Chƣơng I: GIỚI THIỆU
Cá bống kèo (Pseudapocryptes elongates) là một loài cá bản địa với
nguồn giống tự nhiên phong phú và là nguồn thực phẩm được nhiều người ưa
chuộng. Hiện nay, cá bống kèo là loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao, được
tiêu thụ rộng rãi trong nước và có giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây, nghề nuôi cá bống kèo gặp trở ngại lớn do bệnh xuất hiện và lây
lan trên diện rộng làm ảnh hưởng đến sản lượng nuôi trồng và thu nhập của
người dân.
Cá bống kèo được nuôi tập trung ở một số tỉnh vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long (ĐBSCL) như Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng, trong đó Bạc Liêu
là tỉnh có diện tích nuôi khá lớn, diện tích nuôi đạt 405 ha vào năm 2011 (Sở
Nông nghiệp & PTNT tỉnh Bạc Liêu, 2012). Tuy nhiên từ năm 2007 đến nay
cá bống kèo nuôi thương phẩm bị bệnh với dấu hiệu bệnh lý là xuất huyết trên
thân, tại các vi và hậu môn với tỉ lệ chết cao và chết trên diện rộng. Xuất huyết
là dấu hiệu bệnh lý do nhiều tác nhân gây ra như virus, vi khuẩn và do môi
trường.
Tác nhân gây xuất huyết được mô tả nhiều nhất là do vi khuẩn. Điển
hình như tác nhân gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi (Oreochromis spp.) ở
một số tỉnh miền Bắc Việt Nam được Phạm Hồng Quân và ctv., 2013 xác định
là do vi khuẩn Streptococcus agalactiae gây ra. Vi khuẩn này cũng gây bệnh
xuất huyết ở cá điêu hồng (Oreochromis spp.) (Đặng Thị Hoàng Oanh và
Nguyễn Thanh Phương, 2012). Bệnh xuất huyết còn do tác nhân là vi khuẩn S.
iniae, theo kết quả nghiên cứu của Trần Vĩ Hích và Nguyễn Hữu Dũng (2011)
thì tác nhân gây bệnh xuất huyết trên cá chẽm (Latex calcarifer) là vi khuẩn S.
iniae, vi khuẩn này còn là tác nhân gây bệnh trên cá bơn Nhật Bản
(Paralichthys olivaceus), cá đù đỏ (Sciaenops ocellates) (Eldar et al., 1999).
Ngoài ra, bệnh xuất huyết trên cá còn do vi khuẩn S. dysgalactiae, vi khuẩn
này gây hội chứng xuất huyết, bơi xoắn, mất phương hướng ở cá đối (Liza
alata, Liza haemotocheila) (Qi et al., 2013), cá tầm (Acipencer schrenckii)
(Yang và Li, 2009), cá nâu (Mugil cephalus) và cá bớp (Rachycentron
canadum) (Abdelsalam et al., 2009).
1. Phân lập và định danh vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá bống kèo
nuôi thương phẩm.
1.1 Điều tra, khảo sát hiện trạng bệnh trên cá bống kèo nuôi.
1.2 Phân lập và định danh vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá bống
kèo.
2. Xác định tác nhân vi khuẩn gây bệnh xuất huyết ở cá bống kèo.
2.1 Xác định đặc điểm bệnh học.
2.2 Xác định đặc điểm mô học.
2.3 Xác định đặc điểm huyết học.
3. Phát triển qui trình chẩn đoán bệnh xuất huyết ở cá bống kèo bằng
phương pháp sinh học phân tử.
4. Phương pháp điều trị bệnh xuất huyết ở cá bống kèo ở qui mô phòng
thí nghiệm.
4.1 Lập kháng sinh đồ và xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của
thuốc kháng sinh lên vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá bống kèo.
2
4.2 Bố trí thí nghiệm điều trị bệnh ở qui mô phòng thí nghiệm.
1.4 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu tác nhân vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá bống kèo nuôi
thương phẩm tại tỉnh Bạc Liêu.
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu nhằm đáp ứng cho quá trình đa dạng vật nuôi thủy
sản và góp phần gia tăng sản lượng động vật thủy sản. Thông tin từ kết quả
khảo sát hiện trạng bệnh trên cá bống kèo và qui trình phòng trị bệnh sẽ góp
phần hạn chế thiệt hại trong quá trình nuôi cá bống kèo mang lại hiệu quả về
năng suất và kinh tế, tăng thu nhập cho người nuôi.
1.6. Điểm mới của luận án
Lần đầu tiên xác định được tác nhân gây bệnh xuất huyết trên cá bống
được tập trung nuôi ở các nước như Banglades, Trung Quốc, Đài Loan, Thái
Lan, Philippines và Việt Nam (Polgar và Lim, 2011).
