tiểu luận kinh tế đầu tư cao học - Pdf 35

Câu 1: Bản chất của đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển là một loại hình đầu tư trong đó vốn bỏ ra được dùng để tiến hành
các hoạt động nhằm gia tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết
bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản suất, năng lực thông
qua, năng lực vận chuyển… tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và
nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trường kinh tế, tăng thu nhập
quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã
hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao năng lực
cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.
Đối tượng của đầu tư phát triển được xem xét trên những góc đô khác nhau.
Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là
đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.
Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia thành hai nhóm
chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận.
Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại được
khuyến khích đầu tư, loại không khuyến khích đầu tư và loại cấm đầu tư.
Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực),
là những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền
kinh tế và tài sản lưu động; và tài sản vô hình như phát minh, sáng chế, uy tín, thương
hiệu…
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết
bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô
hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…). Các kết quả đạt được của đầu tư góp
phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.
Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kếtquả kinh tế xã hội
thu được với chi phí ra để đạt kết quả đó.
Đặc điểm chủ yếu của đầu tư phát triển:
Một là: Hoạt động đầu tư phát triển luôn đòi hỏi một lượng lớn tiền vốn, vật tư và
lao động.
Hai là: Đầu tư phát triển có thời kỳ đầu tư kéo dài từ khi khởi công dự án đến khi

Những bộ phận chính của vốn đầu tư phát triển khác bao gồm: Vốn chi cho công việc
thăm dò, khảo sát, thiết kế, qui hoạch ngành, qui hoạch lãnh thổ; Vốn chi cho việc thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khỏe cộng đồng như
chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình nước sạch nông thôn, phòng bệnh, kế
hoạch hóa gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội… Vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục:
chương trình phổ cập giáo dục, nghiên cứu, triển khai đào tạo, giáo dục…
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ để chỉ các nguồn tích lũy, tập trung và
phân phối cho đầu tư.
Về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển chính là phần tiết kiệm hay tích
lũy mà nền kinh tế có thể huy động để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.


Nguồn vốn đầu tư phát triển, trên phương diện vĩ mô, bao gồm nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: vốn nhà nước, vốn dân doanh và vốn trên thị
trường vốn.
Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), vốn hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay thương mại nước ngoài và vốn trên thị trường
vốn quốc tế.
Nguồn ngân sách
Nhà nước
đầu
đầu
tư tập
tư trung
của
doanh
nghiệp nhà
Nguồn
nướcvốn tài trợ phát triển chính thức ODF

trực
nướcthu
ngoài
vốn đầu tư trực tiếp FDI
Nguồn+vốn
sự Vốn
nghiệp
kinh
đối
tế
cáctiếp
nguồn
liên(FDI).
quan đến hoatNguồn
động GTVT
+ Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
b. Xét theo góc độ của doanh nghiệp:
- Nguồn vốn đầu tư trong nước.
- Nguồn vốn bên trong: hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ doanh nghiệp (vốn góp ban
vốn có
từ ưu
thị điểm
trường
đầu, thu nhập giữ lại) và phần khấu hao hàng năm. NguồnNguồn
vốn này
là vốn
đảmquốc tế
bảo tính độc lập, chủ động, không phụ thuộc vào chủ nợ, hạn chế rủi ro về tín dụng.
- Nguồn vốn bên ngoài: có thể hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng khoán ra
công chúng thông qua hai hình thức tài trợ chủ yếu: tài trợ gián tiếp qua các trung gian tài

Vai trò của đầu tư phát triển trong tăng trưởng và phát triển kinh tế:


a. Tác động của đầu tư phát triển đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ

-

nên kinh tế, thể hiện rõ nhất là tỏng ngắn hạn. khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tang
đầu tư (I) làm cho tổng cẩu (AD) tang (nếu các yếu tố khác không đổi)
AD = C + I + G + X – M
Trong đó:
C: Tiêu dùng;
I: Đầu tư;
G: Tiêu dùng của chính phủ;
X: Xuất khẩu;
M: Xuất khẩu;
Nếu biểu diễn trên đồ thị thì lượng gia tang tổng cầu AD được thể hiện ở sự dịch
chuyển của đường cầu D sang vị trí D’, kéo sản lượng cân bằng tăng theo, từ Q0Q1 và
giá cả các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng từ P0 lên P1. Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0
đến E1.
Tác động đến cung và sản lượng: Tổng cung của nên kinh tế gồm hai nguồn chính là
cung trong nước và cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm
của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…, thể hiện qua phương
trình sau:
Q = F (K, L, T, R…)
Trong đó: K: Vốn đầu tư;
L: Lao động;
T: Công nghệ;
R: Nguồn tài nguyên.

