1
§¹i häc th¸i nguyªn
tr-êng ®¹i häc n«ng l©m
--------------------------------------------
NGUYỄN ĐỨC MẠNH
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP HỢP LÝ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG
HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN”
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
1.1.1.1.1.1.1 Mã số: 60.85.01.03
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 201
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của sản xuất nông
nghiệp, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường hoạt
ép về gia tăng dân số nên một số năm gần đây trong sản xuất nông nghiệp ở
huyện Đồng Hỷ chưa chú trọng đúng mức việc sử dụng đất đai mà chỉ quan
tâm đến năng suất sản lượng cây trồng. Chính vì vậy, hệ sinh thái nông nghiệp
đã bị thay đổi đáng kể và tính hợp lý trong hệ thống nông nghiệp không được
duy trì. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ làm thoái hoá đất đai đặc
biệt là ở các vùng sản xuất chuyên canh.
Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất nông nghiệp
hiện có, góp phần bảo vệ môi trường. Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“
đề xuất giải pháp sử
trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ là cơ sở
định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai theo hướng phát
triển nông nghiệp hợp lý.
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao
mức thu nhập của người dân.
- Đề xuất các giải pháp sử dụng đất sản xuất nông nghiệp nhằm phát
triển nông nghiệp hợp lý.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Là căn cứ nhằm giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách tham
khảo, cân nhắc để hoàn thiện chủ trương, chính sách hỗ trợ người dân có đất
sản xuất nông nghiệp sử dụng đúng mục đích, có hiệu kinh tế quả cao. Những
kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực
tiễn để đánh giá chung hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát
triển hợp lý.
1.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu
thí nghiệm về nông nghiệp. Theo Luật đất đai 2003 trong phân loại đất thì đất
nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây "đất trồng cây hàng năm, đất trồng
cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất
nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”.
Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích trồng trọt trên toàn thế giới còn
khoảng gần 15 tỷ ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên trái đất, trong đó
có khoảng 973 triệu ha là đất vùng núi. Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới
544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất do sử dụng đất không hợp lý [43].
Theo Tổng cục Thống kê, tổng diện tích đất nông nghiệp thời điểm 1-12011 gần 26,21 triệu ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp gần 10,13
triệu ha (hơn 38,64%), đất lâm nghiệp gần 15,4 triệu ha (hơn 58,6%)… Tại thời
điểm trên, đất trồng lúa hơn 4,12 triệu ha, giảm khoảng 32 nghìn ha so 5 năm
trước. Dân số là 83.121,0 triệu người, bình quân diện tích đất nông nghiệp là
1.132,75 m2/người, bình quân đất lâm nghiệp là 1.765,78 m2/người. So sánh
với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp
hàng thứ 4, nhưng dân số lại xếp hàng thứ 2 nên bình quân diện tích tự nhiên
trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực.
Theo quy hoạch sử dụng đất đến giai đoạn 2010 - 2020 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường, diện tích đất nông nghiệp tăng từ 8.793.783 ha (năm
2005) lên 9.363.063 ha (năm 2010). Tuy nhiên, dân số nước ta cũng tăng từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
6
77.635.400 người (năm 2005) lên 86.408.856 người (năm 2010). Bình quân
7
cùng lớn đến vấn đề sử dụng đất, những diện tích đất đai màu mỡ ngày càng
bị thu hẹp trước những nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá… dẫn đến con
người phải tìm cách khai thác những vùng đất ít thích hợp cho sản xuất. Hậu
quả của quá trình này là đất đai bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng
làm một diện tích lớn đất đai trên thế giới bị suy kiệt, ngoài ra còn ảnh hưởng
đến môi trường sống của con người và nhiều loài động thực vật khác.
Nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con người hiện tại cũng như thế hệ
tương lai nên cần phải có những chiến lược sử dụng đất đảm bảo duy trì khả
năng sản xuất của đất ở hiện tại cũng như tương lai. Thuật ngữ “sử dụng đất
hợp lý ” ra đời dựa trên những mong muốn trên. Việc tìm kiếm các giải pháp sử
dụng đất một cách hiệu quả và hợp lý luôn là mong muốn của con người trong
suốt cả thời gian. Việc sử dụng đất hợp lý là sử dụng đất với tất cả những đặc
trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất. Thuật
ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ
văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai.
Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất
đai” trong sử dụng đất hợp lý bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp lý
của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai
có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả
năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng
chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến
khả năng cơ giới hoá. Để duy trì được sự hợp lý của đất đai, Smyth AJ và
Julian Dumanski (1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng
đất hợp lý là [41]:
Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất.
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất.
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự
lý. Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc
với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng
những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
9
một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại và phát triển của bất cứ ngành
kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ
bản. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả
mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một
giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền
cơ bản của con người.
1.1.3. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp:
Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học,
kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hoá
cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu.
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn
hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện
thâm canh toàn diện và liên tục.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa
dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây
trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và
bảo vệ môi trường.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với
định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
chu trình của các nguyên tố (ví dụ, C, N, và S) cùng với các hệ quả sinh thái
toàn cầu. Một hệ quả toàn cầu chính của sự mất, đốt, và chuyển hoá rừng
thành các hệ thống sử dụng đất không hợp lý là sự phóng thích của những
lượng lớn CO2 và các chất hoạt động phóng xạ hay các khí gây hiệu ứng nhà
kính vào khí quyển. Nếu các phương pháp chuyển hoá rừng, sử dụng đất và
các hệ thống nông nghiệp được cải thiện dựa trên các hiểu biết khoa học
không được chấp nhận rộng rãi trong tương lai gần, sự nhiễu loạn lớn trong
các hệ sinh thái mong manh của rừng mưa nhiệt đới có thể dẫn tới sự xuống
cấp không hồi phục được của đất và môi trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
11
1.2.1. Các hệ thống canh tác chính trong vùng nhiệt đới ẩm
Vì các hệ thống canh tác trong vùng nhiệt đới dựa ít hay không dựa vào
các nhập lượng từ bên ngoài và được tiến hành trên đất không màu mỡ, chúng
thường có hiệu quả và năng suất thấp. Các hệ thống này có các đặc trưng sau:
- Rất đa dạng và phức tạp, nông dân gieo trồng đồng thời đến 12 loài hoa
màu trên cùng mảnh đất, vì đa canh là phương thức phổ biến.
- Dựa vào tài nguyên và thâm canh lao động, với sự phụ thuộc tối thiểu
vào các nhập lượng mua từ bên ngoài. Sự phục hồi độ phì của đất dựa trên
thời gian bỏ hoá dài. Thời gian canh tác so với thời gian bỏ hoá phụ thuộc vào
khí hậu, thảm thực vật, loại đất, và áp lực dân số.
- Quy mô nông trại nhỏ (1-2 ha) phù hợp để quản lý bởi hộ gia đình và
sản xuất thủ công.
1.2.2. Sự xuống cấp của đất trong vùng nhiệt đới ẩm
Tổng diện tích bị xuống cấp do các tiến trình suy thoái của đất khác nhau
trên thế giới được ước lượng vào khoảng 2 tỷ ha. Diện tích đất bị xuống cấp lớn
quán về quyền sử dụng đất; và vài đặc trưng văn hoá và dân tộc học xác định
nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Các yếu tố của sự xuống cấp của đất
có liên quan đến các tài nguyên tự nhiên, bao gồm khí hậu vi mô và trung quy
mô, thuỷ văn, địa hình và cảnh quan, thảm thực vật, sử dụng đất, và các hệ
thống quản lý đất và hoa màu. Các yếu tố thể hiện các tài nguyên tự nhiên,
hoạt động sử dụng đất, và mức nhập lượng dựa trên khoa học để khai thác các
tài nguyên. Tác dụng tương tác của các nguyên nhân và các yếu tố này kích
hoạt vài cơ chế và tiến trình dẫn tới sự suy giảm khả năng chống chịu và chất
lượng đất, chất lượng môi trường, và sức sản xuất của cơ sở tài nguyên [47].