Theo Hong và Zhang (2004) thì Trung Quốc đã sinh sản nhân tạo thành
công một loài cá bống có tên khoa học là Boleophthalmus pectinirostris và đã
phát triển nuôi đối tượng này với mật độ nuôi từ 4,5 – 7,5 con/m2, năng suất
trung bình đạt từ 750 đến 975 kg/ha. Diện tích nuôi loài cá này ở Trung Quốc
đạt khoảng 13.000 ha ở (Hong et al., 2007). Đây cũng là loài cá bống được
nuôi phổ biến ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Takeshi, 2008).
Một loài cá bống khác là cá bống kèo Pseudapocryptes elongates cũng
được phát triển mạnh ở một số nước Châu Á, điển hình như Đài Loan và Việt
4
Nam, đây là loài cá được nuôi ở dạng mô hình nuôi thâm canh và bán thâm
canh (Dinh et al., 2007) với năng suất nuôi đạt bình quân 0,8 tấn/ha ở mật độ
thấp và 6,4 tấn/ha ở mật độ nuôi cao (Trương Hoàng Minh và Nguyễn Thanh
Phương, 2011)
2.2.2 Tình hình nuôi cá bống kèo trong nƣớc
Cá bống kèo là một trong những đối tượng thủy sản được các tỉnh vùng
ven biển ĐBSCL quan tâm phát triển nuôi trong những năm gần đây. Cá bống
kèo (Pseudapoccryptes elongatus) là loài cá bản địa, đây là một đối tượng nuôi
còn khá mới, diện tích nuôi đối tượng này không đáng kể, ở những năm đầu
2000 diện tích nuôi dối tượng này chỉ vài ha, tuy nhiên vào những năm 2011,
2012 diện tích nuôi đối tượng này đã tăng 105 ha ở Cà Mau (Sở Nông nghiệp
& PTNT tỉnh Cà Mau, 2013) và 445 ha ở tỉnh Bạc Liêu (Sở Nông nghiệp &
PTNT tỉnh Bạc Liêu, 2013), diện tích nuôi cá bống kèo ở tỉnh Bạc Liêu tập
trung ở 03 huyện trọng điểm đó là thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và
huyện Đông Hải.
Theo Trung tâm Khuyến nông – khuyến ngư Bạc Liêu (2013) thì cá bống
kèo được nuôi ở quy mô thâm canh với diện tích ao nuôi từ 3.000 m2 đến
và tỷ lệ thiệt hại chính thức từ các cơ quan chức năng, nhưng những năm
2007, 2008 và 2009 là năm mà nghề nuôi cá bống kèo của tỉnh Bạc Liêu và
các tỉnh lân cận như Sóc Trăng và Cà Mau gặp rất nhiều khó khăn do phát sinh
dịch bệnh, cá bị chết hàng loạt có những ao tỷ lệ chết lên đến 90%, cá biệt có
những ao tỷ lệ cá chết “trắng”, mỗi ngày người nuôi vớt từ 200 – 300 con cá
bống kèo chết trong một ao với dấu hiệu thường thấy là xuất huyết, chướng
bụng, nổ mắt và lở loét ().
2.4 Bệnh xuất huyết ở cá
2.4.1 Dấu hiệu bệnh lý
Cá bệnh xuất huyết có dấu hiệu bệnh lý như xuất huyết từng mảng đỏ
trên cơ thể, xuất huyết khắp trên da cá, tập trung nhiều ở gốc vây và đuôi, hậu
môn bị viêm hoặc xuất huyết. Hoại tử đuôi, vây, xuất hiện các vết thương trên
lưng, mắt lồi, mờ đục và phù ra. Bụng sưng to, xoang bụng chứa dịch, nội tạng
hoại tử, thận và tỳ tạng sưng to (Từ Thanh Dung và ctv., 2005).
Kết quả nghiên cứu trên cá điêu hồng bị bệnh xuất huyết cho thấy, cá
bệnh có dấu hiệu bệnh lý như bơi lờ đờ, hoạt động chậm chạp, kém linh hoạt,
bơi lội mất phương hướng, mắt lồi và đục, trên thân có những đốm xuất huyết
ở vây ngực và vây bụng, mang tái nhạt, bụng trương to, xoang bụng có chứa
dịch màu vàng, nội tạng bị xuất huyết, mềm nhũn (Đặng Thị Hoàng Oanh và
Nguyễn Thanh Phương, 2012). Kết quả tương tự khi nghiên cứu trên một số
loài cá bị bệnh xuất huyết như cá tầm (Wunging và Aihua Li, 2009), cá đối
(Qi et al., 2013) và cá rô phi (Phạm Hồng Quân và ctv., 2013).
