MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 7
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU
VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY, PHẦN THUỘC ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI ......................................................................................................................... 9
1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên .................................................................................. 9
1.1.1. Vị trí địa lý ................................................................................................ 9
1.1.2. Địa hình địa mạo..................................................................................... 10
1.1.3. Đặc điểm thổ nhưỡng .............................................................................. 13
1.1.4. Đặc điểm khí hậu .................................................................................... 13
1.1.5. Đặc điểm thủy văn................................................................................... 17
1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ............................................................................... 22
1.2.1. Dân cư ..................................................................................................... 22
1.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................ 23
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TỔN THƯƠNG VÀ CÁC
BƯỚC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ, NGẬP LỤT ..... 25
2.1. Các khái niệm về tính dễ bị tổn thương ......................................................... 25
2.2. Sự cần thiết đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ .......................................... 27
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................ 29
2.4. Các bước đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ, ngập lụt ............................... 31
2.5. Giới thiệu mô hình MIKE FLOOD ................................................................ 33
2.5.1. Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE 11 ........................................................... 34
2.5.2. Cơ sở lý thuyết mô hình MIKE 21 ........................................................... 38
2.5.3. Các nguyên tắc coupling trong MIKE FLOOD ...................................... 39
1
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE FLOOD MÔ PHỎNG NGẬP
LỤT LƯU VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI ....................................................................................................................... 42
với số liệu lưu lượng thực đo, trạm Hưng Thi ...................................................... 47
Hình 3.4. So sánh giữa kết quả tính toán kiểm định mô hình mưa dòng chảy
với số liệu lưu lượng thực đo, trạm Ba Thá .......................................................... 48
Hình 3.5. So sánh giữa kết quả tính toán kiểm định mô hình mưa dòng chảy
với số liệu lưu lượng thực đo, trạm Hưng Thi ..................................................... 49
Hình 3.6. Sơ đồ mạng sông trong MIKE 11 ....................................................................... 50
Hình 3.7. Sơ đồ mạng lưới thủy lực 1D .................................................................... 51
Hình 3.8. Giới hạn miền tính toán 2D ................................................................... 53
Hình 3.9. Lưới tính khu vực nghiên cứu ............................................................... 53
Hình 3.10. Kết nối trong mô hình MIKE FLOOD .............................................. 54
Hình 3.11. Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại trạm Phủ Lý
(Trận lũ 10/2007) .................................................................................................... 54
Hình 3.12. Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại trạm Phủ Lý
(Trận lũ 11/2008) ..................................................................................................... 55
Hình 3.13. Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại trạm Ba Thá
(Trận lũ 11/2008) ..................................................................................................... 56
Hình 3.14. Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán tại trạm Hà Đông
(Trận lũ 11/2008) ..................................................................................................... 56
Hình 3.15. Quá trình mưa giờ thực đo trận mưa thiết kế 1% ............................. 58
Hình 3.16a. Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ- Đáy (phần thuộc thành phố Hà
Nội) ứng với mưa tần suất 1% tại trạm Láng ...................................................... 59
Hình 3.16b. Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ- Đáy (phần thuộc thành phố
3
Hà Nội) ứng với mưa tần suất 2% tại trạm Láng ................................................ 60
Hình 3.16c. Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ Đáy (phần thuộc thành phố Hà
Nội) ứng với mưa tần suất 5% tại trạm Láng ...................................................... 61
Hình 3.16d. Bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhuệ- Đáy (phần thuộc thành phố
Bảng 3.6. Các biên sử dụng trong mô hình ........................................................... 51
Bảng 3.7. Các kết nối đã thực hiện trong MIKE FLOOD ................................... 53
Bảng 3.8. Diện tích ngập lớn nhất tính toán và thực tế trong trận mưa 2008
(lưu vực sông Nhuệ Đáy, phần thuộc thành phố Hà Nội) ................................... 57
Bảng 3.9: Giá trị mưa 2 ngày lớn nhất ứng với các tần suất thiết kế .................... 58
Bảng 3.10: Trọng số của các yếu tố tạo lên nguy cơ lũ ........................................ 63
Bảng 4.1: Tính dễ bị tác động của nhóm sử dụng đất .......................................... 68
Bảng 4.2: Ma trận tính toán sự lộ diện của các đối tượng trước lũ, ngập lụt .... 69
Bảng 4.3. Ma trận tính toán mức độ tổn thương do lũ, ngập lụt ........................ 75
Bảng 4.4: Thống kê diện tích tổn thương theo các cấp độ ................................... 75
5
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HD:
Hydraulic Dynamic (Thủy động lực)
IPCC:
Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên chính phủ về
Biến đổi khí hậu)
ISDR:
International Strategy for Disaster Reduction (Chiến lược giảm nhẹ
thiên tai quốc tế)
KTTV:
MỞ ĐẦU
Ngập lụt là một trong những tai biến tự nhiên, thường xuyên đe dọa cuộc
sống của người dân và sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta. Lũ lụt đã để lại hậu
quả hết sức nặng nề, hàng ngàn hộ dân bị ngập lụt, các công trình bị tàn phá, các
hoạt động kinh tế - xã hội bị gián đoạn. Quá trình đô thị hoá mạnh cùng với sự tác
động của Biến đổi Khí hậu và tình hình mưa lớn gây ra ngập úng trên các khu đô thị
diễn ra với tần suất lớn dần.