1.3. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp theo hƣớng hợp lý
1.3.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
a. Một số vấn đề lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
13
Hiệu quả là một thuật ngữ mà con người thường dùng để chỉ mục tiêu
cho mọi hành động có chủ đích. Và sau này trong ngôn ngữ học phát triển,
cụm từ “hiệu quả” được hiểu như một phạm trù triết học. Quan niệm khá
“nguyên thuỷ” của một nhà kinh tế học người Mỹ, Peter F, Drucker, giáo sư
về quản lý tại New York University, cho rằng: Xét cho cùng mang lại hiệu
quả “effect” là cái mà mỗi người khi làm bổn phận của mình, dù trong môi
trường nào đều mong đợi công việc được hoàn tất đúng. Thật vậy trước kia
khi nhận thức còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là
một. Về sau xã hội càng văn minh, nhận thức con người phát triển lên thì dần
đi đến sự phân biệt kết quả và hiệu quả. Có nhiều quan niệm khác nhau về
Là hiệu quả do tổ chức bố trí sản xuất hợp lý để đạt được lợi nhuận cao
với chi phí thấp hơn. Như vậy hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hay một
quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác các yếu
tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý. Nó biểu hiện bằng
hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản
xuất phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xác định bằng cách so sánh kết
quả thu được với chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh trình độ
và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết
quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu.
Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm
để đạt được các loại hiệu quả khác. Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá
bằng các chỉ tiêu kinh tế tài chính.
* Hiệu quả xã hội:
Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con
người, có tác động tới mục tiêu kinh tế. Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng
các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng.
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu bằng khả
năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp.
* Hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá
học, sinh học, vật lý... chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
15
của các loại vật chất trong môi trường. Hiệu quả môi trường phân theo
nguyên nhân gây nên gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi
Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ
thống. Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đảm bảo tính so sánh có
thang bậc.
Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định chỉ tiêu chính, chỉ
tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn
đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung
kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông
nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối
ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học, phải có
tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Xuất phát từ bản chất của hiệu quả là nói lên mối quan hệ giữa kết quả
và chi phí, mối quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số
nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả là:
H=K-C
H = K/C
H= (K - C)/C
H= (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó: H: Hiệu quả
K: Kết quả
C: Chi phí
0 và 1 là chỉ số về thời gian
Tuỳ vào các hệ thống tính toán khác nhau mà các chỉ tiêu kết quả và
Công thức: IC =
n
Ci
i 1
Trong đó: Ci: Là khoản chi phí thứ i
+ Giá trị gia tăng VA (Value Added): Là giá trị tăng thêm hay giá trị
sản phẩm mới tạo ra trong quá trình sản xuất VA=GO - IC
+ Thu nhập hỗn hợp NVA (Net Value Added): Là phần trả cho người
lao động (cả lao động chân tay và lao động quản lý) cùng tiền lãi thu được
trên từng loại hình sử dụng đất. Đây chính là phần thu nhập đảm bảo đời sống
người lao động và tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng.
Ta có: NVA = VA - Dp - T (Dp là khấu hao tài sản cố định, T là thuế
sử dụng đất).
+ Giá trị ngày công lao động(Hlđ):
Hlđ=VA/số công lao động/ha/năm
+ Hiệu quả đồng vốn (hiệu quả trên một đơn vị chi phí) = NVA/IC
* Hiệu quả xã hội:
+ Nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội, khoa học, kỹ
thuật: Kết quả của quá trình sử dụng đất phải đưa lại những lợi ích như nâng
cao trình độ dân trí và những hiểu biết xã hội. Kiến thức, kinh nghiệm của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
18
/>
19
đất nhiều hơn, trong khi cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các
dạng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật... đều là những nguyên nhân làm
tổn hại môi trường. Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu
thuẫn trên. Vì vậy, một số tiêu chí đưa ra khi đánh giá đến hiệu quả môi
trường trong sử dụng đất là:
+ Tăng độ che phủ rừng, giảm thiểu thiên tai.
+ Độ phì nhiêu của đất.
+ Chế độ tưới tiêu.
+ Chế độ bón phân và sử dụng thuốc trừ sâu.
+ Hạn hán và úng ngập.
+ Bảo vệ nguồn nước cho cây trồng va nước sinh hoạt của con người.
+ Ý thức của con người trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
+ Cải tạo, bảo tồn thiên nhiên.
+ Sự thích hợp môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.
1.3.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ
cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
- Nâng cao thu nhập, tạo nhiều lợi ích cho người sử dụng đất.
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất.
- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước.
1.4. Những xu hướng sử dụng đ
am
quản lý được vận dụng phù hợp và hợp lý vào điều kiện cụ thể của mỗi nước,
mỗi vùng. Đó là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và hợp lý.
1.4.2. Xu hướng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Theo văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006), định hướng phát
triển ngành nông lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 sẽ là:
- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường
và điều kiện sinh thái của từng vùng. Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
21
nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng
và sức cạnh tranh của sản phẩm. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong
và ngoài nước. Quy hoạch hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất,
nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo vệ môi trường.
- Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả
năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cao chất lượng. Đảm bảo an ninh
lương thực trong mọi tình huống. Xây dựng các vùng sản xuất tập trung, có
chính sách bảo đảm đảm lợi ích của người sản xuất lương thực.
- Bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao độ che phủ của rừng lên 43%.
Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội
hoá lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm lâm nghiệp sống được
bằng nghề rừng. Kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp, đẩy nhanh trồng rừng
kinh tế, tạo nguồn gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu, nâng cao giá trị sản
phẩm rừng.
- Chú trọng tạo và sử dụng giống cây có năng suất, chất lượng và giá trị cao.
bảo vệ đất ở những nơi có hệ sinh thái bị phá vỡ và chương trình việc làm, sử
dụng lao động nông thôn. Mỗi chương trình có mục tiêu chủ yếu khác nhau,
nhưng tựu chung lại các chương trình đều nhằm mục đích khai thác sử dụng
đất đai ngày càng có hiệu quả hơn.
Ở Inđônêxia, Luật đất đai ghi rõ người dân có quyền sử dụng trong 10
năm, quyền sở hữu không được vĩnh viễn khi Nhà nước có nhu cầu xây dựng
công trình công cộng. Các chương trình bảo vệ đất cũng đã được thực hiện
nhằm bảo vệ các vùng đất bậc thang và trồng cây theo đường đồng mức.
Ngoài ra, Chính phủ ưu tiên hàng đầu cho chương trình phát triển lương thực
nhằm tìm ra các giống cây trồng lương thực, cây đậu đỗ phù hợp với đặc điểm
điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái. Kết quả là đã tạo được một số
giống ngô có năng suất cao chất lượng tốt, ví dụ: Giống ngô trắng Bague có
thời gian sinh trưởng 90 ngày, năng suất đạt 4 - 5 tấn/ha so với giống ngô cũ
chỉ đạt 1 - 2 tấn/ha; hoặc cây lúa Miến là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao,
làm thức ăn cho người và gia súc có năng suất đạt 3,50 tấn/ha có thể trồng tái
giá, sức chống chịu sâu bệnh tốt với đầu tư chi phí thấp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
23
1.5.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam
1.5.2.1. Hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp
Tại Việt Nam, đất đai càng có vai trò quan trọng do bình quân đất nói
chung, đất nông nghiệp nói riêng trên đầu người thấp. Chính vì thế, từ khi
giành được độc lập được đến nay, chính sách đất nông nghiệp và nông dân
luôn giữ vị trí quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta. Hơn nữa, trong một nước còn hơn 70% dân cư sống ở nông thôn thì chính
65 - 70 tạ/ha. Giống ngô Bioseed; giống LVN10; LVN11 đạt năng suất trung
bình 55 - 65 tạ/ha, nếu thâm canh tốt năng suất có thể đạt 80 - 90 tạ/ha. Các
giống cây thực phẩm như đỗ, đậu tương, lạc, cũng được chú trọng nghiên
cứu để luân canh với ngô, lúa.
1.5.2.3. Xây dựng hệ thống canh tác và mô hình sử dụng đất phù hợp với các vùng
Vấn đề luân canh, tăng vụ, chuyển vụ để sử dụng tốt hơn các điều kiện
về đất đai, khí hậu, thời tiết và nguồn lao động trong nông thôn. Cũng được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Đối với đất trồng lúa vùng Đồng bằng sông
Hồng, dựa trên đánh giá hiện trạng và khả năng hiệu quả chuyển đổi theo tác
giả Bùi Thị Ngọc Dung sẽ chuyển từ 1 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa bấp bênh sang lúa
+ cá kết hợp với trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm. Với loại hình sử dụng
đất lúa hai vụ (vùng ven biển thuộc tỉnh Ninh Bình và Thái Bình) chuyển sang
trồng cói. Đất lúa hai vụ ở các xã ven các đô thị lớn chuyển sang trồng rau
sạch, hoa và cây cảnh. Các huyện ven biển sẽ tăng diện tích nuôi trồng thuỷ
sản do chuyển từ đất lúa một vụ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
25
Chƣơng 2
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đất sản xuất nông nghiệp và vấn đề liên quan đến sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất