BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
-------------------
ĐẶNG NGỌC LƯƠNG
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN
PASTEURELLA MULTOCIDA GÂY BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU,
BÒ TẠI CAO BẰNG VÀ LỰA CHỌN VẮC XIN PHÒNG BỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành:
Mã số:
Hướng dẫn khoa học:
Thú y
60.64.01.01
PGS.TS. Đặng Xuân Bình
THÁI NGUYÊN - 2012
80
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi trực tiếp nghiên cứu
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đặng Xuân Bình, và sự giúp đỡ của cán bộ
Trung tâm chẩn đoán thú y - Cục Thú y.
- Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung
mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới
những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình
học tập.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả
Đặng Ngọc Lương
82
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan .................................................................................................... i
Lời cảm ơn .......................................................................................................ii
Mục lục ............................................................................................................iii
Danh mục các từ viết tắt...............................................................................vii
Danh mục các bảng ......................................................................................viii
Danh mục các hình .......................................................................................
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
4. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu................................................................ 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA
ĐỀ TÀI ............................................................................................................. 4
1.1. Tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc ....................................................... 4
multocida trong bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Cao Bằng............................ 26
2.1.3. Đánh giá hiệu lực bảo hộ của một số loại vắc xin phòng bệnh tụ huyết
trung trâu, bò trên thực địa.............................................................................. 27
2.1.4. Lựa chọn vắc xin và đề xuất biện pháp khống chế bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò tại Cao Bằng ................................................................................................ 27
2.2. Vật liệu dùng cho nghiên cứu .................................................................. 27
2.2.1. Mẫu bệnh phẩm dùng phân lập vi khuẩn .............................................. 27
2.2.2. Động vật thí nghiệm.............................................................................. 27
2.2.3. Hóa chất và dụng cụ nghiên cứu........................................................... 27
2.2.3.1. Hóa chất thí nghiệm ........................................................................... 27
2.2.3.2. Dụng cụ thí nghiệm............................................................................ 28
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 29
v
84
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học.................................................... 29
2.3.2. Phương pháp nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn P. multocida ... 30
2.3.2.1. Phương pháp nuôi cấy, phân lập ....................................................... 30
2.3.2.2. Phương pháp xác định tính chất sinh vật, hóa học của P. multocida. 30
2.3.2.3. Phương pháp xác định serotype kháng nguyên của vi khuẩn P.
multocida......................................................................................................... 32
2.3.3. Kiểm tra độc lực của vi khuẩn P.multocida phân lập được .................. 32
2.3.3.1. Kiểm tra độc lực của vi khuẩn trên chuột bạch ................................. 32
2.3.3.2. Phương pháp kháng sinh đồ ................................................................. 34
2.3.3.3. Xác định tình trạng miễn dịch của trâu, bò khỏe trong các ổ dịch cũ
bằng phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay) ................. 34
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 35
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 36
3.3. Kiểm tra an toàn của hai loại vắc xin trên chuột thí nghiệm ................... 57
3.4. Xác định tình trạng miễn dịch chủ động tự nhiên đối với bệnh tụ huyết
trùng của trâu, bò trong ổ dịch cũ ................................................................... 58
3.5. Đánh giá đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin phòng
bệnh tụ huyết trùng 1 tháng; 2 tháng; 4 tháng và 6 tháng............................... 60
3.6. Lựa chọn vắc xin và đề xuất biện pháp khống chế bệnh tụ huyết trùng
trâu, bò tại Cao Bằng....................................................................................... 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 67
1. Kết luận ....................................................................................................... 67
