BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ ĐỨC HÙNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY
TNHH MTV CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ ĐỨC HÙNG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY
TNHH MTV CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.62.01.15
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2015
Tác giả
Vũ Đức Hùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................... 1
Lời cảm ơn ............................................................................................................ iii
Danh mục bảng...........................................................................................................v
Danh mục sơ đồ, hộp.................................................................................................vi
Danh mục chữ viết tắt............................................................................................ vii
PHẦN I. MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 2
1.2.1 Mục tiêu chung: .............................................................................................. 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ............................................................................................... 2
1.3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu ...................................................... 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 2
1.3.3 Nội dung nghiên cứu....................................................................................... 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................ 3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................................... 4
2.1 Tổng quan chung về rủi ro tín dụng trong cho thuê tài chính.............................. 4
2.1.1 Những vấn đề chung về rủi ro tín dụng ........................................................... 4
1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:………………………………………………..7
Ngân hàng cổ phần ngoại thương Việt Nam .................................................. 83
4.2.2 Các giải pháp ................................................................................................ 85
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................... 92
5.1 Kết luận ........................................................................................................... 92
5.2 Kiến nghị ......................................................................................................... 93
5.2.1 Kiến nghị với Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam ..................................... 93
5.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước .............................................................. 93
5.2.3 Kiến nghị với Ngân hàng Ngoại thương ........................................................ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 99
PHỤ LỤC………………………………………………………………………... 101
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Dư nợ, thị phần của các Công ty CTTC tại Việt Nam ............................ 44
Bảng 3.2: Cơ cấu nguồn vốn 2008-2013 ................................................................ 46
Bảng 3.3: Cơ cấu sử dụng vốn 2008-2013 ............................................................. 50
Bảng 3.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty............................................ 52
Bảng 4.1: Kết quả kinh doanh cho thuê tài chính 2011 – 2013 ............................... 60
Bảng 4.2: Kết quả cho thuê tài chính chia theo đối tượng khách hàng và theo loại
hình doanh nghiệp ......................................................................................... 69
Bảng 4.3: Dư nợ cho thuê tài chính theo nhóm ngành ............................................ 70
Bảng 4.4: Tình hình nợ xấu tại Công ty VCL ........................................................ 72
Bảng 4.5: Tình trạng nợ xấu so sánh với các công ty khác ..................................... 74
Bảng 4.6: Tình hình phân loại nợ của công ty ........................................................ 76
Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng khác ........................................ 75
Bảng 4.8: Đánh giá của nhân viên về chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của công ty
CTTC
Cho thuê tài chính
DPRR
Dự phòng rủi ro
HĐ/VN
Huy động/Nguồn vốn
LNST
Lợi nhuận sau thuế
NHTMCPNTVN
Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
NHNTVN
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
QLRRTD
Quản lý rủi ro tín dụng
ROA
VCB
Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
VCBL
Công ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng thương
mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
VCSH
Vốn chủ sở hữu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nợ xấu có tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và
tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Theo
công bố của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, chỉ tính riêng trong năm 2012 tỷ lệ
nợ xấu của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng ở Việt Nam là 11,8%, tương
đương với khoảng 270.000 tỷ đồng (Nguyễn Thị Mùi, 2012). Tuy nhiên theo đánh
giá của các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm quốc tế như Moody’s Investors
Service hoặc Fitch thì với ít nhất 15% nợ xấu, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang
trong tình trạng tiêu cực bất kể những tín hiệu khá lạc quan về kinh tế vĩ mô và những
lĩnh vực tài chính –ngân hàng
• Phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại công ty TNHH MTV cho thuê
tài chính Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
• Đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại công
ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
1.3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng
trong lĩnh vực cho thuê tài chính
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Công ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong vòng 01 năm từ
2014 đến 2015.
Số liệu thứ cấp thu thập qua 5 năm (2009-2013), số liệu sơ cấp thu thập trong
2 năm (2012 - 2013).
1.3.3. Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro
tín dụng trong lĩnh vực cho thuê tài chính
- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại công ty
TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Đưa ra các đề xuất nhằm cải thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại công
ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng
khoán và giá hàng hoá trên thị trường. Rủi ro thị trường bao gồm rủi ro lãi suất, rủi
ro tỷ giá và rủi ro giá.
Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất đối với thu nhập, giá
trị tài sản và giá trị nợ phải trả của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài phát sinh từ:
a) Chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới;
b) Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất của các công cụ tài chính khác
nhau nhưng có cùng thời điểm đáo hạn;
c) Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau;
d) Tác động từ các sản phẩm có quyền chọn gắn theo lãi suất.
Rủi ro tỷ giá là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá khi tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
Rủi ro giá là rủi ro do biến động bất lợi của giá chứng khoán, giá hàng hoá
đối với giá trị các tài sản tài chính, công cụ tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài.
