Ứng Dụng Hệ Thống Thông Tin Địa Lý (Gis) Trong Việc Nghiên Cứu Xói Mòn Đất Tại Huyện Võ Nhai Tỉnh Thái Nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

HOÀNG VIẾT THẢO

ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS)
TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU XÓI MÒN ĐẤT
TẠI HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.62.16

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đàm Xuân Vận

Thái Nguyên – năm 2011


1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn



GIS

: Hệ thống thông tin địa lý

CNH – HĐH : Công nghiệp hoá, Hiện đại hóa
DEM

: Mô hình số hoá độ cao

FAO

: Tổ chức nông lương thế giới

UNESCO

: Tổ chức văn hoá giáo dục và khoa học Liên hiệp quốc

UBND

: Uỷ ban nhân dân

CSDL

: Cơ sở dữ liệu


4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.22: Phương pháp hội quy tuyến tính......................................................3
Bảng 3.23: Giá trị đề xuất đối với hệ số kiểm soát xói mòn P ..........................4
Bảng 3.24: Độ dốc, chiều dài sườn và nhân tố LS.............................................7
Bảng 3.25: Bảng tra C theo hội khoa học đất quốc tế........................................8
Bảng 3.26: Bảng tra hệ số P theo hội khoa học đất quốc tế...............................9
Bảng 3.27: Kết quả tính toán lượng mất đất do xói mòn...................................9


5

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Vị trí địa lý huyện Võ Nhai............................................................. 26
Hình 3.2: Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai................................................. 28
Hình 3.3: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm huyện Võ Nhai.............. 31
Hình 3.4: Lượng mưa trung bình các tháng trong năm huyện Võ Nhai......... 31
Hình 3.5: Qui trình xây dựng bản đồ độ dốc ................................................. 43
Hình 3.6: Chuẩn hóa lớp bản đồ địa hình trên Microstation .......................... 44
Hình 3.7: Cơ sở dữ liệu bản đồ địa hình được chuyển đổi sang ArcMap ...... 45
Hình 3.8: Cơ sở dữ liệu địa hình huyện Võ Nhai ........................................... 45
Hình 3.9: Mô hình số hóa độ cao huyện Võ Nhai .......................................... 47
Hình 3.10: Bản đồ độ dốc huyện Võ Nhai...................................................... 48
Hình 3.11: Quy trình thành lập bản đồ đất dạng lưới ..................................... 50
Hình 3.12: Nhập thuộc tính cho lớp bản đồ.................................................... 51
Hình 3.13: Bản đồ thổ nhưỡng huyện Võ Nhai .............................................. 52
Hình 3.14: Quy trình xây dựng bản đồ thực phủ ............................................ 54
Hình 3.15: Chuẩn hóa lớp bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên Microstation.. 55
Hình 3.16: Cơ sở dữ liệu hiện trạng huyện Võ Nhai ...................................... 56
Hình 3.17: Bản đồ thực phủ huyện Võ Nhai................................................... 57
Hình 3.18: Bản đồ phân cấp xói mòn huyện Võ Nhai .................................... 62


Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..........................23

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................ 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 23
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu....................................................................... 23
2.2. Nội dung nghiên cứu............................................................................ 23
2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Võ Nhai
................................................................................................................. 23
2.2.2. Xác định bộ tiêu chuẩn đánh giá xói mòn đất bằng công nghệ GIS
................................................................................................................. 23


7

2.2.3. Chồng ghép bản đồ, xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ xói mòn đất
................................................................................................................. 23
2.2.4. Điều tra dã ngoại thực địa để kiểm tra bổ xung các kết quả thu
được......................................................................................................... 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 24
2.3.1. Phương pháp thống kê phân tích số liệu ....................................... 24
2.3.2. Phương pháp xây dựng và chồng ghép bản đồ ............................. 24
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................25