2.4.2 Đặc điểm mô bệnh học
Kết quả nghiên cứu của Trương Đình Hoài và ctv. (2012) trên cá rô phi
(Oreochromis niloticus) bị bệnh xuất huyết cho thấy, mang cá xuất huyết, phù
nề và tăng sinh biểu mô. Mô não bị sung huyết, viêm và thoái hóa ở nhu mô
não. Mô thận cá xuất hiện nhiều vùng bị sung huyết, tụ huyết và thoái hóa,
ống thận bị hoại tử và mất cấu trúc. Mô gan cá xuất hiện nhiều tế bào đại thực
bào, đảo tụy tăng sinh, xuất hiện nhiều vùng sung huyết, tụ máu, thoái hóa và
6
Bạch cầu là thành phần cơ bản của hệ thống miễn dịch, với chức năng
bảo vệ giúp cơ thể chống lại các tác nhân ảnh hưởng của các yếu tố bên trong
và bên ngoài môi trường sống. Quá trình tạo bạch cầu trong cơ thể được đáp
ứng cho việc bảo vệ cơ thể trong suốt thời kỳ cơ thể gặp tình trạng sốc hoặc
nhiễm bệnh. Bạch cầu là những tế bào máu có nhân, kích thước khác nhau tùy
thuộc vào từng loại bạch cầu. Các loại bạch cầu thường được tìm thấy gồm tế
bào lympho, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính và tiểu cầu (Mostafa et
al., 2000).
7
Bạch cầu đơn nhân là tế bào bạch cầu tham gia vào hệ thống miễn dịch
không đặc hiệu với vai trò thực bào, tiêu diệt kháng nguyên và đặc biệt là khả
năng trình diện kháng nguyên và để thực hiện bước khởi đầu của quá trình đáp
ứng miễn dịch đặc hiệu. Bạch cầu trung tính có khả năng thực bào các vật có
kích thước nhỏ như vi khuẩn và có khả năng di chuyển xuyên qua các mao
mạch có chuyển động định hướng đến những nơi bị viêm nhiễm, những nơi bị
viêm có bạch cầu tập trung nhiều nhất (Phạm Tân Tiến, 2010). Sự gia tăng về
tỉ lệ và số lượng bạch cầu trung tính cho thấy hoạt động của hệ bạch huyết gia
tăng để tiêu diệt các vi sinh vật lạ xâm nhập vào cơ thể (Ellis, 1988).
Các tế bào lympho là những tế bào có khả năng miễn dịch. Các bạch cầu
không hạt sản xuất ra các kháng thể β-globulin và nhất là γ-globulin, đây là
kháng thể chống vi trùng rất mạnh. Tế bào lympho có thể sinh ra mọi loại
kháng thể để chống lại mọi kẻ thù (Phạm Tân Tiến, 2010).
Chức năng chính của tiểu cầu là giải phóng chất thromboplastin để gây
đông máu, đặc biệt trong tình trạng viêm nhiễm. Tiểu cầu còn có đặc tính kết
dính nhờ vậy mà góp phần đóng miệng các vết thương. Ngoài ra tiểu cầu còn
tham gia vào quá trình đáp ứng miễn dịch (Houston, 1990; Chinabut và ctv.,
1991).
Các chỉ tiêu huyết học ở cá bị bệnh xuất huyết có những thay đổi đáng kể
Β- galactosidase
Arginine dihydrolase
Lysine decarboxylase
Orinithine decarboxylase
Phản ứng citrate
Sinh H2S
Phản ứng urease
Indole
Voges – Proskauer
Thủy phân gelatin
Axit hóa glucose
Axit hóa mannitol
Axit hóa inositol
Axit hóa sorbitol
Axit hóa sucrose
Axit hóa arabinose
1
+
+
S
Y
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
-
5
+
+
S
G
+
+
+
+
+
-
6
+
+
+
R
Y
+
+
D
Vi khuẩn Pseudomonas thuộc họ Pseudomonadeceae, Gram (-), có dạng
hình que, không sinh bào tử, kích thước tế bào khoảng 0,5 – 1,0 x 1,5 – 5,0
µm, chuyển động nhờ tiên mao. Pseudomonas phát triển trong môi trường đơn
giản và hiếu khí. Đa số loài Pseudomonas có phản ứng oxy hóa, một số ít
không có phản ứng oxy hóa và không lên men trong môi trường O/F. Giới hạn
nhiệt độ phát triển rộng từ 4 – 43oC. Chúng phân bố rộng khắp trong môi
trường, đất và nước, chúng có thể gây bệnh cho người, động vật và thực vật.
Pseudomonas thường gây bệnh xuất huyết trên cá, nhưng gây bệnh chủ yếu ở
cá nước ngọt. Tác nhân gây bệnh ở cá gồm một số loài: P. fluorescens, P.
chlororaphis, P. anguilliseptica, P. dermoalba, P. putida. (Inglis et al., 1994).
