HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC CỦA MỘT SỐ
DÒNG LAI LAN HUỆ SAU IN VITRO
TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC CỦA MỘT SỐ
DÒNG LAI LAN HUỆ SAU IN VITRO
TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Hạnh Hoa
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
bộ nhân viên trong Bộ môn Thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt
Nam đã quan tâm giúp đỡ tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi
thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy giáo, Cô giáo trong
Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện để tôi
hoàn thành luận văn thạc sỹ.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Học viên
Vũ Thị Phượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
Mục đích, yêu cầu của đề tài
2
1.2.1
Mục đích
2
1.2.2
Yêu cầu
2
1.3
Ý nghĩa của đề tài
2
1.3.1
Ý nghĩa khoa học
2
1.3.2
5
2.1.4
Đặc điểm thực vật học của loài Hippeastrum equestre Herb. (Lan huệ,
Loa kèn đỏ)
6
2.1.5
Yêu cầu sinh thái của loài hoa Lan huệ Hippeastrum equestre Herb. 6
2.2
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Lan huệ Hippeastrum equestre Herb. 8
2.2.1
Kỹ thuật trồng
8
2.2.2
Chăm sóc
8
Nuôi cấy in ivtro
12
2.5.1
Phương pháp nhân giống in vitro cây Lan huệ
12
2.5.2
Ưu nhược điểm của phương pháp nhân giống in vitro
13
2.6
Tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón trên thế giới
14
2.6.1
Nhu cầu và tiêu thụ phân bón của thế giới
14
2.6.2
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
3.1
Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
22
3.1.1
Đối tượng nghiên cứu
22
3.1.2
Vật liệu nghiên cứu
22
3.1.3
Địa điểm nghiên cứu
25
3.1.4
31
4.1
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ DÒNG LAI LAN
HUỆ SAU IN VITRO
4.1.1
31
Sự tăng trưởng kích thước lá và sự ra lá của một số dòng Lan huệ
sau in vitro
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
31
Page iv
4.1.2
Sự tăng trưởng đường kính thân hành của một số dòng lai Lan huệ
sau in vitro
4.2
35
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI GIÁ THỂ ĐẾN SINH
4.4
47
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA
DÒNG T1
4.4.1
4.5
48
Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự tăng trưởng kích thước lá và sự
ra lá mới của dòng T1
48
TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY LAN HUỆ
53
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
54
5.1
KẾT LUẬN
54
Bảng 4.3 Sự tăng trưởng chiều rộng lá của một số dòng lai Lan huệ sau in
34
vitro
Bảng 4.4 Sự tăng trưởng đường kính thân hành (củ) của một số dòng lai Lan
huệ sau in vitro
36
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của giá thể tới sự ra lá của dòng H19
38
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của giá thể tới sự tăng trưởng chiều dài lá dòng H19
39
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của giá thể tới sự tăng trưởng chiều rộng lá dòng H19
41
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón gốc tới sự ra lá của dòng H2
43
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phân bón gốc tới sự tăng trưởng chiều dài lá của
dòng H2
44
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sự ra lá của một số dòng lai Lan huệ sau in vitro
32
Hình 4.2 Sự tăng trưởng chiều dài lá của một số dòng lai Lan huệ sau in vitro 33
Hình 4.3 Sự tăng trưởng chiều rộng lá của một số dòng lai Lan huệ sau in
35
vitro
Hình 4.4 Sự tăng trưởng đường kính thân hành (củ) của một số dòng lai Lan
huệ sau in vitro
36
Hình 4.5 Ảnh hưởng của giá thể tới sự ra lá của dòng H19
39
Hình 4.6 Ảnh hưởng của giá thể tới sự tăng trưởng chiều dài lá dòng H19
40
Hình 4.7 Ảnh hưởng của giá thể tới sự tăng trưởng chiều rộng lá của dòng H19
41
Hình 4.8 Ảnh hưởng của phân bón gốc tới sự ra lá của dòng H2
51
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CT
Công thức
ĐC
Đối chứng
PBG
Phân bón gốc
TB
Trung bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro sáu dòng hoa Lan huệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
đó là các dòng: H1, H3, H5, H37, H85, H12, kết quả đã xác định được môi trường
khởi động thích hợp nhất với vật liệu vào mẫu và giá thể thích hợp để ra cây.
