thông đỏ Lâm Đồng (Taxus wallichiana Zuce; hoặc Taxus baccata
ssp. Wllichiana (Zuce) Pilg); tên gọi khác là Sam hạt đỏ lá dài, hay Thông đỏ
Himalaya; thuộc Họ Thông đỏ: Taxaceae.
Thông đỏ Lâm Đồng là loài cây gỗ lá kim, có kích thước lớn cao tới
30m, đường kính thân cây đạt tới 160cm. Lecomte (1905) đã phát hiện loài
đường kính thân cây đạt tới 150 – 200cm. Thông hai lá dẹt phân bố tự nhiên ở
15
vùng núi cao trung bình và núi cao tại tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hòa với độ cao:
1200 – 1800m so với mực nước biển. Hiện nay ở Khu bảo tồn thiên nhiên
Bidoup, núi Bà có diện tích 10.000ha, là nơi phân bố tự nhiên nhiều Thông
hai lá dẹt.
* Thông nhựa (Pinus merkussi Jungh & de Vries); Còn gọi là Thông hai
lá); thuộc Họ Thông : Pinaceae.
Cây có kích thước tương đối lớn, cao tới 30 – 35m, với đường kính thân
cây đạt tới 60 – 70cm, thân cây thẳng và tròn, vỏ thân cây dầy có mầu nâu đỏ
nhạt, nứt dọc sâu. Cành 1 năm có mầu nâu nhạt, không có phấn trắng nhẵn,
gốc lá hình vẩy tồn tại nâu trên cành. Phân bố nhiều ở Nam Tây Nguyên (tỉnh
Lâm Đồng) trên độ cao thấp hơn 1000m so với mực nước biển, có đặc điểm
khí hậu nhiệt đới. Cây cho nhiều nhựa, được trồng trên diện tích khá rộng ở
các tỉnh từ Bắc vào Nam.
* Thông tre (Podocarpus neriifolius P Don hoặc Podocarpus
annamiensis N Gray); còn gọi là Thông trúc đào; thuộc Họ Kim Giao:
Podocarpaceae.
Cây có kích thước nhỏ, cao khoảng 25m. Phân bố ở độ cao 600 – 1500m
trên núi đất tại các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Thừa Thiên Huế (Bạch mã), Kon Tum (Kôn Plông), Lâm Đồng (Đà Lạt).
Gỗ Thông tre bền, ít mối mọt, dùng làm nguyên liệu đóng tàu thuyền, và
làm đồ gia dụng.
* Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri Foxw, Podocarpus brevifolius
(stapf) Foxw và Podocarpus nerriifolius D.Don var brevifolius stapf); còn gọi
là Thông la hán); thuộc Họ Kim giao: Podocarpaceae.
Cây có kích thước nhỏ, chỉ khoảng 10 – 15m, phân bố trên núi đất, có độ
lá phía trên tròn.
17
Gỗ Thông mã vĩ có lõi và giác phân biệt. Lõi có màu vàng, thớ gỗ thô,
thẳng. Gỗ nhẹ, thường được làm trụ mỏ, làm cột điện, sản xuất giấy, sợi
celluloso.... Nhựa Thông mã vĩ dùng để sản xuất tùng hương và tinh dầu
Thông, phục vụ cho ngành công nghiệp và xuất khẩu.
Hiện nay, rừng Thông mã vĩ được trồng nhiều ở các tỉnh miền Bắc, như:
Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái và Lào Cai...
1.2.2.2. Các nghiên cứu về rừng trồng Thông mã vĩ
Tính đến 2009, diện tích rừng Thông nước ta có khoảng 327.212,3 ha [8]
phần lớn diện tích rừng trồng chủ yếu là trồng thuần loài. Về vấn đề trồng
rừng cho các loài Thông ở nước ta cũng đã được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, có thể điểm qua kết quả của một số công trình nghiên cứu điển
hình như sau:
Các phương thức trồng rừng nói chung trồng Thông mã vĩ nói riêng là
trồng thuần loài hoặc trồng hỗn loài với một số loài cây khác. Theo kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn (2009) [3] rừng Thông
mã vĩ 7 năm tuổi với mật độ để lại 2000 cây/ha hàng năm trả lại cho đất 60,12
kg đạm và 19,54 kg lân, nhưng thực tế khả năng nâng cao độ phì của đất dưới
tán rừng Thông mã vĩ không cao và diễn ra với mức độ tương đối chậm.
Ngoài ra, việc trồng Thông mã vĩ thuần loài thường xẩy ra dịch sâu róm
Thông, đồng thời cũng không hạn chế được nạn cháy rừng Thông trong mùa
khô, đây là những nhược điểm nổi bật của rừng Thông trồng thuần loài đã
được các nhà khoa học khẳng định. Ngoài ra, các tác giả đã đưa ra một số yêu
cầu kỹ thuật trồng rừng Thông mã vĩ từ khâu chọn cây con đến khi trồng rừng
và chăm sóc rừng trồng như sau:
- Về hỗn hợp ruột bầu gồm 75% đất mùn tế guột, 15% đất vườn ươm,
cây có khả năng sinh trưởng tốt nhất dưới tán rừng Thông mã vĩ sau 7 năm
trồng đường kính gốc trung bình đạt từ 6,0cm - 6,4cm, chiều cao vút ngọn đạt
19
từ 4,2m - 4,6m. Ngoài ra, tác giả đã đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây
trồng cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ.
Trường đại học Lâm nghiệp Xuân Mai cũng đã xây dựng vườn sưu tập
vườn thực vật với gần 300 loài cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ
(Pinus massoniana) và Keo tai tượng (Acacia mangium). Sau nhiều năm
nghiên cứu đã tìm ra một số loài cây thích nghi dưới tán rừng như Đinh thối
(Fernandoa brilletii), Máu chó (Knema pierrei), Tai chua (Garcinia cowa),
Re hương (Cinnamomun iners), Long não (Cinnamomun camphora)... (dẫn
theo Lê Minh Cường 2007)[7].
