1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
ĐỖ TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
TẠI HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Đinh Ngọc Lan
2. PGS.TS Đặng Kim Vui
Thái Nguyên, năm 2011
i
2
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, khoa Sau đại học, thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS. Đinh Ngọc
Lan; PGS.TS. Đặng Kim Vui, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ
chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”.
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp, tôi nhận được sự hướng dẫn tận
trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho
một học vị nào, phần trích dẫn tài liệu tham khảo đều đã được ghi rõ nguồn
gốc.
Thái Nguyên, ngày
tháng
Tác giả
Đỗ Tiến Dũng
năm 2011
iii
4
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 3
2.1. Mục tiêu tổng thể ....................................................................................... 3
2.2. Mục tiêu cụ thể........................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
1.2. Tình hình nghiên cứu PES trên thế giới và Việt Nam.............................. 11
1.2.1. Tình hình nghiên cứu PES trên thê giới................................................ 11
1.2.2. Tình hình nghiên cứu PES ở Việt Nam................................................. 17
1.2.2.1. Về chính sách ..................................................................................... 17
3.1.2.1. Đặc điểm của làng thượng nguồn Nà Lê liên quan đến rừng và canh
tác nông nghiệp ............................................................................................... 67
3.1.2.2. Mối quan hệ của thượng nguồn (làng Nà Lê) và hạ lưu (làngNà Chom)
theo nhận thức của địa phương....................................................................... 69
3.1.2.3. Đặc điểm của làng Chợ Lèng - Trung Lưu liên quan đến rừng và canh
tác nông nghiệp ............................................................................................... 70
3.1.3. Đặc điểm chung của xã Nam Mẫu liên quan đến dịch vụ môi trường rừng
......................................................................................................................... 73
3.1.3.1. Đặc điểm của thôn hạ lưu Pác Ngòi xã Nam Mẫu liên quan đến rừng
và canh tác nông nghiệp ................................................................................. 74
3.1.3.2. Các vấn đề liên quan đến và các điểm nóng được xác định trong bản
Pác Ngòi.......................................................................................................... 75
3.1.3.3. Tình hình sử dụng đất và ảnh hưởng của nó đến nguồn nước của làng
Pác Ngòi.......................................................................................................... 76
3.1.4. Mối quan hệ giữa các làng (thượng và giữa hạ lưu) trong lưu vực sông.. 76
3.2. Xác định người mua tiềm năng và người bán dịch vụ môi trường rừng lấy
kết quả phỏng vấn của Lan và Elizabet........................................................... 77
6v
3.3. Xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng................................... 79
3.3.1. Phạm vi, vị trí danh giới, diện tích, loại rừng theo chức năng rừng và đất
các khu vực có cung cấp DVMT nước lưu vực sông Năng và sông Lèng ..... 79
3.3.2. Hiện trạng giao đất giao rừng, kết quả giao đất giao rừng, cấp giấy
CNQSD đất lâm nghiệp cấp huyện ................................................................. 81
3.3.3. Hoạt động của các dự án lâm nghiệp .................................................... 83
3.3.3.1. Do Lâm Trường Ba Bể triển khai: ..................................................... 83
3.3.3.2. Do vườn Quốc gia Ba Bể triển khai: ................................................. 84
3.3.3.3. Nguồn thu của người dân từ bảo vệ rừng .......................................... 85
Chấn ...................................................................................................... 63
Bảng 3.6: Lược sử thôn Nà Lê, xã Quảng Khê............................................... 67
Bảng 3.7: Lược sử thôn Chợ Lèng, xã Quảng Khê......................................... 70
Bảng 3.8: Những khó khăn về vấn đề nước cho canh tác nông nghiệp của Lang
Chợ Lèng............................................................................................... 71
Bảng 3.9: Lược sử thôn Pác Ngòi xã Nam Mẫu ............................................. 74
Bảng 3.10: Những khó khăn về vấn đề nước cho canh tác nông nghiệp của làng
Pác Ngòi................................................................................................ 75
Bảng 3.11: Diện tích rừng thuộc lưu vực sông Năng...................................... 80
Bảng 3.12: Diện tích rừng thuộc lưu vực sông Lèng...................................... 81
Bảng 3.13: Tổng hợp kết quả đo đạc thành lập bản đồ địa chính, cấp CNQSD
đất lâm nghiệp....................................................................................... 81
Bảng 3.14: Bảng cơ cấu sử dụng đất............................................................... 82
Bảng 3.15: Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Ba Bể .. 82
Bảng 3.16: Nguồn thu và tổng thu nhập từ bảo vệ rừng của các hộ nông dân Ba
Bể .......................................................................................................... 85
Bảng 3.17. Giá trị giữ nước và giữ đất của rừng và hệ số chi trả dịch vụ môi
trường rừng .......................................................................................... 91
8vii
Bảng 3.18. Giá trị giữ đất của rừng phòng hộ và rừng sản xuất và hệ số chi trả
dịch vụ môi trường rừng ....................................................................... 93
Bảng 3.19. Bảng tra hệ số chi trả dịch vụ MTR theo trạng thái rừng và mục
đích sử dụng rừng ................................................................................. 94
Bảng 3.20: Tổng hợp lưu lượng nước về Hồ Tuyên Quang ........................... 95
Bảng 3.21: Sản lượng điện và % lưu lượng nước của hai sông Gâm
và
ix
10
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á
C, CO2 : Các bon, Cácbonnic(cacbondioxit)
CDM: Cơ chế phát triển sạch
CERs: chứng nhận giảm phát thải
CIFOR: Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế
DANIDA: Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch
DVMTR: Dịch vụ môi trường rừng
FSIV: Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
GTZ: Cơ quan Hợp tácKỹ thuật CHLB Đức
ICRAF: Trung tâm Nông Lâm nghiệp thế giới
IDDRI: Viện Phát triển Bền vững và quan hệ quốc tế
IFAD: Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp
IJCA: Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Nhật Bản
IUCN: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
MONRE: Bộ Tài nguyên và Môi trường
MPA: Khu Bảo tồn biển Vịnh Nha Trang
MTR: Môi trường rừng
PES: Chi trả dịch vụ môi trường rừng
PTNT: Phát triển nông thôn
RCFEE: Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng
RCFEE: Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng
RES: Dịch vụ môi trường
RUPES: Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường
UBND: Ủy ban nhân dân
như giảm thiểu khí thải cácbon, bảo vệ lưu vực sông, bảo tồn đa dạng sinh học.
Trọng tâm kế hoạch và dự án của các quốc gia này đều đề cao tính hiệu quả theo
cơ chế thị trường [40]. Tuy nhiên, việc vận dụng một cách cứng nhắc phương
pháp tiếp cận kiểu này ở các quốc gia đang phát triển có thể làm tăng rủi ro về
sinh kế cho người nghèo [37]. Những rủi ro đó có thể không đạt được các mục
tiêu về môi trường bởi hệ thống PES đưa ra không nhận được sự đồng thuận từ
cộng đồng những người không được hưởng lợi từ hệ thống. Vì lý do đó, mặc dù
vẫn còn nhiều tranh cãi liệu PES có đưa ra được các giải pháp hữu hiệu để bảo
tồn môi trường và xóa đói giảm nghèo hay không, vấn đề sinh kế cần phải được
tính đến khi xây dựng cơ chế PES.
Tại Việt Nam, trong hai thập niên qua, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã
chứng kiến những thay đổi đáng kể về chính sách và thực tiễn. Từ mô hình
quản lý rừng tập trung, với mục tiêu trọng tâm là khai thác tài nguyên, đã
2
chuyển đổi thành mô hình lâm nghiệp xã hội hoá, tập trung vào bảo vệ môi
trường, phát triển xã hội và thúc đẩy các doanh nghiệp lâm nghiệp địa phương.
Những thay đổi này thể hiện phản ứng của ngành lâm nghiệp trước suy thoái
tài nguyên rừng và sự kém hiệu quả của hệ thống quản lý rừng tập trung. Kể từ
đầu những năm 1990, thông qua chương trình 327 và sau đó là 5 triệu ha rừng
(chương trình 661) do Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai, đã có một số
lượng lớn các hộ gia đình và cá nhân nhận khoán hoặc được giao rừng, đất
rừng để bảo vệ, trồng rừng, và quản lý dài hạn. Với mức độ tham gia cao của
xã hội trong công tác trồng mới và bảo vệ rừng, độ che phủ rừng tăng từ 28,2%
năm 1995 lên 36,7% năm 2004. Chương trình 661 được đánh giá là đã có
những đóng góp trong việc giảm đói nghèo và cải thiện sinh kế cho khoảng
một triệu người dân Việt Nam [6][5].
Tuy nhiên, chi phí cho hoạt động bảo tồn rừng là một gánh nặng tài chính
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn".
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng thể
- Xây dựng được cơ chế chi trả dịch vụ môi trường và các giải pháp phát
triển dịch vụ môi trường cho huyện Ba Bể.
- Góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát
triển rừng của người dân tại địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và tình hình sản xuất
nông lâm nghiệp của người dân tại Ba Bể
- Làm rõ được mối quan hệ giữa cảnh quan, việc sử dụng đất với dịch vụ
môi trường rừng tại Ba Bể
- Xác định được người cung cấp dịch vụ môi trường rừng, người mua
dịch vụ môi trường rừng và bên trung gian
- Xây dựng được cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con
người và đặc biệt là duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển
bền vững của mỗi quốc gia và sự tồn tại của trái đất. Rừng không chỉ cung
cấp nguyên liệu như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ cho một số ngành sản xuất
mà quan trọng hơn là các lợi ích của rừng trong việc duy trì và bảo vệ môi
trường, đó là hạn chế xói mòn, điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, điều
hoà khí hậu, các giá trị cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học...[12]
Theo kết quả nghiên cứu của S.V.Belop (1976) cho thấy: Mỗi năm sinh
vật quang tổng hợp trên trái đất đồng hóa khoảng 170 tỷ tấn dioxitcarbon (CO2)
Bản chất của hoạt động chi trả dịch vụ môi trường là tạo cơ chế khuyến
khích và mang lại lợi ích cho những người hiện đang sử dụng các hệ sinh thái
có ý nghĩa môi trường để đổi lấy việc họ sử dụng các hệ sinh thái này theo cách
bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường để phục vụ lợi ích của phần
đông dân số.
Với cách làm này thì từng người dân của cộng đồng có thể được hưởng lợi
trực tiếp từ dịch vụ họ mang lại. Nói cách khác, những người cung cấp dịch vụ
môi trường cần phải được chi trả hoặc bồi hoàn cho những gì họ làm để duy trì
chức năng của hệ sinh thái, và những người sử dụng dịch vụ môi trường nên
chi trả cho những dịch vụ này [26].
Một số khái niệm cơ bản
Ở Việt Nam, thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng phổ biến hơn
thuật ngữ dịch vụ môi trường bởi vì dịch vụ môi trường đang được hiểu là theo
nghĩa bảo vệ môi trường như các vấn đề ô nhiễm. Thuật ngữ dịch vụ hệ sinh
thái được sử dụng trong dự thảo Luật Đa dạng sinh học và khung chính sách
thí điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
6
Hơn 10 năm qua, khái niệm chi trả dịch vụ môi trường và các ứng dụng
của nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu môi
trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách trong toàn khu vực
Đông Nam Á. Gần đây sự thành công của Chương trình ‘Chi trả dịch vụ môi
trường cho người dân vùng cao về dịch vụ môi trường mà họ cung cấp RUPES’ tại Việt Nam. Đây là kết quả của sự quan tâm của chính phủ Việt Nam,
cụ thể là của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE)
Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV), Bộ Tài nguyên và Môi trường
(MONRE), và là đóng góp đáng kể của đối tác RUPES, trong đó có Tổ chức
Winrock Quốc tế, Trung tâm Nông Lâm nghiệp thế giới (ICRAF), Trung tâm
Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên
thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ
và lâm sản khác.
Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của
môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân,
bao gồm các loại dịch vụ:
+ Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối.
+ Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội.
+ Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng
nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và
phát triển rừng bền vững.
+ Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh
thái phục vụ cho du lịch.
+ Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng
nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản[18].
Theo công văn về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam của Vụ
trưởng Vụ Nông Nghiệp, Văn phòng Chính phủ Nguyễn Tuấn Phú ngày
01-4-2008 :
8
Môi trường rừng là giá trị sử dụng trừu tượng (còn gọi là giá trị sử dụng
gián tiếp) do rừng tạo ra và rừng bảo vệ mà có được, bao gồm:
- Điều hòa nguồn nước, cung cấp nước cho thuỷ điện, thuỷ lợi, các hoạt
động sản xuất và đời sống của xã hội.
- Dự trữ sinh quyển, tạo môi trường không khí trong lành.
- Bảo vệ, cải tạo đất, chống rửa trôi xói mòn đất.
- Bảo vệ các công trình kinh tế quan trọng không bị lũ quét, sóng thần,
vùi lấp, phá huỷ.
- Ngăn chặn lũ lụt.
về thực tế thì người lao động lâm nghiệp (các chủ rừng) khi tạo ra môi trường
rừng không thể đi bán cho từng người hưởng lợi (các đối tượng hưởng lợi có
thể là dân cư của một thành phố, của một vùng đồng bằng được hưởng thụ môi
trường sinh quyển sạch, an toàn ; hoặc được sử dụng nước phục vụ đời sống,
và sản xuất, vv...).
Với quy mô số lượng người hưởng lợi là một số đông trong xã hội thì
Nhà nước phải là người đại diện để thu tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ
người mua «người hưởng lợi» để thanh toán cho người bán «là người sản xuất
và cung cấp dịch vụ môi trường rừng». Hoạt động của Nhà nước như vậy gọi
là Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp[27].
