Những tác động của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam - Pdf 31

Lời nói đầu
Trải qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc. Kinh tế phát
triển nhanh và Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới. Có được những
thành tựu đó là do: Ngay từ ngày đầu của công cuộc Đổi mới Đảng ta đã xác định
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là con đường tất yếu để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ Đổi
mới. Mặt khác, để chủ trương đúng đắn đó đi vào thực tiễn phải kể đến vai trò trực
tiếp của đầu tư phát triển.
Những tác động của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam luôn được
nhắc đến khi đánh giá các thành tựu của thời kỳ Đổi mới. Nhưng những đánh giá đó
chủ yếu là định tính. Những đánh giá này có thể cung cấp cái nhìn tổng thể nhưng
không đi sâu vào các căn cứ thực tế. Để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
cũng như việc lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cần những đánh giá định lượng.
Bởi vậy, đề tài này ra đời với mục đích cao nhất là phân tích định lượng tác động
của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.
1
ChươngI
Những vấn đề lí luận chung
A. Các khái niệm chung về cơ cấu và chuyển dịch cấu kinh tế
1 .Cơ cấu kinh tế:
1.1. Khái niệm và bản chất:
-Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với
nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tuỳ thuộc vào mục tiêu của nền
kinh tế.
-Về mặt bản chất: CCKT là kết quả của phân công lao động xã hội
-Về mặt biểu hiện: CCKT có 2 đặc tính:
*Biểu hiện hình thức thông qua quan hệ tỉ lệ: tỉ trọng giữa các bộ phận hợp thành cơ
cấu ngành.
*Biểu hiện nội dung thông qua quan hệ giữa các thành phần: các thành phần tương
tác với nhau như thế nào, quan hệ chặt hay lỏng.
1.2. Phân loại CCKT:

thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra trong điều kiện khách quan, có
thể không theo hoặc ngược lại dự kiến ban đầu.
 CCKT không thể tự thay đổi nếu không có sự tác động từ bên ngoài
 Nếu CCKT chuyển dịch đúng, hợp lí thì đó là yếu tố thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội; ngược lại nó trở thành yếu tố kìm hãm. Vì vậy CDCCKT là
một vấn đề mang tầm quốc gia, đòi hỏi một chương trình hành động thống
nhất trên phạm vi cả nước
2.2. Các nguyên tắc CDCCKT
-CDCCKT phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Tức là phải phù hợp với các quy luật khách quan chứ không phải những mệnh
lệnh hành chính chủ quan, duy ý chí. Bởi vậy, CDCC phải đảm bảo hiệu quả trước
mắt và hiệu quả lâu dài, hài hoà giữa hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn bộ cũng như
phải đem lại hiệu quả cho mọi người, cho toàn xã hội.
-CDCCKT phải dựa trên một chương trình hành động thống nhất mang tính quốc
gia. Đối với cơ cấu theo lãnh thổ, CCKT vừa phải phù hợp với lợi thế so sánh của
vùng vừa phải hài hoà với tổng thể xã hội. Đối với cơ cấu ngành, phải xuất phát từ
sự thay đổi các ngành chủ lực làm đầu tàu kéo nền kinh tế từ những thay đổi về
lượng đến những chuyển dịch về chất. Cơ cấu theo thành phần tuy không đóng vai
trò chủ đạo nhưng phải tạo ra môi trường kinh tế cởi mở, linh hoạt cho sự chuyển
dịch.
-CDCCKT có thể diễn ra một cách tuần tự, cũng có thể diễn ra một cách nhảy vọt
tuỳ theo điều kiện cụ thể.
2.3. Xu hướng CDCCKT
CDCCKT có thể diễn ra theo nhiều hướng khác nhau và còn phù thuộc vào mục
tiêu kinh tế xã hội của từng quốc gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, để có một nền
kinh tế hợp lí và đồng bộ thì CDCCKT tốt nhất nên đi theo một xu hướng chung.
Đặc biệt, đối với CC ngành kinh tế: Tỉ trọng ngành phi nông nghiệp tăng lên, tỉ
trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Mục tiêu để đạt đến một nền kinh tế phát
triển thì: tỉ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 85%tổng lao động xã hội. Khoa học
công nghệ đóng góp khoảng 80% năng suất lao động xã hội. Ngành công nghiệp

Dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp. Tỷ lệ tiết kiệm chiếm hơn 20% thu
nhập quốc dân thuần túy. Đầu tư chiếm tỷ lệ cao.
 Giai đoạn 5:Tiêu dùng cao
 Có thể thấy trong mỗi giai đoạn đầu tư luôn là yếu tố tiên quyết đối với sự
hình thành 1 cơ cấu kinh tế mới,tiến bộ và hợp lý hơn.
1.2. Mô hình 2 khu vực của Harry Oshima
Dựa trên nghiên cứu của 2 mô hình 2 khu vực của Athus Lewis và của trường phái
Tân cổ điển và đặc điểm riêng của các nước châu Á gió mùa (nền nông nghiệp
mang tính chất thời vụ cao nên lao động thất nghiệp cũng có tính chất thời vụ);
Harry Oshima đã quan tâm đến việc đầu tư phát triển nền kinh tế theo 3 giai đoạn:
 Giai đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng: tạo việc làm trong thời gian nhàn
rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp. Cụ thể là đa dạng
hoá sản xuất nông nghiệp, xen canh, tăng vụ, mở rộng chăn nuôi. Đồng thời để
4
nâng cao năng suất lao động cần đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương, đập
tưới tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn để trao đổi hàng hoá, hệ thống giáo
dục và điện khí hoá nông thôn.
 Giai đoạn 2: Hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng
thời cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng. Bên cạnh việc
tiếp tục phát triển nông nghiệp theo quy mô lớn, cần phát triển những ngành
công nghiệp, dịch vụ cần nhiều lao động và các ngành thu hút nhiều lao động.
Nhờ đó vừa giải quyết lao động dư thừa vừa mở rộng thị trường cho ngành
công nghiệp.
 Giai đoạn 3: Sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngành kinh tế
theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. Đẩy mạnh đầu tư đưa khoa học công
nghệ vào nhằm thay thế lực lượng lao động đang dần trở nên thiếu hụt. Các
ngành sử dụng ít lao động đang dần thay thế các ngành sử dụng nhiều lao động
trong cơ cấu kinh tế
 Mô hình của Oshima là mô hình tiến bộ nhất và cũng gần gũi nhất với
điều kiện Việt Nam (một nước châu Á gió mùa). Bởi vậy những kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status