3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu ........................................................ 25
3.1.1. Điều kiện tự nhiên......................................................................... 25
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội..................................................................... 34
3.2.1. Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội............................................. 34
3.2.2. Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật.................................................. 34
3.2.3. Tình hình phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện........... 38
3.3. Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ nguy cơ xói mòn đất huyện võ Nhai 41

các nhân tố tự nhiên và nhân sinh làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu,
thoái hoá đất, laterit hoá, trơ sỏi đá v.v..., ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống và
phát triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác.
Võ Nhai là huyện vùng cao nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên
có tổng diện tích tự nhiên 84.5104,41 ha với dân số 58.900 người, với điều
kiện địa hình phức tạp nhiều đồi núi có độ dốc cao, giao thông đi lại khó
khăn, đồng thời tổng lượng mưa và cường độ mưa trong năm lớn. Đây chính
là nguyên nhân dẫn đến lượng đất đai bị xói mòn mạnh.
Có nhiều có nhiều phương pháp nghiên cứu, đánh giá xói mòn đất được
các tác giả trong và ngoài nước sử dụng để chống xói mòn đất như trồng cây
phòng hộ, thâm canh, cải tạo các hệ thống chắn nước, thoát nước... Trong đó,
việc ứng dụng công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một phương pháp,
là công cụ mạnh có khả năng phân tích không gian trong thời gian ngắn. Công
nghệ GIS còn cho phép tích hợp phương trình mất đất tổng quát của
Wischmeier W.H và Smith D.D để tính toán và xây dựng bản đồ xói mòn đất
của các lưu vực, vùng lãnh thổ một cách dễ dàng và chính xác. Vấn đề đặt ra


9

ở đây đó là làm thế nào để nâng cao tính hiệu quả trong việc chống xói mòn
đất nói chung và tại Huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Xuất phát từ
thực tiễn đó, được sự hướng dẫn của TS. Đàm Xuân Vận tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc nghiên
cứu xói mòn đất tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
+ Mục đích của đề tài
Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương để từ đó
thấy được những ảnh hưởng đến hiện tượng xói mòn đất trên địa bàn huyện.
Vận dụng các kỹ thuật GIS để nghiên cứu hiện tượng xói mòn đất tại

Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần kết luận và đề nghị


11

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cơ sở khoa học và tầm quan trọng của việc nghiên cứu xói mòn đất đai
Có nhiều định nghĩa về xói mòn đất, để phù hợp với khu vực nghiên
cứu, luận văn sử dụng định nghĩa của Nguyễn Quang Mỹ [6]: Xói mòn đất
(soil erosion) là quá trình phá hủy lớp thổ nhưỡng (bao gồm phá hủy các
thành phần cơ, lý, hóa, chất dinh dưỡng v.v... của đất) dưới tác động của các
nhân tố tự nhiên và nhân sinh, làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc mầu, thoái
hóa đất, laterit hóa, trơ sỏi đá v.v... ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát
triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác. Xói mòn gồm 2 loại:
- Xói mòn bề mặt: Là loại xói mòn do mưa và băng tuyết tan. Kiểu xói mòn
này thường gặp trên sườn và đỉnh phân thủy cũng như ở trên các bồn thu nước.
- Xói mòn theo dòng: Là kiểu xâm thực, xói mòn tập trung trong các
dải trũng như các rãnh sâu, thung lũng, sông suối. Xâm thực theo dòng chia
làm 2 loại là xâm thực sâu và xâm thực ngang.
1.1. Các quá trình xói mòn đất
Các quá trình xói mòn gồm: Xói lở sông suối và xói mòn, rửa trôi bề
mặt.
* Xói lở sông suối
Quá trình xói lở sông suối được xác định theo công thức về động năng
của dòng chảy [10].

Địa hình

Xói mòn

Thảm
thực vật

Đất đai

1.2.1. Ảnh hưởng của nhân tố khí hậu
Võ Nhai nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của miền núi và trung du,
nhiệt độ trung bình hàng năm từ 230 - 24,50C. Độ ẩm không khí trung bình
thay đổi từ 80% - 87%. Khí hậu Võ Nhai chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và
mùa khô. Mùa mưa vào khoảng tháng 3 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình là
270 - 320C, lượng mưa trung bình là 300 - 500 mm chiếm 50 - 70% lượng
mưa cả năm. Đây là mùa thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển cây