Wunder (2005, p. 9) đã đưa ra một định nghĩa hẹp về chi trả dịch vụ môi
trường là “một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó dịch vụ môi trường
được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ
này) đang được người mua (tối thiểu một người mua) mua của người bán (tối
thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp dịch vụ môi trường đảm
bảo được việc cung cấp dịch vụ môi trường này”[41].
Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được sử dụng phổ biến: Là cam
kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc về mặt pháp lý và với
hợp đồng này thì một hay nhiều người mua chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái xác
10
định bằng cách trả tiền mặt hoặc các hỗ trợ cho một hoặc nhiều người bán và
người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho
một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thoả thuận.
Nhóm Đồng tác giả, Hà Nội, Việt Nam 31/01/2008, trong cuốn sách Pes
khẳng định bản chất của hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng (Dịch vụ
môi trường hiện được chia làm 4 loại dịch vụ là chức năng phòng hộ đầu
nguồn, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan và hấp thụ các bon) là tạo cơ
ở một số nước. Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng và ở một số
nước PES còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật. Hiện nay, PES đã
nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong
cộng đồng và xã hội.
Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES sớm
nhất. Ở châu Âu, Chính phủ một số nước cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện
nhiều chương trình, mô hình PES. Ở châu Úc, Australia đã luật pháp hoá
quyền phát thải cácbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền
sở hữu hấp thụ cácbon của rừng. PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí
điểm tại châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và
Việt Nam. Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển
hình về PES đối với quản lý lưu vực đầu nguồn.
Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về PES đã được xây dựng trên
khắp toàn cầu. Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương
trình PES quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ đất để thực hiện các biện
pháp sử dụng đất nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa
dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cácbon và vẻ đẹp cảnh quan.
Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp
(IFAD), Trung tâm Nông - Lâm thế giới (ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao nhận thức về khái niệm PES bằng Chương trình chi trả cho
người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường (RUPES) ở châu Á. RUPES đang
12
tích cực thực hiện các chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal.
Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các chương trình
PES ở châu Á.
Từ các mô hình PES ở các nước cho thấy, quản lý và bảo vệ đầu nguồn
đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đa dạng
tiềm năng ảnh hưởng quan trọng [29].
Trong khi các công cụ “ hưởng dụng có điều kiện” tỏ ra có hiệu quả với
các hoạt động thiết lập như hoạt động di cư gần đây thì người dân bản địa vùng
cao cần có quyền được sở hữu đất đai do ông cha để lại. Tại Philippines, chính
vấn đề này lại là cơ sở của sự tự tôn trọng và độc lập về kinh tế. Các cam kết
liên quan đến bảo vệ rừng hay bảo vệ nguồn nước và việc đòi quyền được chi
trả cho dịch vụ phòng hộ đầu nguồn có thể ít hơn dự kiến ban đầu. Tuy nhiên,
việc duy trì chất lượng môi trường (thường xảy ra ở các khu vực do chính phủ
quản lý) là rất quan trọng nhưng cần xem xét thoả đáng các nhu cầu của người
dân bản địa.
+ Xây dựng các chính sách và thể chế để thúc đẩy hoạt động chi trả dịch vụ
môi trường ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế
Để việc chi trả cho cộng đồng vùng cao một cách có hệ thống thì phải
xác định và giải quyết được các hạn chế, khó khăn phát sinh trong quá trình
thực hiện. Các hạn chế và khó khăn này gồm thiếu năng lực thể chế, chính trị,
khung pháp lý và tài chính và thậm chí quyền lợi và cam kết của cộng đồng bị
hạn chế. Dự án RUPES cũng đã kiểm nghiệm các hạn chế về mặt thể chế như
xung đột và tranh giành quyền lực của các cơ quan chính phủ trong việc quản
lý các dịch vụ môi trường do người dân địa phương mang lại.
Tại Indonesia và Philippines, dự án RUPES đã thúc đẩy việc thiết lập
hai mạng lưới độc lập trên phạm vi toàn quốc để hỗ trợ việc ra các quyết định
liên quan đến vấn đề dịch vụ môi trường. Tác động của hoạt động đối thoại
chính sách của cấp tỉnh và trung ương này tại các khu vực nghiên cứu là rất rõ
14
ràng. Ví dụ, các khái niệm mà dự án RUPES đưa ra đã giúp các bên liên quan
tại địa phương thay đổi từ “mệnh lệnh và kiểm soát” và theo cách tiếp cận “từ
trên xuống” trong quản lý môi trường sang thảo luận các mối quan hệ bình