Cũng trên nền tảng rừng Thông mã vĩ và Keo lá tràm tại Núi Luốt, Xuân
Mai, Đỗ Thị Quế Lâm (2003) [12] đã nhận định các loài Lim xanh
(Erythrophleum pordii), Đinh thối (Fernandoa brilletii), Re hương
(Cinnamomun iners), sinh trưởng tương đối tốt dưới tán rừng Thông mã vĩ.
Tuy nhiên, dưới các độ tàn che khác nhau, khả năng sinh truởng của các loài
cây bản địa cũng rất khác nhau.
Qua những nghiên cứu trên cho thấy việc trồng rừng hỗn loài giữa Thông
và cây bản địa, đặc biệt là trồng các loài cây bản địa dưới tán rừng Thông mã
vĩ đã và đang được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Nhiều loài
cây gỗ có giá trị đã được lựa chọn để trồng rừng như: Đinh thối, Lim xanh,
Re hương ...
Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đề cập đến biện pháp kỹ thuật gây
trồng và tác động cụ thể vào tầng cây cao như thế nào, các biện pháp kỹ thuật
gây trồng cây bản địa dưới tán như thế nào. Hơn nữa, chưa thấy có nghiên
cứu nào về trồng cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ ở Lục Ngạn - Bắc
Thông mã vĩ.
21
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Lục Ngạn là huyện trung du miền núi nằm ở phía Đông Bắc của
tỉnh Bắc Giang, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Có toạ độ vị trí địa lý: từ
210 16’ 00’’- 210 34’ 40’’ vĩ độ Bắc và 1060 26’ 30’’- 1060 52’ 00’’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp huyện Hữu Lũng và huyện Chi Lăng của tỉnh Lạng Sơn.
Phía Đông giáp huyện Sơn Động của tỉnh Bắc Giang và huyện Lộc Bình
tỉnh Lạng Sơn.
Phía Tây và Nam giáp huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang.
Trung tâm huyện lỵ nằm cách thành phố Bắc Giang 40 km về phía Đông,
cách Hà Nội 90 km về phía Đông Bắc và cách cửa khẩu Lạng Sơn 120 km về
phía Nam. Có trục đường Quốc lộ 31, 279 và nhiều trục đường tỉnh lộ đi qua,
tương đối thuận lợi cho giao lưu kinh tế với các vùng miền khác.
2.1.2. Địa hình
Lục Ngạn là một bồn địa được bao bọc bởi 2 dải núi lớn là Bảo Đài ở
phía Bắc và Yên Tử, Huyền Định ở phía Nam và Đông Nam. Địa hình chia
thành 2 vùng rõ rệt là vùng cao và vùng thấp.
Vùng thấp bao gồm những dãy đồi bát úp xen kẽ những cánh đồng có độ
cao trung bình từ 100 – 150m so với mực nước biển, độ dốc < 200, rất thuận
lợi cho phát triển cây ăn quả và trồng rừng, đặc biệt là xây dựng những mô
hình vườn rừng, đồi rừng, trang trại lâm nghiệp…
Vùng cao bao gồm những dãy núi có độ dốc trung bình từ 25 – 300, độ
cao trung bình > 300m so với mực nước biển. Vùng này diện tích đất chưa sử
xiết dâng cao vào mùa mưa, gây khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp.
2.1.5. Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng
23
* Hiện trạng sử dụng đất đai
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 101.223,72 ha, trong đó diện tích đất
có rừng là 43.631,4 ha, chiếm 43% diện tích đất tự nhiên. Trong tổng số
43.631,4 ha đất có rừng thì diện tích rừng trồng phòng hộ là 21.419,6 ha
(chiếm 49%), đất trồng rừng sản xuất 22.211,8 ha (chiếm 51%). Diện tích đất
chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp là 14.318,2 ha. Qua đây chúng ta có
thể thấy diện tích đất trống còn lớn, đây là cơ hội và tiềm năng cho phát triển
rừng.
* Thực vật rừng
+ Rừng tự nhiên: Tổ thành loài khá phong phú với trên 100 loài cây gỗ.
Tuy nhiên, do khai thác quá mức và không hợp lý trong nhiều thập kỷ qua
nên hiện nay chỉ còn tập trung chủ yếu tại rừng phòng hộ Cấm Sơn và vùng
cao giáp huyện Sơn Động.
+ Rừng trồng: Các loài cây trồng rừng chủ yếu là những loài cây nhập
nội, sinh trưởng nhanh, cung cấp nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ hoặc làm ván
như Bạch đàn, Thông, Keo…
2.2. ĐIỀU KIỆN DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI
2.2.1. Dân sinh
* Dân số: Dân số toàn huyện là 196.616 người, trong đó có 97.161 nam
( chiếm 49,44%) và 99.355 nữ (chiếm 50,56%) tỷ lệ tăng dân số hàng năm
1,3%.
* Lao động: Với khoảng 85.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm
khoảng 43% tổng dân số, lao động nông lâm nghiệp chiếm 85%, hầu hết là
lao động chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Lục Ngạn là một địa phương
ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh tế, xã hội của huyện, đặc biệt là tư
tưởng trọng nam khinh nữ.
2.2.4. Thu nhập và đời sống
Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc toàn huyện đạt 50.854 tấn/năm
2009, sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 218kg năm 2004 lên
320kg năm 2009. Toàn huyện vẫn còn trên 4000 hộ nghèo, chiếm 10%.
25