Bảng 2.2 Đặc điểm sinh hóa của một số loài Pseudomonas (Buller, 2004)
Chỉ tiêu
Gram
Di động
Phát triển ở 37oC
Oxidase
Catalase
Lysine decarboxylase
Arginine dihydrolase
Indole
Voges - Proskauer
Thủy phân aesculin
Thủy phân gelatin
O/F
Arabinose
Glucose
Inositol
Lactose
Mannitol
Sorbitol
+
+
+
+
O
+
+
v
+
v
v
v
P.
putida
+
+
+
+
O
+
+
+
+
-
Ghi chú: (+) phản ứng dương; (-) phản ứng âm.v: phản ứng xảy ra chậm.
Trong số các loài Pseudomonas được phát hiện từ cá bệnh gồm: P.
chlororaphis, P. anguilliseptica, P. fluorescens, P. putida, và P.
Dấu hiệu chung khi cá bị nhiễm vi khuẩn Streptococcus là màu sắc đen
tối, bơi lội không bình thường, mắt cá bị phù mắt hoặc lồi mắt và đục, xuất
huyết trên thân (Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, 2012). Các
vết xuất huyết lan rộng thành lở loét, cá bị bệnh vận động khó khăn, không
định hướng, cá bệnh có hình thức bơi xoắn, thận và lá lách tăng lên về thể tích
do phù nề. Sự thương tổn nội quan là lý do gây chết cá (Bùi Quang Tề và cvt.,
2004).
11
Bảng 2.3 Đặc điểm sinh hóa của một số loài Streptococcus (Buller, 2004)
Chỉ tiêu
Gram
Di động
Phát triển ở 37oC
Oxidase
Catalase
Lysine decarboxylase
Arginine dihydrolase
Indole
Voges - Proskauer
Thủy phân aesculin
Thủy phân gelatin
O/F
Arabinose
Glucose
Inositol
Lactose
Mannitol
+
+
+
+
+
S.
iniae
+
+
+
+
F
+
+
+
+
+
+
+
+
S.
phocae
+
+
F
+
+
+
Di động
Phát triển ở 37oC
Oxidase
Catalase
β-haemolysis
Lysine decarboxylase
Arginine dihydrolase
Indole
Voges - Proskauer
Thủy phân aesculin
Thủy phân gelatin
O/F
Arabinose
Glucose
Inositol
Lactose
Mannitol
Sorbitol
Sucrose
Trehalose
F. columnare
+
+
+
+
O
-
F.
+
-
+
-
-
+
2.5.5. Bệnh do vi khuẩn Aeromonas
Theo Barrow và Feltham (1993), Aeromonas được chia thành 2 nhóm
dựa trên khả năng di động và ngưỡng nhiệt độ phát triển của chúng. Nhóm thứ
nhất gồm những loài Aeromonas có tiên mao và có khả năng di động, bao gồm
A. hydrophila, A. caviae, A. sorbia. Các vi khuẩn có dạng hình que ngắn, kích
thước 0,5 x 1,0 - 1,5 µm, 2 đầu hơi tròn. Mỗi tế bào vi khuẩn có một tiên mao,
nhờ đó có khả năng di động, có phản ứng cytochrom oxidase dương tính, có
khả năng khử nitrate.
13
Vi khuẩn Aeromonas có khả năng vận động, là tác nhân gây bệnh nhiễm
trùng máu, xuất huyết. Cá bị bệnh thường kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên
tầng mặt. Da cá thường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp,
rụng vẩy để lộ da bị xuất huyết. Các đốm xuất huyết màu đỏ xuất hiện trên
thân, các gốc vây, quanh miệng, râu xuất huyết hoặc bạc trắng. Có thể xuất
hiện các vết loét ăn sâu vào cơ, có mùi hôi thối, trên vết loét thường có nấm và
ký sinh trùng ký sinh. Mắt cá bị lồi đục, hậu môn viêm xuất huyết, bụng có thể
chướng to, trên bề mặt nội quan có xuất huyết, xoang cơ thể và ruột tích dịch,
+
+
+
d
+
+
A. Caviae
+
+
+
+
d
+
+
+
+
+
d
+
+
A. Sorbia
+
+
+
+
d
+
+
bị thương tổn do tác động cơ học hay do ký sinh trùng ký sinh (Toranzo et al.,
1991).
14
2.5.6. Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella
Vi khuẩn Edwardsiella thuộc họ Enterobacteriaceae, vi khuẩn có dạng
hình que mảnh, Gram (-), kích thước biến đổi, di động hoặc di động yếu, phản
ứng lên men, phản ứng catalase dương tính, oxidase âm tính, phản ứng indole
và H2S âm tính. (Từ Thanh Dung và ctv., 2005).
Dựa vào dấu hiệu bệnh và phân lập mẫu bệnh phẩm từ gan tụy cá bệnh
trên một số môi trường thông thường như: BHIA (Brain heart infusion agar),
TSA (tryptic soy agar). Trên các môi trường này, khuẩn lạc của Edwardsiella
spp. thường nhỏ, phát triển sau khi nuôi cấy 24 - 48 giờ ở nhiệt độ 30 – 35oC.
Nhiệt độ thích hợp để nghiên cứu đặc điểm sinh lý và sinh hóa của vi khuẩn
này là 28-30oC. E. ictaluri cho các phản ứng sinh lý, sinh hóa yếu hơn các loài
Edwardsiella khác (Waltman et al., 1986).
Bảng 2.6. Đặc điểm sinh hóa của E. tarda và E. ictaluri (Inglis et al., 1994)
Đặc điểm sinh hóa
Di động ở 25oC
Di động ở 35oC
β-galactosidase
Arginine dihydrolase
Lysine decarboxylase
Ornithine decarboxylase
Tạo H2S
Indole
Voges-Proskauer
Thủy phân Gelatin
Acid hóa: Glucose
bệnh học cho thấy các vết thương tổn được đặc trưng bởi sự hoại tử, thường
phát triển ở mô cơ, mô tạo máu và mô gan (Austin và Austin, 1993).
Cá bệnh do nhiễm E. ictaluri thường kém ăn hoặc bỏ ăn, bụng thường
chướng to, xung quanh miệng thường có các đốm xuất huyết, gốc vây xuất
15
huyết, mắt lồi. Giải phẫu bên trong, một số cơ quan nội tạng như gan, lá lách,
thận bị hoại tử, tạo thành những đốm màu trắng đục đường kính 0,5 – 2,5 mm.
Vi khuẩn E. ictaluri được phân lập lần đầu tiên trên cá nheo. Loài vi khuẩn
này cũng là nguyên nhân gây bệnh nhiễm trùng máu cấp tính (enteric
septicemia of catfish – ESC) trên cá nheo Mỹ với tỷ lệ hao hụt rất cao (Austin
và Austin, 1993).
Hiện nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào ở nước ngoài về
bệnh trên cá bống kèo, đặc biệt là bệnh xuất huyết được công bố. Tuy nhiên,
đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh xuất huyết trên các đối tượng nuôi
thủy sản như cá chép, cá nheo mỹ, cá tra, cá rô phi, cá điêu hồng hay lươn
đồng. Tác nhân gây bệnh chủ yếu gây bệnh xuất huyết ở động vật thủy sản
được công bố nhiều nhất là vi khuẩn thuộc giống Aeromonas và
Streptococcus.
2.6 Tổng quan về bệnh do vi khuẩn Streptococcus trên cá nƣớc lợ,
mặn
Bệnh do vi khuẩn Streptococcus là bệnh nguy hiểm thường gặp ở người,
động vật trên cạn và ở động vật thủy sản. Bệnh được phát hiện xảy ra đầu tiên
vào năm 1956 trên cá hồi Oncorhynchus mykiss tại Nhật Bản (Hoshina et al.,
1958). Từ đó, bệnh đã không ngừng lan rộng và trở thành một bệnh vi khuẩn
gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới.
Nhiễm khuẩn liên cầu ở cá được coi là một vấn đề nghiêm trọng do tác
động gây chết hàng loạt cá nuôi trên khắp thế giới (Kitao, 1993; Bercovier,
1997; Romalde và Toranzo, 1999a).
Hữu Dũng, 2011).
Streptoccosis cũng có thể lây nhiễm sang động vật có vú. Kết quả nghiên
cứu của Toranzo đã xác định Streptoccosis trong cá bơn đã lây sang người đầu
tiên ở phía Tây Bắc của Tây Ban Nha, xảy ra vào năm 1993 (Toranzo et al.,
1994). Trong 02 năm (1995 và 1996), đã có bốn trường hợp nhiễm liên cầu
khuẩn ở con người được xác định trong số các bệnh nhân tại một bệnh viện ở
Ontario (Weinstein et al., 1996). S. iniae, một tác nhân gây bệnh trên cá lại là
nguyên nhân gây ra bệnh ở con người (Eldar et al., 1994; Eldar et al., 1995;
Perera et al., 1995) được phân lập từ cả bốn bệnh nhân trên. Tất cả bệnh nhân
đều có nguồn gốc Trung Quốc và có liên quan đến cá sống, ba trong số các
loài cá liên quan đến bốn bệnh nhân trên là cá rô phi và họ đã bị lây nhiễm khi
tiếp xúc trực tiếp với cá (Weinstein et al., 1996).
2.6.1 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus iniae
Vi khuẩn S. iniae là vi khuẩn hình cầu, có đường kính lên đến 1,5 µm,
các tế bào ghép với nhau tạo thành chuỗi liên cầu. Vi khuẩn phát triển trong
các môi trường tổng hợp như TSA, BHIA, hình thành các khuẩn lạc nhỏ có
đường kính 1-2 mm sau 24 – 48 giờ nuôi cấy ở 15-37oC, trong môi trường
TSB kéo dài thành chuỗi (Bromage et al., 1999). Nuôi cấy trên môi trường
thạch có bổ sung 5% máu cừu cho phản ứng dung huyết dạng α hay β (Eldar et
al., 1995; Bromage et al., 1999).
Tác nhân S. iniae gây bệnh chủ yếu trên các loài cá nước ấm như ở cá rô
phi Oreochromis niloticus x O. Aureus (Al-Harbi, 1994); cá vược sọc lai
Morone saxatilis, cá hồi Oncorhynchus mykis (Evans et al., 2000). Ngoài ra,
17
một số loài cá biển như cá trác sọc vàng Seriola spp. (Kitao, 1982), cá bơn
Nhật Bản (Paralichthys olivaceus), cá chẽm Châu Âu (Dicentrarchus labrax)
và cá đù đỏ (Sciaenops ocellates) (Eldar et al., 1999) ở Israel, cá chẽm (Latex
calcarifer) ở Australia (Bromage et al., 1999) cũng đã phân lập được vi khuẩn
agalactiae với các nhóm cầu khuẩn khác và nhất là trong nhóm Streptococcus
(Buller, 2004; Salvador et al., 2005).
18
Bệnh do S. agalactiae gây ra có các dấu hiệu bệnh lý đặc trưng như bỏ
ăn, bơi lội lờ đờ trên mặt nước, mắt lồi và đục, xuất huyết ở các vây và xương
nắp mang. Quan sát mô gan của cá bị nhiễm bệnh có một số biến đổi như cấu
trúc tế bào gan bị phá hủy, nhiều vùng tế bào có hiện tượng xuất huyết, bị biến
đổi cấu trúc và hoại tử. Tỳ tạng xuất hiện những dịch viêm và mất cấu trúc.
Mô thận cá điêu hồng có nhiều vùng bị biến đổi cấu trúc, ống thận bị hoại tử
(Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, 2012).
Hiện tượng xuất huyết, bị biến đổi cấu trúc, hoại tử và xuất hiện dịch
viêm ở gan, thận và tỳ tạng cho thấy khả năng gây bệnh ở mức tế bào của vi
khuẩn S. agalactiae. Ngành công nghiệp nuôi cá rô phi ở Bazil đã bị thiệt hại
nghiêm trọng do vi khuẩn S. agalactiae vì vi khuẩn này có xu hướng tấn công
cá vào giai đoạn thương phẩm, tỷ lệ chết ở một trang trại nuôi cá có thể lên
đến 90% (Salvador et al., 2005).
2.6.3 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus dysgalactiae
Vi khuẩn S. dysgalactiae thuộc nhóm C Lancefield là vi khuẩn Gram (+),
hình cầu, phản ứng catalase và oxidase âm tính (Buller, 2004). Nhiệt độ tốt
nhất để vi khuẩn S. dysgalactiae phát triển là 37oC, ở nhiệt độ dưới 10oC và
trên 45oC vi khuẩn không phát triển (Abdelsalma et al., 2013). Cũng với kết
quả nghiên cứu của Abdelsalma et al. (2013) cho thấy vi khuẩn S.
dysgalactiae có phản ứng catalase âm tính nhưng dương tính với oxidase.
S. dysgalactiae được phân thành 02 loài phụ: Streptococcus dysgalactiae
subsp dysgalactiae tác nhân gây bệnh trực tiếp trên động vật và Streptococcus
dysgalactiae subsp equisimilis là tác nhân quan trọng gây bệnh trên người
(Suzuki et al., 2011). Sự phân chia này được Vandamme et al. (1996) dựa vào
quá trình điện di vách tế bào và các kết quả kiểm tra sinh lý, theo đó vi khuẩn
tại hai cơ quan trên và khi vượt quá sức chống chịu của cơ thể cá, vi khuẩn sẽ
tiếp tục nhiễm vào máu, sau đó được di chuyển đến khắp nơi trong cơ thể gây
nhiễm khuẩn toàn thân (Romalde và Toranzo, 1999a).
2.6.5 Phƣơng thức lây truyền bệnh trong môi trƣờng nuôi
Bệnh do S. agalactiae, S. dysgalactiae và S. iniae lây truyền có thể xảy
ra thông qua nguồn nước hay thông qua thức ăn chứa mầm bệnh. Bệnh cũng
có thể lây truyền khi nuôi chung cá khỏe với cá bệnh, cá mang vi khuẩn trong
tự nhiên vào ao nuôi (Perera et al., 1997).