Lưu vực sông Nhuệ Đáy là một tiểu lưu vực thuộc hệ thống sông Hồng –
Thái Bình, phần lớn diện tích thủ đô Hà Nội nằm trên lưu vực này. Đây là một lưu
vực sông có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng,
tuy nhiên đây cũng là một khu vực dễ chịu tác động của ngập lụt mỗi khi mưa lớn.
Khác với nguyên nhân gây lũ lụt miền Trung chủ yếu là do nước tràn bờ, các địa
phương đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt thành phố Hà Nội thường xuyên bị úng ngập
gây ra bởi mưa nội đồng, nguyên nhân do đã có hệ thống đê kiên cố vừa ngăn
không cho nước dâng từ sông vào nhưng lại khiến việc tiêu úng nội đồng gặp nhiều
khó khăn. Để tăng cường ứng phó với ngập úng ngoài các biện pháp công trình (đê
kè, hồ chứa thượng lưu, các trạm bơm tiêu...) thì các biện pháp phi công trình đóng
vai trò rất quan trọng, mà phần lớn trong số đó có tính dài hạn và bền vững như các
biện pháp quy hoạch sử dụng đất và bố trí dân cư, nâng cao nhận thức của người
dân. Mặt khác, ứng phó nhanh với lũ lụt bằng các biện pháp tức thời như cảnh báo,
dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến khu vực an toàn,... đã tỏ ra rất hiệu
quả trong việc hạn chế những thiệt hại về người và tài sản.
Việc nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương gây ra do ngập lụt trên khu vực
nghiên cứu là rất cần thiết. Để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt tác
động tới kinh tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng
hợp rủi ro thiên tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại
của lũ gây ra. Đây cũng là lý do dẫn đến sự hình thành luận văn “ Nghiên cứu xây
dựng bản đồ tính dễ bị tổn thương cho lưu vực sông Nhuệ Đáy trên địa bàn
thành phố Hà Nội”. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn cho các nhà
tới cửa Ba Lạt với tổng chiều dài khoảng 242 km.
- Phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài
khoảng 33 km.
- Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa lưu vực sông Hồng và lưu
vực sông Mã bởi dãy núi Ba Vì, Cúc Phương - Tam Điệp, kết thúc tại núi
Mai An Tiêm (nơi có sông Tống gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn
dài 10 km rồi đổ ra biển tại cửa Càn.
- Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài khoảng 95 km từ cửa
Ba Lạt tới cửa Càn.
Trong đó sông Đáy là dòng sông chính của lưu vực, bắt nguồn từ sông Hồng
thông qua hệ thống phân chứa lũ Vân Cốc thuộc huyện Phúc Thọ chảy qua các tỉnh
Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định trước khi đổ ra biển Đông tại cửa Đáy.
Sông Đáy có chiều dài khoảng 250 km.[3]
Sông Nhuệ là một phụ lưu lớn của sông Đáy, cũng lấy nước từ sông Hồng
qua cống Liên Mạc ở Từ Liêm, Hà Nội chảy qua các các quận: Cầu Giấy, Hà Đông,
huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Hoài Đức, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên rồi đổ
vào sông Đáy tại Phủ Lý (Hình 1.1).