Khi vùng tiểu biên MPC càng lớn thì k càng lớn, mức gia tăng sản lượng càng lớn
dẫn đến gia tăng việc làm, tăng cầu các yếu tố sản xuất và quy mô lao động. Kết hợp các
tác động trên dẫn đến sản xuất phát triển, từ đó sản lượng gia tăng.
Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nến kinh tế là mối quan hệ
biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở lý
luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước trong thời kỳ kinh
tế tăng trưởng chậm.
b. Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa có tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng
trưởng.
Nghiên cứu tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế qua công thức
tính hệ số ICOR
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio – Tỷ số gia tăng của vốn so với sản
lương) là tỷ số giữa quy mô đầu tư thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư
cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm.
ICOR=Vốn đầu tư tăng thêm/GDP tăng thêm = Đầu tư trong kỳ/GDP tăng thêm. Ta
có thể biểu diễn ICOR dưới dạng khác. Nếu chia cả tử và mẫu số công thức trên cho GDP
ICOR = tỷ lệ vốn đầu tư /GDP)/tốc độ tăng trưởng kinh tế
Từ công thức mới cho thấy: nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đầu tư. Theo 1 số nghiên cứu của các nhà kinh tế, muốn giữ tốc độ tăng
trưởng khá cao và ổn định thì tỷ lệ đầu tư phải chiếm khoảng trên 25% so với GDP, tùy
thuộc vào ICOR của mỗi nước
Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố:


Thứ nhất, do thay đổi cơ cấu đầu tư nghành, nếu gọi ICORi là hệ số ICOR của
nghành I, αi là tỷ trọng của ngành I trong GDP, gi là tốc độ tăng trưởng của nghành I, g là
tốc độ tăng trưởng chung thì:
ICOR=∑ICORi*gi/g*αi
Thứ hai, sự phát triển của khoa học công nghệ có ảnh hưởng đến 2 mặt của hệ số

vào như việc quản lý và phân bổ các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, đồng thời cả


ở kết quả đầu ra của quá trình sản xuất với chất lượng cuộc sống được cải thiện, phân
phối sản phẩm đầu ra đảm bảo tính công bằng và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Chất lượng tăng trưởng thể hiện sự bền vững của tăng trưởng và mục tiêu tăng trưởng dài
hạn, mặc dù tố độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn là những điều kiện rất cần thiết. Đồng
thời, chất lượng tăng trưởng thể hiện ở tính hiệu quả, đặc biệt hiệu quả lan tỏa giữa các
ngành, các vùng, các khu vực kinh tế khác nhau.
Quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư trong mô
hình Harrod – Domar. Mô hình được xây dựng theo hai giả định sau:
+ Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế đối với cung lao động.
+ Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc
Nếu gọi:
Y
: sản lượng năm t
g=∆Y/Yi : tốc độ tăng trưởng kinh tế
∆Y
: sản lượng gia tăng trong kỳ
S
: tổng tiết kiệm trong năm
s=S/Yi : tỉ lệ tiết kiệm/GDP
ICOR tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng có thể viết dưới dạng tổng quát như
sau:
ICOR=∆K/∆Y nếu ∆K=I, ta có: ICOR = I/∆Y.
Ta lại có: I=S=s*Y: thay vào công thức ICOR, ta có:
ICOR= ∆K/∆Y nếu ∆K=I, ta có: ICOR= I/∆Y
Ta lại có: I=S=s*Y: thay vào công thức ICOR ta có:
ICOR=∆K/∆Y=s*Y/∆Y. từ đây suy ra ∆Y=s*Y/ICOR
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:

đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển
các ngành mới… do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành.
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có vai trò giải quyết những mất cân đối về phát triển
giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo,
phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế kinh tế, chính trị…của những
vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cũng
phát triển.
Có thể sử dụng các chỉ tiêu dưới đây để đánh giá vai trò của đầu tư trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ
cấu kinh tế của nghành = (% thay đổi tỷ trọng đầu tư của nghành/tổng vốn đầu tư xã hội
giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước)/(% thay đổi tỷ trọng GDP của nghành trong tổng
GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước). Chỉ tiêu cho biết, để tăng 1% tỷ trọng GDP
của ngành trong tổng GDP (thay đổi cơ cấu kinh tế) thì phải đầu tư cho ngành tăng thêm
bao nhiêu.
Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi GDP = (% thay đổi tỷ
trọng đầu tư của nghành nào đó/tổng vốn đầu tư xã hội kỳ nghiên cứu so với kỳ trước)/
(% thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước).
Chỉ tiêu này cho biết: để góp phần đưa tăng trưởng kinh tế (GDP) lên 1% thì tỷ
trọng đầu tư vào 1 ngành nào đó tăng bao nhiêu. Để phát huy vai trò tích cực của đầu tư
đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:


(i) Các nghành, địa phương cần có quy hoạch tổng thể phát triển KTX, trên cơ sở đó
xây dựng quy hoạch đầu tư;
(ii) Đầu tư và cơ cấu đầu tư phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội
quốc gia;
(iii) Cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng căn cứ vào thị trường chung cả nước
phát huy lợi thế so sánh của từng vùng;
(iv) Các nghành, địa phương phải có kế hoạch đầu tư phù hợp khả năng tài chính
tránh đầu tư dàn trải.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status