LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, bán đảo Triều Tiên có một vị trí địa –
chiến lược hết sức quan trọng tại khu vực Đông Bắc Á nói riêng và
Châu Á – Thái Bình Dương nói chung. Ngày nay, những căng thẳng
trên bán đảo này không ngừng leo thang khiến cho Quan hệ quốc tế
trở nên càng phức tạp. Nơi đây tồn tại sự đan xen lợi ích của nhiều
cường quốc từ chiến tranh thế giới thứ hai. Những lợi ích trở nên
xung đột nhất khi chiến tranh Triều Tiên (19501953) xảy ra. Bài
tiểu luận này sẽ trình bày một cách rõ ràng Những tác động của
chiến tranh Triều Tiên đến quan hệ quốc tế trong thời kỳ
Chiến Tranh Lạnh. Bài tiểu luận chia thành hai phần:
Phần 1: Tổng quan về chiến tranh Triều Tiên (19501953)
Phần 2: Tác động của chiến tranh Triều Tiên tới các mỗi
quan hệ Xô – Mỹ, Xô – Trung, Trung – Mỹ và Đông Dương trong
thời kỳ chiến tranh Lạnh
NỘI DUNG
I.
Tổng quan về chiến tranh Triều Tiên (19501953)
Chiến tranh Triều Tiên (19501953) là một cuộc chiến tranh
nóng đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh Lạnh và cũng là một cuộc
xung đột nghiêm trọng nhất giữa Đông – Tây1. Cuộc chiến tranh này
không đơn thuần là sự tranh chấp để thống nhất bán đảo giữa hai
miền Nam – Bắc mà nó còn có sự tham gia của nhiều lực lượng
phức tạp khác, không chỉ có sự đối đầu về hệ tự tưởng mà còn đối
lập về lợi ích.
1.
Tây trong quỹ đạo của Chiến tranh Lạnh. Đây là bối cảnh cơ bản
cho sự bùng nổ chiến tranh Triều Tiên vào ngày 25/6/1950.
Bên cạnh việc lãnh đạo hai bên đều muốn thống nhất đất
nước theo kiểu riêng, nhằm mở rộng chế độ chính trị của mình sang
phía bên kia thì chính Stalin cũng có nguyện vọng về một nước
Triều Tiên thống nhất sau khi Ngoại trưởng Mỹ D.Acheson tuyên
bố quần đảo Alevatiennes và quần đảo Ryukyus – Nhật Bản thuộc
“chu vi an toàn” của Mỹ ở Đông Bắc Á. Hiển nhiên, theo bài diễn
văn đó, bán đảo Triều Tiên nằm ngoài “chu vi an toàn” này. Điều
này đã làm xua đi nỗi hoài nghi của Stalin rằng Mỹ sẽ đưa quân đến
can thiệp vào các công việc của Tiều Tiên3. Đồng thời, sau khi
Đảng cộng sản Trung Quốc dành được chính quyền thì căn cứ để
Stalin hi vọng về một Triều Tiên thống nhất theo mô thức của miền
Bắc lại càng rõ ràng hơn. Theo các bằng chứng lưu trữ là chính
I.V.Stalin đã trực tiếp đề xướng khởi động chiến tranh4. Bằng sự
thúc đẩy của môi trường quốc tế và sự quyết đoán của các nhà lãnh
đạo phương Bắc mà ngày 25 tháng 6 năm 1950, quân đội Cộng hòa
dân chủ nhân dân Triều Tiên vượt qua giới tuyến Triều Tiên ở vĩ
tuyến 38, đánh về phía Seoul, mở đầu cho cuộc nội chiến tiềm tàng
nhiều nguy cơ về sự đụng độ của hai cường quốc.
2.
Các lực lượng liên quan
3 Kathryn Wesathersby, the Soviet Role in the Early Phase of the Korean War: New
documents evedence”, Winter 1993, tr.433.
4 A.V.Torkunov, Cuộc chiến tranh bí ẩn: xung đột Triều Tiên 1950-1953, Nxb. Rosspen,
2002.
đại diện của Liên Xô không đến dự các cuộc họp của Hội đồng
Bảo an để phản đối việc phương Tây không trao cho những người
Cộng sản Trung Quốc quyền được đại diện cho Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa tại Liên hợp Quốc.
Sau nghị quyết thứ ba của Liên hợp quốc về việc thành lập
một đội quân đa quốc gia ở Triều Tiên dưới sự chỉ huy của Mỹ thì
việc hoạt động vũ trang của Mỹ ở Triều Tiên càng có cơ sở pháp
lý. Do đó mà tình hình chiến sự khả quan hơn cho phía Hàn Quốc.
Quân đội Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên bắt đầu rút lui.
Song lòng tham của quân đội Mỹ không chỉ dừng lại ở đó.
Được đà chiến thắng, quân Mỹ ở Triều Tiên chiếm Bình Nhưỡng
rồi tiến về phía biên giới của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều
Tiên với Trung Quốc và Liên Xô nhằm sáp nhập miền Bắc vào
miền Nam5.
Để ngăn chặn âm mưu này, ngày 25 tháng 10 năm 1950, Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa đã chính thức tham chiến theo yêu cầu của
Liên Xô và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Seoul nhanh
chóng bị quân cộng sản tái chiếm. Lực lượng Liên hợp quốc mà
nòng cốt là quân đội Mỹ đến đầu năm 1951 rơi vào tình thế cực kỳ
khó khăn, có nguy cơ thất bại hoàn toàn. Tuy vậy nhưng chính
quyền Mỹ vẫn bác bỏ đề nghị của tổng chỉ huy lực lượng vũ trang
Mỹ ở Viễn Đông D.McArthur là mở rộng chiến dịch và tấn công
vào Trung Quốc để đảm bảo sẽ không có cuộc chiến tranh lớn nào
xảy ra do lo ngại việc Liên Xô cũng sẽ tham gia vào cuộc chiến trên
cơ sở Hiệp ước hữu nghị liên minh tương trợ Xô – Trung. Song
tướng D.MacArthur vẫn tuyên bố đe dọa sẽ dùng vũ khí nguyên tử
nếu quân đội Trung Quốc không chấm dứt tiến công ở Triều Tiên.
Tình hình trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Ban lãnh đạo
hết sức căng thẳng, ác liệt. Chưa bao giờ mối quan hệ giữa hai
cường quốc lại xấu đến như vậy cho dù hai phe không trực tiếp đối
đầu.
Ngay từ trước khi chiến tranh Triều Tiên xảy ra Mỹ đã luôn
lo sợ về sự bành trướng của Liên Xô. Năm 1949, Liên Xô chế tạo
thành công bom nguyên tử. Cùng năm đó Đảng Cộng sản Trung
Quốc kiểm soát toàn bộ Trung Quốc đại lục. Chính phủ Washington
đã rất lo lắng về điều này và cho rằng trong vài năm tới Liên Xô sẽ
tấn công để thực hiện kế hoạch thống trị toàn cầu. Tới khi nội
chiến ở Triều Tiên nổ ra, tổng thống Truman đã gia tăng ngân sách
Quốc phòng như theo kế hoạch NSC68 đề ra trước đó. Chính phủ
Mỹ cho rằng hành động quân sự của Bắc Triều Tiên là do Liên Xô
thao túng, vì thế mà nhanh chóng can thiệp, coi đó là bước ngăn
chặn sự bành trướng của Liên Xô. Chính phủ Mỹ chắc chắn đã
khuếch trương “yếu tố Liên Xô” dẫn đến sự bùng nổ chiến tranh
Triều Tiên6. Mặt khác, chiến tranh Triều Tiên lại chính là một lý do
chính đáng cho sự có mặt của Mỹ ở Đông Bắc Á để thực hiện
nhiệm vụ chống cộng như tổng thống Truman tuyên bố: “Sự phòng
thủ của Hoa Kỳ phải vươn tới Triều Tiên, Đài Loan và Đông
6 Trương Tiểu Minh, Chiến tranh lạnh và di sản của nó, Nxb chính trị Quốc gia, 2002,
tr.118.
Dương”7. Tuy nhiên, trong suốt ba năm, hai nước không khi nào trực
tiếp bước vào trận chiến mà có thái độ tích cực tìm kiếm con
đường hòa bình để giải quyết vấn đề. Đó là một trong những yếu
tố quan trọng dẫn đến đình chiến ở Triều Tiên. Đặc điểm của hai
siêu cường xử lý xung đột Đông – Tây trong chiến tranh Lạnh một
lần nữa được thể hiện rõ trong chiến tranh Triều Tiên.