Ngoài ra, trên lưu vực còn có nhiều các sông nhỏ, là phụ lưu của sông Đáy
hoặc sông Nhuệ, một số phụ lưu chính như: Sông Bùi (Hòa Bình, Hà Nội); sông
9
Thanh Hà (Mỹ Đức); sông Hoàng Long (Ninh Bình); sông Vân, sông Sắt, sông Đào
(Nam Định)...
Phần lớn diện tích thành phố Hà Nội thuộc lưu vực sông Nhuệ Đáy, trừ Quận
Gia Lâm, một phần Quận Long Biên, huyện Mê Linh và Sóc Sơn. Khu vực nghiên
cứu nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,
có vị trí từ 20034’ đến 21017’ độ vĩ Bắc và 105017’ đến 106000’ kinh độ Đông (Hình
1.1). Có ranh giới tự nhiên là sông Hồng ở phía Bắc và Tây. Tổng diện tích thủ đô
Địa hình đồi được tách ra với địa hình núi và đồng bằng bởi độ chênh cao
Tây của cục thống kê thành phố Hà Nội trong niên giám thống kê Hà Nội năm 2009
cho thấy: trung bình một năm tại trạm Láng có số giờ nắng 1338,6 giờ và tại trạm
13
Sơn Tây là 1341,9 giờ. Nhiều nhất là vào các tháng mùa hè đặc biệt là tháng VII
tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm trung bình 165,4 giờ đối với Láng và 175,6 giờ
đối với Sơn Tây. Còn vào các tháng mùa đông (II - III) có nhiều ngày âm u mưa
phùn nên số giờ nắng trung bình một năm là ít khoảng 42,7 giờ đối với Láng; 40,9
giờ đối với Sơn Tây.
Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tới 42,80C, thấp nhất tuyệt đối chỉ
2,70C, trung bình năm dao động trong khoảng 23 240C với cơ chế hoàn lưu gió đã
tạo ra sự phân hóa rõ rệt theo hai mùa:
- Mùa nóng từ tháng V-X, có nhiệt độ trung bình tháng từ 24,00C đến 29,30C.
Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng VII.
- Mùa lạnh từ tháng XI-IV, có nhiệt độ trung bình tháng từ 16,60C đến 21,60C
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng chung của sự biến đổi khí hậu toàn
cầu, nhiệt độ không khí có xu hướng tăng cao nên nền nhiệt độ không khí trung bình
năm của những năm gần đây cũng tăng lên (như năm 1998 là 25,10C).
Độ ẩm
Độ ẩm không khí trong khu vực nghiên cứu khá lớn, trung bình năm dao
động trong khoảng 84 86%. Mùa có mưa phùn (tháng III và IV hàng năm) là thời
kỳ ẩm ướt nhất còn nửa đầu mùa đông (tháng XII và tháng I hàng năm), do ảnh
hưởng gió mùa Đông Bắc khô hanh nên là thời kỳ khô nhất của năm.
Diễn biến của lượng bốc hơi phụ thuộc vào diễn biến của nhiệt độ và độ ẩm
không khí. Lượng bốc hơi tháng bình quân nhiều năm dao động trong khoảng 60
100 mm. Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm là tháng VII, tới 98 mm. Thời
kỳ khô hanh đầu mùa đông cũng là thời kỳ có lượng bốc hơi lớn, trung bình dao
của áp thấp vịnh Bắc Bộ và cao áp Thái Bình Dương, dải hội tụ nhiệt đới, bão kết
hợp với không khí lạnh và xoáy thấp vịnh Bắc Bộ, đường đứt kết hợp với rãnh áp
thấp nóng phía Tây bị nén và xoáy thuận tầng cao. Ngoài ra, hoạt động của gió mùa
Tây Nam hoặc Đông Nam cũng gây ra những trận mưa rào, mưa dông có cường độ
lớn. Hàng năm, khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của 8 10 cơn bão hoặc áp
thấp nhiệt đới.
15
Bốc hơi
Lượng bốc hơi phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nắng vào gió và phụ thuộc vào
lượng mưa trên địa bàn tỉnh. Lượng bốc hơi trung bình năm ở Hà Nội là 978,9 mm,
lượng bốc hơi trung bình tháng ở Hà Nội từ 82,6 – 98,2 mm. Các tháng có lượng
bốc hơi lớn nhất trong năm là các tháng trong mùa hè và đầu mùa đông (V-XII) do
có lượng mưa lớn và số giờ nắng nhiều.