2. Đề nghị ........................................................................................................ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 70
I. Tài Liệu tham khảo trong nước ................................................................... 70
II. Tài liệu tham khảo ngoài nước ................................................................... 74
86
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Kết quả điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Cao Bằng
từ năm 2008 - 2011 ............................................................................... 36
Bảng 3.2. Tình hình mắc bệnh tụ huyết trùng của đàn trâu bò tại Cao Bằng từ
năm 2008 đến năm 2011....................................................................... 38
Bảng 3.3. Tần xuất xuất hiện dịch tụ huyết trùng trâu bò tại Cao Bằng......... 40
Bảng 3.4. Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết do bệnh tụ huyết
trùng theo mùa vụ tại Cao Bằng ........................................................... 41
Bảng 3.5. Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng ở trâu, bò mắc bệnh .......... 45
Bảng 3.6. Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi
Bảng 3.19. Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu, bò
tiêm vắc xin tụ huyết trùng sau 1 tháng................................................ 61
Bảng 3.20. Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu, bò
tiêm vắc xin tụ huyết trùng sau 2 tháng................................................ 62
Bảng 3.21. Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu, bò
tiêm vắc xin tụ huyết trùng sau 4 tháng................................................ 63
Bảng 3.22. Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu, bò
tiêm vắc xin tụ huyết trùng sau 6 tháng................................................ 64
ix
88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Sơ đồ phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida .............................. 33
Hình 3.1. Hiệu giá kháng thể của trâu bò sau 1; 2; 4 và 6 tháng tiêm vắc xin tụ
huyết trùng ..................................................................................... 65
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi trâu bò ở Việt Nam trong những năm qua đã có những bước
phát triển đáng kể nhằm cung cấp thịt sữa cho nhu cầu thực phẩm của người
dân; sức kéo cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và cung
cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của xã hội. Bên cạnh sự phát triển đó, ngành chăn nuôi trâu bò luôn phải
đối mặt với các bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng, trong đó có bệnh
nguyên của vi khuẩn Pasteurella ở mỗi vùng có sự khác nhau.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, căn cứ vào cơ sở khoa học
và năng lực của cơ quan nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Xác định
một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ
huyết trùng trâu, bò tại Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòng bệnh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại các huyện,
thị xã thuộc tỉnh Cao Bằng.
- Khảo sát sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò khỏe
và trâu, bò nghi mắc bệnh tụ huyết trùng.
- Giám định đặc tính sinh vật hóa học, yếu tố gây bệnh và serotype
kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được.
- Đánh giá mức độ tương đồng giữa kháng nguyên trong vắc xin phòng
bệnh tụ huyết trùng trâu, bò và kháng nguyên vi khuẩn Pasteurella phân lập
được ở trên thực địa.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
- Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò.
- Bổ sung tư liệu về kết quả phân lập, giám định đặc tính sinh vật hóa
3
học, yếu tố độc lực và kết quả xác định serotype kháng nguyên của vi khuẩn
Pasteurella multocida phân lập được bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain
Reaction).
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Cung cấp tư liệu thực tế về serotype kháng nguyên vi khuẩn
Pasteurella multocida trên thực địa tại Cao Bằng.
- Cơ sở để lựa chọn vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò có khả
1878 ở Munich (Đức). Những năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở khắp mọi
nơi trên thế giới, trên nhiều loài gia súc, gia cầm. Năm 1885, Kitt đã phân lập
được vi khuẩn. Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài
gia súc, các nhà khoa học thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương
đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật. Năm
1887, Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ công
lao của Louis Pasteur, người có nhiều đóng góp nghiên cứu phát hiện ra loại
vi khuẩn này (De Alwis, 1992) [50].
Vi khuẩn pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc nên tên của chúng
được gắn với tên của loài vật mà chúng gây bệnh:
Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn
Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò
Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu
Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà…
Đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [79] đã đề nghị đặt tên cho vi
khuẩn này là Pasteurella multocida, để chỉ khả năng gây bệnh cho nhiều loài
vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng
cho đến ngày nay.
Lignieres (1900)[62] cho rằng: bệnh tụ huyết trùng có ít nhất ở 6 loài
vật nuôi khác nhau. Hai thuật ngữ chỉ bệnh là Haemorrhagic septicaemia và
Pasteurellosis được xem là đồng nghĩa. Tuy nhiên, gần đây theo qui ước của
5
tổ chức FAO (FAO/WHO/CIF, 1970), trong các tài liệu quốc tế về súc sản,
hai thuật ngữ này được dùng phân biệt, Haemorrhagic septicaemia dùng chỉ
bệnh do P. multocida thuộc serotype I Roberts gây ra, còn Pasteurellosis
dùng chỉ bệnh do vi khuẩn Pasteurella gây ra.
Ở Châu Á, bệnh tụ huyết trùng trâu, bò do P. multocida gây ra thường
(1978)[25], Nguyễn Ngã (1996)[21], Nguyễn Thiên Thu (1996)[34]) đã nhận
định bệnh tụ huyết trùng trâu, bò xảy ra thường trùng với những cơn mưa ở
từng vùng và kéo dài đến hết mùa mưa.
Nhiều tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu đặc tính sinh vật hoá học của
vi khuẩn P. multocida, phương pháp chẩn đoán, phân lập và chế tạo vắc xin
phòng bệnh.
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007)[8] tiến hành nghiên cứu một
số đặc tính của vi khuẩn P. multocida phân lập từ trâu, bò, lợn.
Phan Thanh Phượng (1986 - 1990)[28] đã nghiên cứu, chế tạo và sử
dụng vắc xin nhũ hoá bằng công nghệ lên men sục khí để phòng chống bệnh
tụ huyết trùng trâu, bò, lợn và gia cầm có nhiều ưu việt hơn vắc xin cũ.
Dương Thế Long (1995)[18] đã phân lập được vi khuẩn P. multocida
gây bệnh cho các loài vật nuôi (trâu, bò, lợn và gà) tại tỉnh Sơn La.
Nguyễn Ngã (1996)[21], Nguyễn Thiên Thu (1996)[34] đã phân lập
được vi khuẩn P. multocida từ trâu, bò mang trùng ở khu vực miền Trung và
xác định tính tương đồng kháng nguyên của các chủng vi khuẩn phân lập
được với chủng vắc xin Iran.
Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu về bệnh tụ huyết
trùng như Bùi văn Dũng (2000) [3] nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng
và vi khuẩn P. multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe ở tỉnh Lai
Châu. Hoàng Đăng Huyến (2004) [12] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu
tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Bắc Giang. Nguyễn Đăng
Minh (2005) [20] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh THT và xác định
7
tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh Hà Tây. Đỗ Ngọc Thúy và cs
(2007) [35] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định Type các chủng vi khuẩn
P. multocida phân lập từ vật nuôi.
bò thì ở đó người ta cũng phát hiện bệnh này ở động vật hoang dã.
De Alwis (1982) [48] cho rằng loài vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với
bệnh tụ huyết trùng là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò. Tỷ lệ mắc bệnh
và tỷ lệ chết của các loài vật với bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố như mức độ cảm nhiễm của vùng, mức độ bùng nổ của các vụ
dịch trước đó, mức độ miễn dịch toàn đàn, đặc biệt phụ thuộc vào lứa tuổi
mắc bệnh.
Ở Việt Nam, trâu dễ bị nhiễm và mắc bệnh nặng hơn bò. Trâu, bò rừng
cũng mắc bệnh (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [31]. Trâu thường chết khi gặp
thể quá cấp hoặc cấp tính.
1.2.3. Tuổi mắc bệnh
De Alwis (1984)[49] cho biết mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh
hơn động vật già, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy ở bò và trâu tỷ lệ mắc
bệnh ở lứa tuổi dưới 6 tháng là 3,5%, trong khi đó trâu, bò ở lứa tuổi từ 6 tháng
đến 2 năm là 30 - 32%, ngược lại trâu, bò trên 2 năm tuổi tỷ lệ mắc bệnh chiếm
từ 3 - 5% toàn đàn. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ chết của trâu, bò trong mỗi ổ
dịch là 84 và 91% tập trung vào lứa tuổi 6 tháng đến 18 tháng.
Bệnh xảy ra ở hầu hết các lứa tuổi, những con đang bú mẹ ít mắc hơn
những con trưởng thành. Trâu, bò 1-3 tuổi dễ mắc hơn trâu bò già và khi mắc
thì tỷ lệ chết cao hơn. Trâu bò càng béo, khỏe, trẻ càng dễ mắc bệnh và tỷ lệ
chết cao. Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc bệnh (Bùi Quý Huy, 1998) [11].
Cao Văn Hồng (2002) [9] tại Đắk Lắk cũng cho thấy lứa tuổi cảm nhiễm với
bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi. Hoàng Đăng Huyến (2004) [12] cho biết tại
Bắc Giang trâu, bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất.
9
1.2.4. Mùa vụ phát bệnh
Bệnh tụ huyết trùng phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu. Mustafa và
tẻ nhưng bắt đầu vào mùa mưa, khí hậu nóng ẩm thì bệnh lây lan thành dịch,
bởi nhiệt độ ẩm của mùa mưa tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
mầm bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [25]. Bùi Quý Huy (1998) [11] cho
biết ở miền Bắc bệnh xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa
nhiều từ tháng 7 đến tháng 9, ở miền Nam bệnh xảy ra mạnh sau khi mưa và
nắng từ tháng 4 đến tháng 10. Theo Nguyễn Đăng Minh (2005) [20] bệnh tụ
huyết trùng xảy ra rải rác quanh năm tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, vào các
tháng đầu mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 vì đây là các tháng
nắng nóng, nhiệt độ cao, ẩm độ cao.
1.2.5. Vùng phát bệnh
Các nghiên cứu đều cho thấy bệnh tụ huyết trùng thường xảy ra ở những
vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt. Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn
Thịnh (1958)[4] bệnh thường xảy ra ở vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều, đặc biệt là đầu mùa mưa. Điều kiện tự nhiên, khí hậu và phương thức
chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình lây lan và phát sinh bệnh. Đặc biệt ở
những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, có nhiều ruộng nước, nhiều
kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh làm chết nhiều gia súc (Đoàn Thị
Băng Tâm, 1987[31]). Năm 1990 riêng ba tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Bắc
Thái số ở dịch tụ huyết trùng gia súc chiếm 60% và trong đó có tới 70% số gia
súc chết so với toàn miền Bắc (Bùi Quý Huy, 1998[11]). Đỗ Văn Được
(2003)[6] cho biết ở Lạng Sơn vùng núi đất, có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, ẩm độ
cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do thì tỷ lệ bị nhiễm bệnh và
chết cao. Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [12] ở Bắc Giang những vùng đồi núi
thấp tỷ lệ mắc bệnh và chết do tụ huyết trùng cao. Nguyễn Văn Minh (2005)[20]
thông báo ở Hà Tây tỷ lệ trâu, bò ốm chết vì bênh tụ huyết trùng ở vùng đồi, bán
sơn địa cao hơn so với vùng chiêm trũng và vùng đồng bằng.
11
trứng, hình cầu...Tác giả còn nhận thấy khi nuôi cấy nhiều lần trong môi
trường nhân tạo, chiều dài của vi khuẩn tăng lên.
Trong cơ thể gia súc mắc bệnh hoặc nuôi cấy trong môi trường có
huyết thanh hoặc máu vỡ, vi khuẩn hình thành giáp mô nhưng khi nhuộm khó
thấy. Khi nhuộm tiêu bản bệnh phẩm, Pasteurella multocida bắt màu sẫm ở
hai đầu, còn ở giữa không bắt màu hoặc bắt màu nhạt hơn so với hai đầu nên
người ta gọi Pasteurella multocida là vi khuẩn lưỡng cực. Nguyên nhân này
là do nguyên sinh chất của vi khuẩn dồn về 2 đầu.
Trong canh khuẩn vi khuẩn có hình trứng, hình cầu đứng riêng lẻ hay
thành chuỗi ngắn. Trong canh khuẩn già vi khuẩn suy yếu, biến dạng thay đổi
hình thái như hình gậy dài, dùi cui, quả đấm, kích thước lớn hơn bình thường có
khi dài 2-3µm. Vi khuẩn không có lông, không di động không hình thành nha bào.
Pasteurella dễ nhuộm với thuốc nhuộm thông thường như anilin,
Methylen Bleu, Fuchsine và Giemsa.
Vi khuẩn P. multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường
như: Môi trường nước thịt, môi trường thạch thường. Theo (Seleim R. S.
(2005) [80], để vi khuẩn P. multocida phát triển tốt trên môi trường nhân tạo
cần thêm một số chất như: cystein, glutamic axit, leucine, methionine, muối
vô cơ, nicotinamide, pantothenate, thiamine và đường. Trong đó leucin tác
dụng kích thích tăng trưởng. Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi
khuẩn phát triển kém, vi khuẩn phát triển tốt hơn trên môi trường nuôi cấy có
bổ sung 5-10% huyết thanh hoặc máu động vật.
P. multocida là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, ưa kiềm nhẹ,
pH=7,2-7,4, có thể nuôi cấy ở nhiệt độ từ 130C đến 380C, thích hợp nhất là 370C
Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi khuẩn phát triển kém. Vi
khuẩn phát triển tốt hơn trên môi trường nuôi cấy có bổ sung thêm 5-10 %
huyết thanh hoặc máu động vật.
14
dãi khô rất đặc trưng cho vi khuẩn tụ huyết trùng. Đặc điểm này rất dễ nhận ra
và được nhiều tác giả công nhận như một đặc điểm để chẩn đoán.
Theo Namioka và murata (1961c)[69] YPC (Yeast extract Pepton- LCystin) có thêm Sucrose và sodium sulfite là môi trường nuôi cấy tốt nhất cho
vi khuẩn P. multocida, môi trường giúp cho sự tái tạo giáp mô của vi khuẩn
và cũng là môi trường phân lập, giữ giống và nhân giống.
Trên môi trường thạch có huyết thanh và huyết cầu tố: Đây là môi
trường đặc biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi khuẩn
Pasteurella. Trên môi trường này vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc
đặc biệt, có hiện tượng phát huỳnh quang khi xem khuẩn lạc bằng kính hiển
vi có hai thị kính với độ phóng đại thấp (khoảng 20 lần) và góc phản quang
của ánh sáng đèn điện là 45o. Những khuẩn lạc dạng S từ canh trùng thường
mới có tính dung quang. Khuẩn lạc dạng M và R không có đặc điểm nói trên.
Tuỳ theo độc lực của vi khuẩn mà màu sắc huỳnh quang của khuẩn lạc
khác nhau:
+ Nếu vi khuẩn có độc lực cao: Khuẩn lạc có màu xanh lơ, xanh lá mạ
chiếm 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn, còn 1/3 diện tích khuẩn lạc là màu
vàng kim loại, khuẩn lạc này gọi là Fg (Greenish Fluorescent).
+ Nếu vi khuẩn có độc lực vừa: Khuẩn lạc màu xanh lơ ít hơn diện
tích màu vàng da cam, khuẩn lạc loại này là Fo (Orange Fluorescent).
+ Nếu vi khuẩn có độc lực yếu: Khuẩn lạc của chúng không có hiện
tượng phát quang, khuẩn lạc loại này là Nt (Not Fluorescent). Khuẩn lạc nhỏ
tròn trong.
Hiện tượng phát huỳnh quang của khuẩn lạc xem rõ khi nuôi cấy sau
24h. Nếu để lâu sau 72h thì huỳnh quang sẽ mất đi. Theo Smith (1990)[81]
đặc tính dung quang này còn có quan hệ chặt chẽ với sự tạo vỏ của vi khuẩn
15