Một số yếu tố bao gồm nhiệt độ nước cao, mật độ nuôi cao và chất lượng
nước kém như nồng độ amoniac cao hoặc nitrite cao đều liên quan đến việc
bùng phát dịch Streptoccosis trong ao nuôi (Yanong và Francis-Floyd, 2002).
Streptoccosis ảnh hưởng đến các giai đoạn phát triển của cá. Streptococcus có
thể tồn tại hơn 6 tháng trong ao nuôi (Romalde và Toranzo, 1999a).
Theo Pereral et al., 1997 cá có thể bị nhiễm bệnh thông qua phương pháp
tiêm, ngâm hay cho ăn sống với những sinh vật mang mầm bệnh. Các cơ quan
mang, da, hệ thống tiêu hóa, hệ thống khứu giác là những vị trí xâm nhập của
Streptococcus spp.. Tuy nhiên, con đường xâm nhiễm, phát triển và lây lan
bệnh khác nhau tùy theo phương pháp cảm nhiễm và loài cá cảm nhiễm.
Streptococcus có thể gây bệnh trên cá rô phi thông qua phương pháp ngâm hay
cho ăn (Pereral et al., 1997).
20
Nghiên cứu của Evans et al. (2004) về đường lây nhiễm của vi khuẩn S.
agalactiae đã cho thấy, mang là vị trí xâm nhập, vi khuẩn phát triển rất nhanh
sau khi xâm nhập, vi khuẩn xuất hiện trong máu, não và thận của vật chủ sau
12 giờ. Trên cá chẽm, Bromage và Owen (1999) đã tiến hành cảm nhiễm S.
iniae bằng phương pháp ngâm và cho ăn, cá nhiễm bệnh và chết với tỷ lệ cao,
tuy nhiên ở phương pháp ngâm bệnh xảy ra ở dạng cấp tính, phương pháp cho
ăn gây bệnh ở dạng mãn tính.
21
khuẩn Shigella, Vibrio cholera, Escherichia coli và Neisseria meningitides
cho thấy các chủng độc lực có khả năng hấp thu Congo red và cho các khuẩn
lạc màu đỏ. Ngược lại, các chủng không hấp thu Congo red và có khuẩn lạc
không màu thì không có độc lực (Payne et al., 1977).
Khi nghiên cứu sự khác nhau giữa các chủng vi khuẩn Yersinia
enterocolitica độc lực và không độc lực của Payne et al., 1977 cho kết quả
tương tự. Vi khuẩn hình thành các khuẩn lạc có màu trên môi trường thạch
Congo red được xác định là vi khuẩn có độc lực.
Độc lực của một số loài vi khuẩn gây bệnh có liên quan đến khả năng
hấp thu Congo red. Theo nghiên cứu của Statner và George (1987) khi tiến
hành thí nghiệm cấy 50 chủng vi khuẩn Aeromonas trên môi trường có chứa
50µg/ml Congo red kết quả cho thấy tất cả các chủng đều phát triển. Mức độ
hấp thu khác nhau giữa các chủng vi khuẩn phụ thuộc vào nhiệt độ ủ, nhiều
nhất ở 37°C và thấp nhất ở 22°C.
Kết quả nghiên cứu của Abdelsalam et al. (2009) cho thấy vi khuẩn S.
dysgalactiae nhóm C phát triển trong môi trường TH-CR agar (môi trường
Todd-Hewitt agar có 30µg/ml Congo red) với các khuẩn lạc có màu cam,
trong khi đó vi khuẩn Lactococcus garvieae phát triển trong môi trường THCR với khuẩn lạc màu trắng hoặc màu cam nhạt. Môi trường TH-CR có thể sử
dụng để phân lập vi khuẩn từ cá bệnh và nhận dạng khuẩn lạc để chẩn đoán vi
khuẩn S. dysgalactiae nhóm C gây bệnh trên cá (Abdelsalm et al., 2009).
2.8 Chẩn đoán bệnh xuất huyết ở cá
Các phương pháp nuôi cấy truyền thống dùng trong chẩn đoán bệnh vi
khuẩn ở cá khi có kết quả thường phải mất vài ngày và không đáp ứng được
tính khẩn cấp trong việc đề xuất giải pháp đối phó với sự lây lan của bệnh.
Một trong những phương pháp kỹ thuật phân tử được sử dụng phổ biến hiện
nay để phát hiện sớm các mầm bệnh ở thủy sản là kỹ thuật PCR. PCR là
phương pháp cho phép phát hiện mầm bệnh vi khuẩn nhanh, chính xác và độ
ra như: thuốc tím (KMnO4), muối, formalin, sunfat đồng (CuSO4) và iodine.
Thuốc tím (KMnO4) thuận lợi cho việc sử dụng và đồng thời điều trị bệnh có
hiệu quả cao, tuy nhiên hóa chất này không có hiệu quả khi cá nhiễm bệnh ở
dạng cấp tính (Từ Thanh Dung, 2012).