- Các tháng có lượng bốc hơi ít nhất là tháng I-IV, lượng bốc hơi trung bình
tháng từ 57,2 - 69,6 mm.
- Các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là VI-VII, lượng bốc hơi trung bình
tháng từ 98,2 - 110,1 mm.
Sương mù
Số ngày có sương mù ở Hà Nội tương đối ít, trung bình năm chỉ là 10 ngày.
Tháng có số ngày có sương mù nhiều nhất là tháng XII và tháng I, trung bình tháng
có 2,0 -2,8 ngày. Tháng VI-VIII không có sương mù.
Các đặc trưng nhiều năm của nhiệt độ không khí tại Hà Nội và trạm khí
tượng Láng theo số liệu của Cục thống kê Hà Nội được thể hiện trong bảng 1.1 và
bảng 1.2.
Tốc độ gió
Tốc độ gió trung bình năm ở Hà Nội là 1,9 m/s. Tốc độ gió trung bình từng
tháng biến đổi không nhiều (từ 1,6 m/s đến 2,2 m/s).
VII
VIII
IX
X
XI
33,2 33,9 36,8 39,1 42,8
39,9
40,3
36,8
37,8
36,4
36,3 36,5
42.8
19.3 19.9 22.8 27.0 31.5
32.6
21,1
21,9
20,7
16,6
14,1
7,3
2.7
7,2
V
9,9
15,6
XII
Năm
VI
6,1
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII Năm
83
86
86
82
28
24
17
25
17
48.8
47.2
91
180
167.9
189.7
171
173
163,6
139 121,.5 1562
30
28
34
31
28
19
22
18
34
NE
NNE
W
SW
WNW
N
Lưu lượng của sông bất thường, vào mùa mưa lũ thường rất lớn, với đặc điểm
dòng sông quanh co uốn khúc do vậy dễ tạo ra những ghềnh nước lớn. Đến mùa
khô thì lòng sông có chỗ cạn lội qua được nên thượng lưu sông Đáy thuyền bè
không dùng được.
Xuôi đến Vân Đình thì lòng sông rộng ra, lưu lượng chậm lại nên có thể đi
thuyền được. Đến địa phận huyện Mỹ Đức, sông Đáy tiếp nhận dòng suối
Yến (thủy lộ vào chùa Hương). Vượt đến tỉnh Hà Nam khi sông chảy vào thành
phố Phủ Lý, sông Đáy nhận được sự góp nước của dòng sông Nhuệ từ phía tả ngạn.
Sông Đáy tiếp tục hành trình xuôi Nam đón sông Bôi (sông Hoàng Long) bên hữu
ngạn từ miền núi tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình dồn về tại ngã ba Gián Khẩu,
cách thành phố Ninh Bình khoảng 10 km về phía Bắc. Đoạn này sông được
gọi sông Gián Khẩu. Qua khỏi Ninh Bình khoảng 20 km thì bên tả ngạn có phụ lưu
là sông Đào (sông Nam Định) thêm nước. Gần đến biển, sông Đáy chuyển hướng từ
Tây Bắc - Đông Nam sang Đông Bắc - Tây Nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở Cửa Đáy,
xưa gọi là cửa Đại An (hay Đại Ác) thuộc huyện Kim Sơn.
Kể từ năm 1937, khi Đập Đáy xây dựng xong cho đến Hòa Bình, đập Đáy
mới vận hành ba lần vào các năm 1940, 1945, 1947. Khi đập Đáy không làm việc
thì mực nước và lưu lượng trong đoạn sông từ Tân Lang trở lên phụ thuộc hoàn
toàn vào lượng nước mưa và nước tiêu trong lưu vực. Từ sau năm 1971 đến nay,
mặc dù chưa phải phân lũ nhưng do có nhiều công trình tiêu úng trực tiếp vào sông
nên mực nước về mùa lũ tăng lên rất cao. Hiện nay sông Đáy vẫn là nguồn chính
cấp cho nhiều sản xuất tập trung hai bên bờ sông. Do khả năng tiếp nhận và chuyển
tải nước lớn nên sông Đáy là nơi nhận nước tiêu chủ yếu của hệ thống sông Nhuệ.