Rủi ro thanh khoản là rủi ro do:
a) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng
thực hiện các nghĩa vụ tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài chính; hoặc
b) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện
nghĩa vụ khi đến hạn nhưng phải chịu tổn thất lớn để thực hiện nghĩa vụ đó.
Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ
hoặc có sai sót; do con người; do các hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài. Rủi ro
động tín dụng của ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
2.1.1.2 Phân loại
Theo Đinh Xuân Hạng & Nguyễn Văn Lộc (2012), căn cứ vào nguyên nhân
phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau :
Rủi ro tín
dụng
Rủi ro giao
dịch
Rủi ro lựa
chọn
Rủi ro bảo
đảm
Rủi ro danh
mục
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro nội
tại
Rủi ro tập
trung
Sơ đồ 2.1 Phân loại rủi ro tín dụng
- Rủi ro giao dịch : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phân rủi ro tín dụng thành ba nhóm: nguyên nhân thuộc về ngân hàng, nguyên nhân
thuộc về người vay, nguyên nhân khác (Bùi Quang Tín và cộng sự, 2012).
1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:
Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về
năng lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu
kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin,
đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay và kỳ hạn không phù
hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, nếu cán bộ tín dụng
không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành
chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người vay, thì việc mất
vốn rất dễ xảy ra. Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có
tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng
cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà
bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Thứ hai: Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát sao.
Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân. Vậy nên nếu
cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán bộ đã thực sự chính
xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao. Hơn nữa, sau khi giải ngân rồi,
cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu
của những khoản nợ có vấn đề. Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ
chỉ mang tính hình thức. Do vậy, nếu các cấp quản lý không có sự giám sát đối với
cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm chí dẫn
đến những sai phạm đạo đức trong cho vay và thu nợ. Ngoài ra, các cơ quan cấp
trên không quan tâm đến thực trạng tín dụng của ngân hàng thì sẽ không có những
hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh
tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai môc đích, sản phẩm chất lượng
thấp không bán được… Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội
kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc
không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất
với ngân hàng là rất lớn.
Thứ hai: Do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng. Để đạt được
môc đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng
phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch.
Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả
năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn không hợp lý,
dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao. Ngoài ra, cũng có những trường hợp người kinh
doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố tình kéo dài với
ý định không trả nợ hoặc tiếp tục sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.
3. Nguyên nhân khác:
Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh như
chất lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…
Thứ nhất: Chất lượngthông tin chưa cao. Các thông tin mà ngân hàng thu
thập thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của
khách hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào các
thông tin thu thập được để ra quyết định cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì không
phải lúc nào các thông tin ngân hàng thu thập được đều có tính chính xác, đầy đủ và
kịp thời. Do vậy, nếu hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng không hoạt động có
hiệu quả, cập nhật được những thông tin đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân
hàng thất thoát vốn khi cho vay.
Thứ hai: Những biến động kinh tế không dự báo được. Khi nền kinh tế ổn
định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền
thuê trong suốt thời hạn thuê đã thỏa thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê
được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê” (Chính phủ, 2001).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ giao
dịch cho thuê tài chính có đặc điểm sau đây:
• Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền
sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên;
• Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên
mua lại tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại
thời điểm mua lại;
• Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết
để khấu hao tài sản thuê;
• Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít
nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”.
• Điểm khác biệt lớn giữa quan điểm về cho thuê tài chính ở Việt nam so với
nhiều nước khác trên thế giới là đối tượng cho thuê là máy móc thiết bị, phương tiện
vận chuyển và các động sản khác mà không áp dụng cho thuê đối với bất động sản.
Phân biệt cho thuê tài chính so với nghiệp vụ cho vay trung dài hạn:
• Về bản chất, có thể coi cho thuê tài chính là một loại hình tín dụng trung
và dài hạn vì nó mang những đặc trưng cơ bản của tín dụng trung và dài hạn:
• Bên cho vay (hay bên cho thuê) chuyển giao có thời hạn cho bên đi vay (bên
đi thuê) một lượng giá trị dựa trên cơ sở tín nhiệm.
• Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (hay cho thuê)
hay nói cách khác là bên đi vay (đi thuê) phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
(1)
Bên cung cấp
Bên Thuê tài chính
Sơ đồ 2.2: giao dịch cho thuê tài chính ba bên
(1) Khách hàng thuê tài chính trực tiếp đàm phán với nhà cung cấp các điều
kiện của hợp đồng mua bán như yêu cầu kỹ thuật, giá cả, thời gian mua hàng, bảo
hành, bảo dưỡng ....
(2) Khách hàng đề nghị thuê tài chính và tiến hành đàm phán với Công ty
CTTC các điều kiện của việc thuê tài chính như điều kiện về giá trị thuê, lãi suất,
thời gian thuê, và các điều kiện cụ thể khác có liên quan…
(3) Công ty CTTC sẽ trực tiếp ký hợp đồng mua bán với nhà cung cấp theo
các điều kiện mà bên cung cấp và khách hàng đã đàm phán.
b. Cho thuê hai bên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
Trong trường hợp này Nhà cung cấp và bên cho thuê chính là một. Hình thức
này được các nhà cung cấp thiệt bị hoặc các nhà đầu tư bất động sản áp dụng khi họ
cho thuê tài chính sản phẩm của chính mình. Nghiệp vụ này phổ biến ở nhiều nước
nhưng không xuất hiện ở Việt Nam do những quy định pháp luật ở Việt Nam không
cho các tổ chức phi tín dụng thành lập công ty cho thuê tài chính và sản phẩm cho thuê
tài chính không bao gồm bất động sản.
c. Mua và cho thuê lại
Trường hợp này còn được gọi là Lease back, trường hợp này ngược với
a. Khái niệm
Rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính là sự xuất hiện của một hay một số
biến cố không mong đợi gây thất thoát thiệt hại về tài sản, về thu nhập, uy tín của
công ty cho thuê tài chính trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh cho thuê
tài chính (Bùi Quang Tín và cộng sự, 2012).
b. Phân loại
Theo Bùi Quang Tín và cộng sự (2012) thì tùy theo mức độ về khả năng mất vốn,
rủi ro tín dụng có thể chia thành 2 loại là rủi ro đọng vốn (Bên cho thuê vẫn có khả năng
thu hồi được khoản nợ song khó khăn) và rủi ro mất vốn (Bên cho thuê không thể thu hồi
được khoản nợ). Rủi ro đọng vốn sẽ ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn, trong khi đó
rủi ro mất vốn làm tăng chi phí (chi phí pháp lý, chi phí giám sát, nợ khó đòi…), làm suy
giảm dòng tiền và làm giảm mức sinh lời (do mất gốc, chi phí dự trữ tăng cao…)
c. Nguyên nhân
Rủi ro trong cho thuê tài chính có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách
quan hoặc chủ quan từ cả hai phía bên cho thuê hoặc bên đi thuê tài chính. Theo
Đinh Xuân Hạng và Nguyễn Văn Lộc (2012) thì các nguyên nhân ấy có thể được
chi tiết như sau:
Nguyên nhân khách quan
Do sự thay đổi chính sách của chính phủ.
Mỗi khi nền kinh tế có những biến động lên, xuống thì lập tức chính phủ
phải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện tại nhằm hạn
chế ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước. Các chính sách của chính phủ như
chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư phát triển … có ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung và của các
công ty CTTC nói riêng.
Nguyên nhân từ môi trường pháp lý.
Hoạt động kinh doanh của các công ty cho thuê tài chính liên quan đến nhiều
lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống luật pháp ổn định và
lành mạnh thì môi trường kinh doanh của công ty cho thuê tài chính sẽ có nhiều
thuận lợi. Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều kẽ hở thì rất dễ
tổn thất cho các công ty CTTC. Hiện nay cùng với chính sách chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, bên đi thuê thường gặp phải những rủi ro sau: (i) Thiệt hại từ phía thị
trường đầu vào (ii) Thiệt hại từ thị trường đầu ra (iii) Rủi ro về khả năng tài chính
của khách hàng
Nguyên nhân từ phía công ty cho thuê tài chính
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
Do chính sách của công ty cho thuê tài chính không phù hợp, thiếu sự kiểm
soát chặt chẽ hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao. Thể hiện
+ Mức độ tập trung tín dụng cao: Tập trung tín dụng thể hiện ở hai điểm: (i)
Mức độ tập trung danh mục tín dụng vào một khách hàng đơn lẻ hoặc một nhóm
khách hàng có liên quan; (ii) Mức độ tập trung khách hàng dựa trên các nhân tố rủi
ro đồng nhất hoặc tương hỗ nhau
+ Quy trình tín dụng: Rất nhiều rủi ro phát sinh do sự yếu kém trong quy
trình cấp và giám sát tín dụng do: (i)Thiếu một hệ thống đánh giá khách hàng
hoàn thiện; (ii) Đưa ra các quyết định cho vay mang tính chủ quan; (iii) Hệ
thống giám sát tín dụng yếu kém; (iv) Khả năng giám sát khách hàng vay và giá
trị tài sản đảm bảo; (v) Các khoản tín dụng không được định giá theo rủi ro.
+ Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ tín dụng cho
thuê tài chính yếu kém dẫn đến cán bộ tín dụng không đánh giá chính xác về khách
hàng và phưng án vay vốn, từ đó làm phát sinh những hợp đồng cho thuê tài chính
kém an toàn. Mức rủi ro trong trường hợp này sẽ ngày càng tăng dần trong suốt quá
trình kể từ khi xét duyệt đến khi giám sát và cuối cùng là thu nợ.
+ Rủi ro do sự đánh giá sai về giá trị tài sản cho thuê tài chính. Trong hoạt
động cho thuê tài chính, tài sản cho thuê chính là tài sản đảm bảo cho khoản cho
thuê. Rủi ro có thể xảy ra do công ty cho thuê tài chính không đánh giá đúng giá trị