Nhằm góp phần phân loại đánh giá được các dòng lai Lan huệ sau in vitro
để phục vụ cho công tác chọn tạo giống chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số dòng lai Lan huệ sau in vitro tại
Gia Lâm - Hà Nội”.
1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
- Xác định được công thức có ảnh hưởng tốt nhất tới sinh trưởng của các
dòng Lan huệ nghiên cứu trong mỗi thí nghiệm.
- Đánh giá ưu nhược điểm của từng dòng Lan huệ nghiên cứu trong thời
gian thí nghiệm.
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm được yêu cầu sinh thái, kỹ thuật chăm sóc, các loại sâu bệnh hại
cây Lan huệ và biện pháp phòng trừ.
- Theo dõi sự sinh trưởng của cây Lan huệ.
- Theo dõi ảnh hưởng của từng loại giá thể, phân bón lá, phân bón gốc đến
sự sinh trưởng của cây Lan huệ.
- Qua thí nghiệm tìm ra được loại giá thể, phân bón lá, phân bón gốc thích
hợp nhất cho sự sinh trưởng của cây Lan huệ.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
hiệp sĩ” và đã được đặt tên từ năm 1837 bởi mục sư William Herbert. Không ai
biết lý do chắc chắn tại sao vị mục sư lại lựa chọn tên này mặc dù người ta cho
rằng cụm hoa khi chưa nở được bao bọc bởi 2 lá mo trông rất giống mắt ngựa và
khi bông hoa nở trông rất giống ngôi sao (Uphof and J.C.T., 1938; Mathew and
Brian, 1999; Carter and Kathie, 2010).
Sự mua bán các cây hoa thuộc chi Hippeastrum diễn ra lần đầu khi những
người trồng hoa ở Hà Lan nhập khẩu một vài loài từ Mexico và Nam Mỹ. Quá
trình nhân giống và lai tạo được diễn ra trong suốt thế kỷ 18, sau đó loài hoa này
được chú ý đến ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 19. Năm 1946, hai người trồng hoa ở
Hà Lan mang cây hoa này đến Nam Phi và bắt đầu trồng trọt tại đây (Carter and
Kathie, 2010).
Mặc dù, hầu hết các cây hoa trong chi Hippeastrum đều xuất phát từ Hà
Lan và Nam Phi nhưng ngày nay chúng lại rất phát triển ở Anh, Nhật, Israel, Ấn
Độ, Brazil và Australia (Mathew and Brian, 1999).
Hiện nay, hoa Lan huệ được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Trung
Quốc, người ta gọi là Hoa Lan huệ, ở Châu Âu gọi là hoa tình yêu - (tiếng Anh là
Valentine Flower) vì hoa nở đúng vào dịp Lễ hội tình yêu 14/2 (Quách Thị
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Phương, 2009). Tại Mỹ, Lan huệ gần như nở thường xuyên trong các ngày lễ tết
và rất được ưa chuộng.
Hippeastrum equestre được trồng khắp Châu Mỹ nhiệt đới, từ Mehico và
phía nam Tây Ấn đến Brazil và Chile. Hoa nở xòe có màu đỏ cam tươi sáng
với một ngôi sao màu trắng hơi vàng nơi gốc phía trong bao hoa. Một cành hoa
cao khoảng 15 – 20 inch ( 38,1 – 50,8 cm), thường có hai đến bốn bông hoa.
Mỗi cây hoa thường có 6 đến 8 lá, lá dẹt dài khoảng 18 inch (45,72 cm), màu
lục. Những cây thuộc giống Loa kèn Hippeastrum equestre là loài dễ trồng nhất,
vòng trong hẹp hơn. Nhị 6; chỉ nhị tách rời nhau, đính ở họng ống bao hoa; bao
phấn 2 ô, đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc. Bầu hạ, 3 ô, đính noãn trung
trụ, mỗi ô nhiều noãn; vòi nhụy dài, mảnh; đầu nhụy dạng đầu hoặc 3 thuỳ. Quả
nang hình cầu hoặc hình thuôn, mở ở khe lưng ô thành 3 mảnh. Hạt nhiều, dẹp,
màu đen nội nhũ nạc bao lấy phôi nhỏ (Nguyễn Thị Đỏ, 2007).