[3]
18
Sông Nhuệ tức Nhuệ Giang là một con sông nhỏ dài 74 km, diện tích lưu
vực khoảng 1075 km2 (phần bị các đê bao bọc) chảy ngoằn ngoèo gần như theo
Nam Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, xuôi về Cầu Bươu, hợp với sông Nhuệ, sông Thiên
Đức, sông Nghĩa Trụ, sông Cheo Reo, Ngũ Huyện Giang, sông Kim Ngưu... (Bảng
1.3)
Các sông trên khu vực nghiên cứu đa số bị tình trạng lấn chiếm, đổ phế thải
hai bên bờ, cũng như bùn đất theo nước thải chảy xuống làm cho hẹp lại và nông.
Hiện Hà Nội đang thực hiện các dự án "xanh hóa" các con sông với các biện pháp
như kè bờ, nạo vét, xây dựng hệ thống lọc nước thải trước khi đổ xuống sông.
Bảng 1.3. Một số đặc trưng hình thái sông ngòi, kênh mương lưu vực sông
Nhuệ Đáy (phần thuộc thành phố Hà Nội) [3]
Tên sông
Chiều dài
Chiều rộng
Độ sâu
Hệ số uốn
(km)
(m)
(m)
khúc
S. Tô Lịch
S. Nhuệ
29,0
S. Đáy
250,0
1,53
Khu vực nghiên cứu cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, mang dấu
vết của các con sông cổ. Toàn thành phố có trên 80 hồ và ao (tính kể cả những ao có
diện tích mặt nước từ 1ha trở lên). Trong khu vực nội thành, Hồ Tây, Hồ Trúc. Cùng
với Hồ Tây, trong khu vực Hà Nội còn có các hồ nổi tiếng như Trúc Bạch, Thiền
Quang, Thủ Lệ... và các đầm lớn như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô,
Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn (Bảng 1.4). Các hồ tự nhiên
này là nơi trữ nước tạm thời mỗi khi mưa lớn, có chức năng điều tiết nước bên cạnh
các chức năng khác về sinh thái, cảnh quan, môi trường. Tuy nhiên, mạng lưới sông
ngòi, đầm hồ khu vực Hà Nội ngày càng bị thu hẹp do sự phát triển đô thị hoá, thậm
chí rất nhiều hồ đã bị lấp, phần lớn các hồ hiện nay bị ô nhiễm nghiêm trọng từ chất
thải sinh hoạt và công nghiệp.
20
Bảng 1.4. Các hồ chính trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Diện
Tên Hồ
TT
Hồ Quỳnh
0.7
66
Hồ Suối Hai
1000.0
2
Hồ Bách Thảo
1.0
35
Hồ Tiền
0.5
67
Hồ Thạch Sa
37.9
3
Hồ Cẩm Quỳ
77.2
5
Hồ Thủ Lệ
12.0
38
Hồ Yên Sở
145.6
70
Hồ Yên Thịnh
29.7
6
Hồ Ngọc Khánh
3.5
39
Hồ Thành Công
6.8
41
Hồ Đồng Khuyến
2.7
73
Hồ Cua
9
Hồ Ngọc Hà
0.4
42
Đầm Bông
1.2
74
Đầm Dương
76
Hồ Lụa
26.3
12
Ao Cầu
0.2
45
Hồ Đền Lừ
4.8
77
Hồ Suối Ngọc
10.4
13
Hồ Ba Mẫu
4.5
15
Hồ Xã Đàn
4.5
48
Hồ Tây
567.0
80
Hồ Kỳ Viên
11.3
0.6
49
Hồ Quảng Bá
6.1
81
Hồ Dương Kỳ
18
Hồ Huy Văn
1.3
51
Hồ Bụng Cá
3.4
83
Hồ Văn Sơn
167.0
19
Hồ Xã Đàn
4.5
52
Hồ Lấn lớn
8.3
86
21
Hồ Khương
Thượng
21
Hồ Quan Sơn và
Tuy Lai
17.2
850.0
22
Hồ Kim Liên
5.0
55
Hồ Mễ Trì
4.5
87
Đầm Sót
1.2
89
Hồ Văn Quán
5.7
25
Hồ Hố Mẻ
1.3
58
Đầm Chuối
3.3
90
Đầm Khê
4.5
26
Hồ Bảy Mẫu
23.1
61
Đầm Đông Trạch
3.1
29
Hồ Thiền Quang
5.0
62
Đầm Lớn
30
Hồ Hai Bà Trưng
1.3
63
Hồ Vĩnh Ninh
79.3
3.0
1450.0
104.0
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ- XÃ HỘI
Khu vực nghiên cứu là phần lớn thành phố Hà Nội, trung tâm chính trị, hành
chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế của cả nước nên tập trung các cơ quan đầu
não của Chính phủ, các sứ quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế; có nhiều đầu
mối giao thông, dễ thông thương với bên ngoài.