13

trồng và đàn gia súc. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình là
170 - 210C có lúc xuống thấp đến 120C.
Như vậy, do tổng lượng mưa và tính chất của mưa, thời gian và
cường độ của mưa cũng như tính liên tục của nó đã tạo nên hiện tượng xói
mòn do dòng chảy bề mặt. Ngoài mưa ảnh hưởng trực tiếp tới xói mòn,
các yếu tố khí hậu khác như gió cũng có những ảnh hưởng gián tiếp đến
quá trình xói mòn đất.
1.2.2. Ảnh hưởng của địa hình, địa mạo
Võ Nhai có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít, phần
lớn diện tích là đồi núi dốc và núi đá vôi chiếm đến 92% còn lại là diện tích

của đất ảnh hưởng đến xói mòn đất là thành phần cơ giới, cấu trúc và độ thấm
đất cũng như hàm lượng mùn trong đất. Những yếu tố đó ảnh hưởng đến khả
năng hình thành dòng chảy khi mưa rào.
1.2.5. Ảnh hưởng của con người
Con người ảnh hưởng trực tiếp đến xói mòn đất thông qua hoạt động
sống. Việc phá rừng đã gián tiếp đẩy mạnh quá trình xói mòn đất. Những diện
tích rừng mất đi làm lộ ra những khoảng trống không có thảm thực vật che
phủ đất. Khi mưa xuống quá trình xói mòn bề mặt xảy ra mạnh.
Canh tác trên đất dốc không khoa học, du canh du cư cũng là những tác
nhân gia tăng xói mòn đất. Trên độ dốc < 30 đã bắt đầu xảy ra xói mòn khi có
mưa to. Từ độ dốc 30 trở lên, tuỳ vào yếu tố đất đai, thực vật, lượng mưa v.v...
mà quá trình xói mòn xảy ra mạnh hay yếu [7].
2. Nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới và ở Việt Nam
2.1. Tình hình nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới
2.1.1. Nghiên cứu xói mòn đất ở Liên Xô (cũ)
Nghiên cứu xói mòn đất do mưa và do tuyết tan được nhà bác học Nga
M.B.Lômônôxốp (các năm 1751, 1753, 1763) đặt nền móng đầu tiên và chú
ý nhiều đến nhiệm vụ bảo vệ đất khỏi xói mòn. Sau đó là công trình của
P.A.Kostưtrep (năm 1886), N.A. Xocolop (năm 1884), v.v…


15

Dưới sự chỉ đạo của giáo sư D.P. Armanda và C.I. Xiclbextrob tại Viện
hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), các công trình chuyên khảo lớn “Xói mòn và
chống xói mòn đất nông nghiệp” (năm 1956, 1958) được xuất bản làm cơ sở
khoa học vững chắc cho quá trình nghiên cứu xói mòn đất thời đó và là cẩm
nang cho các chuyên gia nông nghiệp sử dụng hữu hiệu trong phát triển nông
nghiệp ở Liên Xô (cũ). Trong các năm 1950 - 1960 hàng loạt các sách chuyên
khảo, sách giáo khoa của các tác giả N.N. Makkaveep (năm 1953), I.D. Brazil

khẩn cấp phòng hộ cho đồng ruộng đã được soạn thảo nhằm mục đích này.
Các phương tiện để thực hiện đồ án đó đã được tách ra khỏi cái được gọi là
“Nguồn hỗ trợ”. Các dải rừng được thành lập chủ yếu ở hai dạng đối xứng và
không đối xứng. Ở các dải đối xứng người ta trồng cây có chiều cao lớn ở các
dãy giữa, còn ở các dãy hai bên thì trồng các cây thấp hơn và cây bụi. Ở kết
cấu không đối xứng, số lượng lặp được giảm bớt, nguyên tắc bố trí cây như
sau: các giống chậm phát triển và sống lâu được bố trí ở một nửa dải rừng, còn
loại phát triển nhanh thì phân bố ở nửa dải rừng còn lại.
Ở Mỹ đã khởi thảo các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp và cải tạo đất
lâm nghiệp bằng đồng cỏ để chống xói mòn đất. Tất cả các biện pháp này
(cày vòng theo đường đồng mức, gieo cách dải các loại cây nông nghiệp, bố
trí các rãnh và các kênh dẫn nước dọc theo đường đồng mức để ngăn dòng
chảy trên mặt, phủ đất làm ruộng bậc thang các sườn dốc, cày hốc, cày không
lật vỉa, bón phân khoáng, san các mương xói, v.v…) đều nhằm giảm dòng
chảy của nước trên mặt đất, giảm tốc độ của gió, tạo một lớp phủ ổn định và
giữ được độ ẩm nhất định trong tầng trên cùng của đất trồng.
Các biện pháp chống xói mòn bờ và phục hồi đất bị phá hoại trong quá
trình làm đất đồi có một ý nghĩa rất to lớn. Phương pháp chủ yếu để chống xói
mòn bờ là củng cố bờ bằng thực vật và bảo hộ cơ giới. Để nhằm mục đích đó
người ta làm các công trình ngăn dòng để điều chỉnh làm giảm tốc độ dòng
chảy cho đến khi triệt tiêu được xói mòn [10].