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các loài thuộc chi Hippeastrum
Ở nước ta, nhiều loài trong chi Hippeastrum thường ra hoa vào khoảng
giữa tháng 2 cho đến hết tháng 5, nở tập trung nhất vào cuối tháng 3 đầu tháng 4
(Nguyễn Thị Đỏ, 2007).
Lan huệ có khả năng duy trì bộ lá xanh quanh năm nên vẫn giữ được
màu xanh trong suốt mùa đông. Vào những tháng có nhiệt độ xuống thấp, cây
vẫn có thể được trồng ngoài trời nhưng nên phủ rơm rạ hoặc lá khô quanh gốc
để hạn chế tác hại.
Nhìn chung, các củ Lan huệ từ lần ra hoa thứ 2 thì đều có khả năng ra hơn
một ngồng hoa, tuy nhiên còn phụ thuộc vào giống. Một số củ nhỏ có thể cho 2
ngồng hoa trong khi nhiều củ khá to chỉ cho một ngồng. Nhiều trường hợp củ
Lan huệ khi được trồng trong điều kiện tối ưu và được chăm sóc tốt đã cho tới 3
ngồng trong một vụ hoa. Một củ hoa phải ra ít nhất 4 lá to và khỏe vào năm trước
thì mới có khả năng cho hoa vào mùa hoa năm sau. Một số củ xuất hiện 2 ngồng
hoa cùng một lúc nhưng thường thì chúng ra hoa lệch nhau. Ngồng thứ 2 có thể
ra muộn hơn ngồng thứ nhất vài ngày cho đến vài tuần, cá biệt có thể đến vài
tháng. Ngồng sau thường có ít hoa hơn so với ngồng trước, thường là 2 đến 3
hoa/ngồng trong khi ngồng thứ nhất có 4 hoa.
Các cây trong chi Hippeastrum có một đặc điểm là ra lá trước khi cây ra
hoa. Nhiều khi bộ lá tàn lụi hẳn cây mới bắt đầu nhú ngồng hoa. Các củ hoa từ Hà
Lan thường thì ra hoa trước, đến khi hoa tàn thì mới bắt đầu ra lá. Còn các củ hoa từ
Nam Phi thì lại ra lá cùng lúc với sự xuất hiện ngồng.
Hầu hết các cây có thân hành và giò ngầm đều có thời kỳ ngủ nghỉ dưới
đất sau khi ra hoa và đây cũng là thời kỳ cần ít sự quan tâm chăm sóc nhất trong
năm. Các loài thuộc chi Hippeastrum cũng như hầu hết các cây họ Hành khác
H. equestre var. alba : Hoa màu trắng
-
H. equestre var. splendes : Hoa màu đỏ, cuống dài.
-
H. equestre var. fulgidum : Hoa màu vàng cam tươi, mép cánh có viền trắng.
-
H. equestre var. major : Hoa lớn, màu vàng cam tươi, gốc cánh hoa
màu xanh.
2.1.5 Yêu cầu sinh thái của loài hoa Lan huệ Hippeastrum equestre Herb.
Lan huệ là cây trồng khá dễ tính, nó có thể chịu mọi chế độ khắc nghiệt
về dinh dưỡng, ánh sáng. Nó có thể sống được ở nơi ít nắng hoặc nhiều nắng, đất
tốt hoặc đất cằn, nơi khô hạn hay nơi đủ ẩm, trong điều kiện nào nó cũng có thể
ra hoa. Chính vì vậy mà nhiều khi người ta trồng củ ở đâu đó rồi quên đi, đến khi
hoa nở thì mới nhớ đến. Tuy nhiên, trong những điều kiện như vây, cây sẽ cho ít
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
hoa/cụm, hoa thường có kích thước nhỏ và độ bền hoa cũng giảm. Nhưng khi
trồng hoa với mục đích thương mại và với những người thực sự yêu thích loài
hoa này thì những yêu cầu về ngoại cảnh thích hợp cho sinh trưởng phát triển của
Page 7
gian chiếu sáng khoảng 6 giờ/ ngày. Khi thấy cây xuất hiện ngồng hoa nên đưa
cây ra ngoài ánh sáng trực xạ sẽ giúp cây cứng cáp, ngồng hoa mập mạp, khỏe
mạnh và đứng thẳng. Trồng ở ngoài nắng hoa sẽ mọc nhanh hơn và trổ hoa sớm
hơn trong bóng râm. Nếu trồng Lan huệ ở nơi thiếu ánh sáng và ánh sáng bị
lệch, ngồng hoa sẽ bị cong, không đẹp (Tô Thị Mai Dung, 2008).