Có nguồn và chất lượng lao động khá tốt và đồng đều, có tiềm lực khoa học
kỹ thuật lớn mạnh, có nền tảng và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tốt cùng với
nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, có khả năng thu hút và hấp dẫn lượng khác du lịch
trong và ngoài nước. Đặc biệt hội tụ đầy đủ điều kiện và tiềm lực hội nhập với các
khu vực tam giác phát triển của Châu Á và trên thế giới.
1.2.1. Dân cư
Toàn bộ lưu vực sông Nhuệ Đáy có diện tích tự nhiên 7665 km2, chiếm
khoảng hơn 2% diện tích cả nước. Các tỉnh trên lưu vực sông Nhuệ- Đáy bao gồm 5
tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hà Nam, Hoà Bình, Ninh Bình, Nam Định. Dân số của 5
22
tỉnh trong toàn lưu vực là 10.929.470 người (2009), mật độ dân số trung bình đạt
989 người/km2.
Khu vực nghiên cứu có diện tích: 2361 km2, dân số khoảng 5,7 triệu người.
Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 38.936 người/km2, trong khi đó, ở
những huyện như ngoại thành như Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km2.[2]
1.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đây là khu vực có dân cư, KT - XH phát triển liên tục từ rất lâu đời, cho đến
Nội sẽ đạt xấp xỉ 9,1 triệu người (trong đó thành thị chiếm 6,1 triệu người, nông
thôn chiếm 3 triệu người) với tỉ lệ đô thị hóa đạt 68,8%, tầm nhìn đến năm 2050 đạt
ngưỡng 10 triệu người. Tính từ nay đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng dân toàn
thành phố tăng từ 2 - 3%/năm, giảm dần còn dưới 1,5% giai đoạn 2030 - 2050 (thời
kỳ 1994 - 2007: 2,4%/năm). Tốc độ tăng tự nhiên chung trong khoảng 0,8 1%/năm. Tốc độ tăng cơ học (chuyển đổi ranh giới hành chính và lực hút đô thị)
của toàn thành phố 1 - 2%/năm (0,4%/năm 2007 ); của riêng đô thị 3 - 4%/năm.
Để xứng tầm với đô thị 10 triệu dân, Chính phủ đang có chương trình chiến
lược ưu tiên phát triển Hà Nội thành một Thủ đô có quy mô lớn, tầm cỡ quốc tế, là
trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo
dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Ngoài ra việc quy hoạch và phát triển thủ đô cũng
phải đảm bảo yêu cầu về bảo tồn các yếu tố lịch sử văn hóa của dân tộc. Gắn tầm
nhìn vào xu hướng phát triển của thủ đô trong tương lai, hài hòa với cảnh quan
chung trong khu vực vùng.
Nhìn chung, việc quy hoạch và phát triển thủ đô với mục tiêu đưa Hà Nội trở
thành trung tâm hành chính - chính trị , trung tâm văn hóa khoa học công nghệ và
giáo dục quan trọng của cả nước, là trung tâm kinh tế - dịch vụ và thương mại trong
nước và của cả khu vực.
Những lợi ích về kinh tế do phát triển công nghiệp mang lại là rất lớn. Bên
cạnh đó, hoạt động công nghiệp đã gây tác hại vào môi trường cũng không phải là
nhỏ.
24
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU TỔN THƯƠNG VÀ CÁC BƯỚC
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ, NGẬP LỤT
2.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
Định nghĩa được tính dễ bị tổn thương sẽ giúp ta biết được cách tốt nhất để
giảm thiểu chúng. Mục đích của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương nhằm cung cấp