2.9.2 Thuốc kháng sinh
Thuốc kháng sinh là biện pháp thường được áp dụng nhiều nhất để kiểm
soát bệnh xuất huyết nhất là bệnh do vi khuẩn (Fang et al., 2004). Những loại
thuốc kháng sinh đã được sử dụng để trị bệnh có hiệu quả là furance (Mitchell
và Plumb, 1980), sulfonamide (Bowser et al., 1987), chloramphenicol,
neomycin, sulfamethoxazole-trimethoprim, streptomycin, oxolinic acid,
sarafloxacin (Dixon et al., 1990), rifampicin (Ansary et al., 1992),
oxytetracycline, cephamycin, ciprofloxacin, amoxycillin và enrofloxacin
(Ilhan et al., 2006).
Vi khuẩn Gram (+) rất nhạy cảm với erythromycin (Yanong và FrancisFloyd, 2002). Bên cạnh đó, phần lớn các chủng Streptococcus spp. cũng rất
nhạy cảm với tetracycline, ampicillin, doxycycline, josamycin (Romalde và
Toranzo, 1999). Kết quả nghiên cứu của Darwish và Griffin (2002) cho thấy
23
khi sử dụng kháng sinh oxytetracycline với hàm lượng 75 – 100 mg/kg cá đã
khống chế được bệnh do vi khuẩn S. iniae gây ra trên cá rô phi.
Kháng sinh rất cần thiết trong điều trị bệnh do vi khuẩn Vibrio vulnificus
gây ra, các kháng sinh dùng điều trị gồm tetracycline, cephalosporin thế hệ thứ
ba và imipenem (Dijkstra et al., 2009). Kháng sinh được đề nghị để điều trị
bệnh do vi khuẩn Edwardsiella tarda là gentamycin, amoxicillin,
trimethoprim – sulfamethoxazole, cephalosporins và oxyquinolones (Lehane
và Rawlin, 2000).
Việc sử dụng thuốc kháng sinh quá liều và sử dụng trong thời gian dài đã
dẫn đến hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc và sự tồn tại dư lượng thuốc trong
sản phẩm thủy sản (Mitchell và Plumb, 1980; Vivekanandhan et al., 2005).
theo Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp & PTNT (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2014), thông tư này đã
24
quy định chặt chẽ những loại kháng sinh cấm sử dụng cũng như hạn chế sử
dụng trong nuôi trồng thủy sản nhằm tạo sản phẩm sạch bảo vệ sức khỏe
người tiêu dùng.
2.9.3 Vắc xin
Nghiên cứu vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn S. agalactiae gây ra trên cá
rô phi ở Bazil, kết quả cho thấy việc sử dụng vắc xin đã kiểm soát được mầm
bệnh do vi khuẩn này gây ra, kết quả sau khi sử dụng vắc xin này đạt hiệu quả
khá cao (Salvador et al., 2005). Vắc xin L. Garvieae và S. iniae thử nghiệm
đạt hiệu quả cao trong việc bảo vệ trong cá hồi vân trong thời gian từ 3 - 6
tháng (Eldar et al., 1997; Romalde et al., 2005), nhưng vắc xin cho L.
garvieae và S. parauberis hiển thị mức độ bảo hộ cao khi sử dụng cho cá chỉ
vàng và cá bơn (Toranzo et al., 1995; Romalde et al., 1999b). Tuy nhiên khi
thử nghiệm ngoài thực tế ao nuôi, cả hai loại vắc xin này được cấp phép sử
dụng cho cá hồi ngừa chủng lactococcosis nhưng kết quả vẫn gây thiệt hại
nặng nề cho trang trại nuôi cá (Bachrach et al., 2001).
Một số vắc xin được sử dụng nhằm phòng bệnh do vi khuẩn S. iniae, S.
agalactiae và S. dysgalactiae được nghiên cứu và phát triển. Điển hình như
nghiên cứu của Bercovier et al. (1997), thực hiện tiêm vắc xin bất hoạt
formaline dẫn truyền bằng phương pháp tiêm xoang bụng phòng bệnh do vi
khuẩn S. iniae gây ra trên cá rô phi, đạt hiệu quả bảo vệ cao với RPS đạt 80 90%. Kết quả được áp dụng từ năm 1995 đến 1997 khi cá rô phi nuôi đạt 50
g/con tiến hành chủng ngừa bằng vắc xin bất hoạt formaline cho hiệu quả bảo
vệ hơn bốn tháng, với tỷ lệ chết hàng năm gây ra bởi S. iniae đã giảm từ 50%
đến ít hơn 5% (Bercovier et al., 1997).
Trên cá chẽm, vắc xin phòng bệnh S.iniae được nghiên cứu đầu tiên ở
Australia vào năm 2006 với các nghiên cứu của Creeper và Buller (2006),