2.1.5.4 Nước
Lan huệ cũng như các cây họ Hành khác rất kị úng. Nếu tưới nhiều nước
hoặc khi trồng gặp trời mưa nhiều, củ hoa có thể bị thối. Tuy nhiên, việc cung cấp
nước thường xuyên giúp cho cây khỏe mạnh và không bị héo, nhất là thời kỳ cây ra
hoa. Đây là thời kỳ cây cần cung cấp nước nhiều nhất, thiếu nước trong giai đoạn
này ngồng hoa phát triển chậm, còi cọc, cánh hoa mỏng. Vào mùa đông cây cần tưới
ít hơn. Ở thời kỳ mới trồng củ xuống đất, rễ chưa bén cần cung cấp ít nước.
Tưới cho cây vào sáng sớm hoặc chiều mát là thích hợp nhất, tránh tưới vào
lúc trời nắng to. Mùa khô cần phủ gốc bằng các vật liệu hữu cơ để giữ ẩm cho cây.
Giống như những cây khác, muốn ra hoa Lan huệ cũng đòi hỏi phải có một thời gian
khô hạn để phân hóa mầm hoa. Vì thế trong điều kiện tự nhiên, vào mùa khô cây sẽ bị thiếu
nước lá héo khô, cây sẽ phân hóa mầm hoa, khi mùa mưa đến có nước, cây sẽ ra lá và trổ hoa
( />2.2 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY LAN HUỆ HIPPEASTRUM
EQUESTRE HERB.
2.2.1 Kỹ thuật trồng
Lan huệ có thể trồng từ củ, củ giống thích hợp để trồng có đường kính củ
từ 6 - 7 cm, vùi đất sâu từ 1/2 - 2/3 củ. Trồng củ Lan huệ đúng bài bản nhất là
chôn 2/3 củ xuống đất.
Lan huệ có thể trồng từ hạt hoặc từ củ, trước khi trồng cần xem xét điều
chỉnh tính chất của đất cho phù hợp, đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng, giữ được ẩm
kiệt dinh dưỡng và có thể mang nguồn bệnh.
Nếu muốn cây đẻ nhánh nhanh thì có thể chuyển cây ra đất, khi đó cũng
cần ít sự chăm sóc hơn. Tuy nhiên, chú ý rằng bộ rễ của Lan huệ rất cần oxy nên
khi trồng cần làm đất kỹ, tơi xốp để tạo độ thoáng khí, tránh bị thối củ.
Vào mùa đông ở các nước xứ lạnh có băng tuyết và sương giá, người ta
thường đưa cây vào nhà để tránh tác hại cho cây. Khi nhiệt độ ngoài trời giảm
đến 10oC là cây bắt đầu bị hại. Khi đưa cây vào nhà nên để cây gần cửa sổ để
đón ánh sáng, nhiệt độ thoải mái với người là thích hợp cho cây. Vào mùa xuân,
nhiệt độ ấm lên và ánh sáng mặt trời sẽ làm cây phục hồi rất nhanh. Ngay khi
thấy cây có dấu hiệu sinh trưởng cần tưới nước để cây ra hoa vào mùa xuân (Tô
Thị Mai Dung, 2008).
Trong suốt thời gian từ sau trồng cho tới khi nảy lộc mới cần giữ ẩm và
bón dinh dưỡng cần thiết. Khi tưới chú ý tưới bằng nước ấm là tốt nhất, không
nên dùng nước lạnh, đặc biệt không nên tưới lên đỉnh ngọn cây, nên tưới xung
quanh gốc sẽ tốt hơn (Cao Thị Thoa, 2010).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Yêu cầu về phân bón của cây hoa Lan huệ không cao, thông thường vào
mùa xuân chỉ bón một ít lúc ra hoa là đủ, để cho củ to thời kỳ ra hoa bón 1 - 2 lần
P, K. Sau khi trồng, khi đã thấy chồi xuất hiện, cung cấp phân bón 2 lần 1 tuần,
bón phù hợp với nhu cầu của cây về các yếu tố dinh dưỡng vi lượng và đa lượng.
Sau khi cây ra hoa, cắt bỏ những hoa tàn, làm giảm bớt sự tiêu hao dinh
dưỡng, chú ý tránh làm tổn thương bộ lá. Đối với cây trồng trong chậu hoặc tạo
cảnh trong bình thủy tinh để trong nhà, sau khi cắt những hoa tàn nên cho củ tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời.
Trong mùa sinh trưởng cần phải tưới nước, nhưng phải xới xáo để đất
được thông thoáng tránh củ và rễ bị thối. Mỗi năm phải thay chậu một lần.
hại, trên lá sẽ có nhiều vết nâu đỏ, khô đi sau đó lá bị rụng. Các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng loại nấm này có thể bị tiêu diệt khi nhiệt độ ban ngày lên tới 46 oC. Ở
nơi nguyên sản của Lan huệ, nhiệt độ có thể lên tới 40 oC - 50 oC trong bóng râm.
Vì vậy, xử lý củ Lan huệ ở nhiệt độ như vậy trong thời gian ngắn thì cũng không
gây tác hại nghiêm trọng đến cây.
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DINH DƯỠNG QUA LÁ
Bên cạnh quá trình hút chất dinh dưỡng bằng rễ là chính và chủ yếu, cây
vẫn có thể hút chất dinh dưỡng qua lá thông qua khí khổng và tầng cutin.
Đây là con đường hấp thu bị động chất khoáng nên không cần năng lượng.
Khả năng hấp thu chất khoáng qua lá phụ thuộc vào một số yếu tố như: nồng độ
chất khoáng, pH dung dịch, loại cây, tuổi lá…
Phạm vi biến đổi là rất lớn. Cùng là một nguyên tố nhưng tốc độ thấm qua
lá sẽ không giống nhau nếu chúng ta sử dụng ở các dạng khác nhau.
Thường nên phun vào lúc cây còn non khi màng lớp cutin chưa thật phát
triển hoặc vào lúc cây sắp đạt được cường độ cực đại của quá trình trao đổi chất.
(Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 2000).
Hiện nay, các chế phẩm phân bón lá trên thị trường rất phong phú. Trong
đó chủ yếu là các loại phân bón lá do các cơ sở trong nước sản xuất, chỉ có một
số chế phẩm phân bón lá là nhập từ nước ngoài. Loại phân bón lá do các cơ sở
trong nước sản xuất được chia thành hai nhóm chính:
+ Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng nhằm thúc đẩy sinh
trưởng hoặc thúc đẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quá trình chín
hoặc làm nhanh ra rễ.
+ Nhóm không chứa các chất kích thích sinh trưởng mà chỉ chứa các
nguyên tố khoáng vi lượng, đa lượng được phối trộn theo một tỷ lệ hợp lý giúp
cây sinh trưởng ổn định một cách tự nhiên.
Tác giả Trịnh Văn An (1995) cho rằng, nếu xét về khía cạnh bền vững và
lành mạnh môi trường thì sử dụng phân vi sinh, phân sinh hóa hữu cơ vào sản
xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nông nghiệp bền vững.
trên quy mô rộng.
Đã có một số nghiên cứu bước đầu về nhân in vitro cây Lan huệ, các tác
giả cho biết: Môi trường thích hợp nhất cho sự tạo chồi ở cây Lan huệ (Loa kèn
đỏ nhung Hippeastrum equestre Herb.) là môi trường MS có bổ sung 5mg/l BA
(Nguyễn Thị Phương Thảo và cs., 2009) và cây Lan huệ mạng là môi trường MS
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
có bổ sung 3mg/l BA, 100% mẫu tái sinh tạo chồi và củ nhỏ. Chồi và củ nhỏ tạo
ra được sử dụng cho thí nghiệm nhân nhanh. Đa số các chồi đều ra rễ. Các cây
con in vitro hoàn chỉnh được đưa ra thích nghi với điều kiện giá thể cát và trấu
hun theo tỷ lệ 1:1 (Nguyễn Thị Phương Thảo và cs., 2010).