17

2.1.3. Nghiên cứu xói mòn đất ở Canada
Ở Canada việc khai khẩn đất nông nghiệp một cách rộng rãi bắt đầu thế
kỷ XX. Những người di cư (chủ yếu là từ Châu Âu sang) đã bắt đầu áp dụng
những biện pháp làm đất phổ biến ở quê mình, việc cày ruộng hoang bằng cày
lật vỉa và việc sử dụng rộng rãi bừa đã tạo điều kiện cho sự phát triển của xói

nông nghiệp khỏi các luồng gió biển, ở các vùng gần bờ người ta tạo ra các
vùng rừng trồng bảo hộ. Chúng còn được xây dựng ở các ruộng tưới để bảo
vệ các vườn quả và cây công nghiệp.
Trong vòng hàng chục năm ở Pháp áp dụng rộng rãi phương pháp độc
đáo bảo vệ các sườn núi khỏi xói mòn ở các mái nghiêng cảu đường xá nhờ
mạng lưới kim loại, để củng cố các máng chảy nhỏ người ta sử dụng các loại
đê kè khác nhau: hàng rào cọc đá, đá, dạng lưới, dạng mặt cao, đá dạng lưới.
Để điều chỉnh dòng bùn đất người ta sử dụng các có công trình lâu dài và hiệu
quả hơn, đó là kè bê tông và bê tông cốt thép [5].
2.2. Tình hình nghiên cứu về xói mòn đất tại Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu đất đai ở Việt Nam bắt đầu từ hàng trăm năm
nay. Còn công tác nghiên cứu phát sinh, phát triển của quá trình xói mòn
đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn mới diễn ra trong 4 - 5 thập kỷ gần đây. Ở
miền núi cách đây hàng nghìn năm đã xuất hiện xói mòn do nước và tổ tiên
chúng ta, người Việt cổ đã có các biện pháp chống xói mòn có hiệu quả là
xây dựng hệ thống ruộng bậc thang trên đất dốc. Tuy vậy trước năm 1954
công tác nghiên cứu xói mòn đất ở Việt Nam hầu như chưa có công trình
nào đề cập đến nhiều và sâu sắc. Quá trình nghiên cứu xói mòn ở Việt Nam
có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn một, trước năm 1954
Giai đoạn hai, từ năm 1954 - 1975
Giai đoạn ba, từ năm 1975 đến nay


19

2.2.1. Giai đoạn trước năm 1945
Trong thời gian Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị, hầu như không có
công trình nào về lĩnh vực xói mòn đất. Tuy nhiên vẫn có hàng loạt các công
trình chống xói mòn đất được xây dựng từ thực tế sản xuất và kinh nghiệm

Nghiên cứu xói mòn đất và sử dụng các biện pháp chống xói mòn ở
Việt Nam có thể nói mới bắt đầu từ thập kỷ 60. Trong thời gian này ở miền
Bắc xây dựng nhiều nông trường, nông trang. Hợp tác xã ở trung du và miền
núi lãnh thổ nước Việt Nam phần lớn là đất dốc, do đó vấn đề sử dụng hợp lý
và có hiệu quả đất đai được chú ý nhiều nhất là Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc
Trường Sơn v.v… Cán bộ kỹ thuật các nông trường, nông trang đã đề ra các
biện pháp bảo vệ đất khỏi xói mòn. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được công
bố, một số bài báo công trình, đáng quan tâm là công trình nghiên cứu của
Nguyễn Ngọc Bình (năm 1962), Nguyễn Quý Khải (năm 1962) và Cao Văn
Bình (năm 1962).
Năm 1963 nghiên cứu xói mòn theo khu vực đã được tiến hành, các
nhà nông học đã công bố một số bài báo về xói mòn đất ở Tây Bắc, đáng chú
ý là các tác giả như: Tôn Gia Huyên, Chu Đinh Hoàng, Nguyễn Quý Khải,
Nguyễn Xuân Kỳ, Bùi Nghạnh v.v… Tuy vậy đây mới là số công trình
nghiên cứu định tính, sử dụng phương pháp mô tả là chủ yếu.
Sau 20 năm (từ năm 1962 - 1982) nhiều nhà nông học mà đứng đầu là
giáo sư Tôn Gia Huyên đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn xói mòn và chống
xói mòn đất do nước trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm ở Tây Bắc Việt
Nam và đã có nhiều công trình đáng trân trọng.
Trong thời kỳ đó có các công trình đặc biệt đáng chú ý của các tác giả:
Tạ Quang Bửu (năm 1964, 1965), Trần Ích Châm (năm 1964), Hồ Sỹ Chúc
(năm 1964) v.v… Ngoài ra các tạp chí khoa học địa phương của tỉnh Sơn La,
Nghệ An, Thái Nguyên cũng đăng tải nhiều bài nói về xói mòn đất và các
biện pháp chống xói mòn trên quê hương mình, góp thêm những kinh nghiệm
hữu ích trong lĩnh vực nghiên cứu đầy ý nghĩa này.


21

Ngoài ra các sách chuyên khảo được viết và dịch ra tiếng Việt cũng góp

màu, chua mặn, chống xói mòn”. Về vấn đề khoa học tự nhiên và kỹ thuật,
văn kiện trên nhấn mạnh: “Xây dựng các phương án thuỷ lợi, phòng trừ sâu
bệnh, cải tạo đất, khắc phục chua mặn, chống xói mòn, cơ khí hoá trên
những địa bàn lớn”. Các tác giả nghiên cứu những nhân tố hoạt động của xói
mòn đất ở Việt Nam trong giai đoạn này đã thu được nhiều kết quả quan
trọng, đáng chú ý là các công trình của Bùi Quang Toản (năm 1976), Ngô
Trọng Thuận (năm 1983), Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao Yềm, Hoàng Xuân
Cơ (năm 1981, 1983) v.v…
Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu xói mòn đất đã sử dụng
Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong nghiên cứu xói mòn, đặc
biệt là trong đo vẽ bản đồ xói mòn đất, đánh giá định lượng các nhân tố ảnh
hưởng đến quá trình xói mòn đất: Phạm Đăng Cự (năm 1995), Cao Đăng Dư
(năm 2000) v.v… Đây là một hướng đi đúng đắn của các nhà địa lý Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay bởi vì phương pháp này có tính thực tiễn cao, giảm
được chi phí, chính xác và có hiệu quả.


23

Chương 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu yếu tố xói mòn đất và xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ xói
mòn đất tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu nguy cơ xói mòn đất dựa trên 3 yếu tố cơ bản là độ dốc, kết
cấu đất và độ che phủ đất đai của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thống kê phân tích số liệu
Đối với thông tin, số liệu sơ cấp: Toàn bộ thông tin số liệu đều được xử
lý trên MS Word, MS Excel. Trong quá trình sử lý số liệu, phương pháp phân
tổ thống kê được coi là phương pháp chủ đạo để đánh giá phân tích, so sánh
và rút ra những kết luận cần thiết trong quá trình nghiên cứu.
Đối với thông tin, số liệu thứ cấp: Sau khi thu thập, toàn bộ các thông
tin số liệu được kiểm tra ở ba khía cạnh đầy đủ, chính xác, kịp thời và khẳng
định độ tin cậy. Sau đó xử lý tính toán phản ảnh thông qua các bảng thống kê,
đồ thị để so sánh, đánh giá và rút ra kết luận cần thiết.
2.3.2. Phương pháp xây dựng và chồng ghép bản đồ
- Ứng dụng phần mềm Microstation số hoá bản đồ nền, sau đó chuyển
sang phần mềm MapInfo để biên tập các bản đồ đơn tính (bản đồ phân loại
đất, bản đồ thực phủ, bản đồ thổ nhưỡng) theo các mức chỉ tiêu đã phân cấp.
- Ứng dụng, sử dụng phần mềm GIS (Arcview, ArcGis) để chồng ghép,
xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ xói mòn đất.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status