2.5.2 Ưu nhược điểm của phương pháp nhân giống in vitro
Nhân giống in vitro có những ưu điểm sau:
- Có khả năng hình thành một số lượng lớn cây giống từ một mô, cơ quan
của cây với kích thước nhỏ khoảng 0,1 – 10 mm.Trong khi đó phương pháp nhân
giống truyền thống (giâm chiết cành) nhằm tạo thành một cây giống , it nhất phải sử
dụng một phần cơ quan dinh dưỡng của cây với kích thước 5 – 20 cm.
- Hoàn toàn tiến hành trong điều kiện vô trùng nên cây giống tạo được sẽ
không bị nhiễm bệnh từ môi trường bên ngoài.
- Sử dụng vật liệu sạch virut và có khả năng nhân nhanh số lượng lớn cây
sạch virut.
- Hoàn toàn chủ động điều chỉnh các tác nhân điều chỉnh khả năng tái
sinh của cây như thành phần dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ, chất điều tiết sinh
trưởng... theo ý muốn.
- Hệ số nhân giống cao nên có khả năng sản xuất số lượng lớn cây giống
trong một thời gian ngắn.
triệu tấn năm 2011/2012.
Trong các nước tiêu thụ phân bón trên thế giới Trung Quốc là nước tiêu
thụ phân bón lớn nhất, tiếp đến Ấn Độ, Mỹ, Braxin...
Trong các sản phẩm phân bón được tiêu thụ thì sản lượng ure chiếm nhiều
nhất, có đến 150 triệu tấn ure được tiêu thụ trong năm 2010 và lượng này tăng lên
155 triệu năm 2011 (Magnus Berge, 2012), trong số đó Trung Quốc chiếm trên 54
triệu tấn, kế đến Ấn Độ trên 21 triệu tấn, các nước Nga, Indonesia, Mỹ mỗi nước
trên 6 triệu tấn, còn lại của các nước khác (IFA, 2012). Đối với phân DAP và MAP
năm 2011 tiêu thụ 56 triệu tấn, trong đó Ấn Độ tiêu thụ DAP chiếm 34%, Trung
Quốc chiếm 25% thì Trung Quốc tiêu thụ MAP đến 47%, Bắc Mỹ 20% và Nam Mỹ
15% sản lượng của toàn cầu (Eduar Lindner, 2012). Ngoài ra, các loại phân bón
NPK, SSP và CAN cũng được người nông dân quan tâm và tiêu thụ ngày càng tăng,
trong số đó Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Nga, Mỹ là những quốc gia có lượng phân
NPK sử dụng nhiều nhất. Trong đó, sản lượng tiêu thụ các chủng loại phân bón tại
Ấn Độ gia tăng gần như liên tục từ năm 2005 đến 2011.
2.6.2 Sản xuất phân bón của thế giới
Theo Maria Blanco (2011), sản xuất phân bón của thế giới từ năm 2002
đến 2007 tăng trung bình 3,7%/năm, nhưng do năm 2008 – 2009 tăng trưởng âm
nên kéo cả giai đoạn 2002 – 2009 sản xuất phân bón thế giới chỉ tăng trung bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
1,7%/năm. Trong giai đoạn này, trong 3 yếu tố dinh dưỡng chính là đạm chiếm
58%, lân 24% và kali 18%. Cuối năm 2009, thị trường phân bón đã hồi phục
nhưng mới chỉ có đạm tăng trưởng nhẹ, lân và kali giảm. Sự sụt giảm chủ yếu ở
châu Âu, Mỹ và Nga trong khi Ấn Độ và Trung Quốc tăng (FAO, 2010). Năm
2009, châu Á chiếm tỷ trọng lớn về phân đạm và lân, trong khi đó Bắc Mỹ và
Page 15