Điều tra tình hình sinh trưởng của cây trám đen ghép tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi,
các số liẹu và kết quả trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực
địa hoàn toàn trung thực, khách quan.

Thái Nguyên, ngày
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

tháng

Người viết cam đoan

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
(Ký và ghi rõ họ tên)

năm 2016


.LỜI CẢM ƠN
Trong môi trường làm việc năng động như hiện nay, để đáp ứng được
những nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì hành trang ra trường của mỗi
sinh viên không chỉ là nắm vững về mặt lý thuyết mà còn cần phải giỏi về
thực hành.
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn rất quan trọng giúp cho mỗi sinh viên
có điều kiện củng cố những kiến thức đã học tập trong nhà trường và là cơ hội
để mỗi sinh viên tự trau dồi thêm kiến thức thực tế nhằm chuẩn bị hành trang
cho công việc sau này.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất chí của ban chủ
nhiệm khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em tiến
hành thực hiện khóa luận:
“Điều tra tình hình sinh trưởng của cây trám đen ghép tại xã Hà Châu,

Bảng 4.4. Kết quả theo dõi và đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng tại vườn
nhà cô Trương Thị Thúy.
Bảng 4.5. Kết quả theo dõi và đánh giá 1 số chỉ tiêu sinh trưởng của cây bổ
sung tại vườn gia đình ông Nguyễn Văn Tụ.
Bảng 4.6. Kết quả theo dõi đánh giá chỉ tiêu sinh trưởng cây Trám ghép tại
gốc tại vườn gia đình ông Nguyễn Văn Tụ năm 2015.


MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
1.2. Mục đích.
1.3. Mục tiêu.
1.4. Ý nghĩa của đề tài.
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan cây Trám đen.
2.1.1. Tổng quan đối tượng nghiên cứu.
2.1.2. Đặc điểm phân bố.
2.1.3. Đặc điểm hình thái.
2.1.4. Đặc điểm sinh thái.
2.1.5. Giá trị kinh tế.
2.2. Cơ sở khoa học về sinh trưởng.
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.
2.3.1. Nghiên cứu cây Trám trên thế giới.
2.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam.
2.4. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nhân lực.
2.4.1. Đặc điểm tự nhiên.
2.4.2. Diện tích tự nhiên.
2.4.3. Đặc điểm địa hình khí hậu.
2.5. Tài nguyên.

3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu.
3.4.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu.


3.4.2.2. Thu thập số liệu.
3.4.2.3. Phương pháp xử lý số liệu .
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
4.1. Đánh giá tình hình sinh trưởng cây Trám đen ghép.
4.1.1. Đánh giá tỉ lệ sống/chết của cây Trám đen ghép.
4.1.2. Đánh giá, phân loại phẩm chất của cây.
4.1.3. Điều tra sinh trưởng cây, phát triển Trám đen ghép.
4.2. So sánh sự sinh trưởng của cây Trám ghép sau một năm trồng tại vườn
nhà ông Nguyễn Văn Tụ.
4.3. Đánh giá tính hình sâu bệnh hại trên cây Trám đen ghép.
4.4. Đề xuất một số giải pháp về kỹ thuật trồng , chăm sóc, cách phòng trừ
.sâu bệnh và thu hoạch chế biên cho cây Trám đen.
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận.
5.1.1. Về sinh trưởng, phát triển của cây Trám ghép.
5.1.2. Về tình hình sâu, bệnh hại và ảnh hưởng của thời tiết.
5.2. Kiến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Phần 1
Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu của mỗi quốc gia, là tài nguyên
có thể tái tạo được. Rừng đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của toàn
bộ con gnười cũng như sinh vật trên trái đất, rừng cung cấp oxi,duy trì sự

trong nhiều chương trình và dự án trồng rừng khác nhau ở các tỉnh trung du
miền núi phía Bắc và miền Trung. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất các mô
hình trồng tập trung chưa thành công do nhiều nguyên nhân.
Ở mảnh đất Hà Châu, Phú Bình, Trám đen là một đặc sản nổi tiếng mang
lại hiệu quả gấp nhiều lần so với cây lúa và các cây ăn quả khác. Cách đây
nhiều năm về trước, cây trám đã có mặt trên đất đồi, đất bãi của xã Hà Châu.
Đó là những cây Trám bản địa mọc rải rác ở trong vườn đồi của các hộ gia
đình với chủng loại phong phú đặc biệt là cây Trám đen. Trám mọc thành
khu xen với các loại cây tự nhiên khác trên địa bàn xã Hà Châu, huyện Phú
Bình. Cây Trám có nhiều công dụng có thể dùng làm nến, hương, dầu thơm,
keo dán, dược liệu, quả chứa nhiều canxi, vitamin C, sắt và các chất hữu cơ
có tác dụng bổ tỳ vị, phòng ngừa tả, cảm cúm. Nói về hiệu quả của cây trám,
ông Đoàn Văn Kim cho biết gia đình ông hiện có gần 20 cây trám tự nhiên
và trám ghép, năm 2008, đã cho thu hoạch gần 2 tấn quả, trị giá hơn 12 triệu
đồng, cao gấp nhiều lần so với cây sắn, xoan, bạch đàn giống cũ trồng trên
cùng một diện tích. Và nhiều hộ nông dân khác ở trong xã. Ngoài quả trám
làm thực phẩm, người dân còn khai thác nhựa để bán cho các cơ sở làm
hương, nến, chế keo dán, sơn, dầu thơm. Ngoài ra tiềm năng để phát triển


cây Trám trên xã Hà Châu còn rất lớn, nhu cầu của nhiều hộ trong xã còn
mông muôn được sự quan tâm đâu tư, khoa học để phát triển cây Trám.
Được sự giúp đỡ của trường Đại học Nông Lâm và khoa Lâm Nghiệp, xã Hà
Châu đã xây dựng được mô hình trồng Trám ghép từ những cây Trám ưu việt
tại xã nhằm tăng lợi ích kinh tế, cải tạo vườn tạp. Sau một năm tiến hành
ghép trồng, chưa có đánh giá khả năng sinh trưởng của cây trồng.
Xuất phát từ thực tế và nhu cầu trên em xin đề xuất đề tài nghiên cứu
“Điều tra tình hình sinh trưởng của cây trám đen ghép tại xã Hà Châu,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích

Trám đen được giám định tên khoa học Pimela nigra Lour. từ năm 1790
(Loureiro); sau đó được chuyển tên khoa học là Canarium nigrum (Lour.)
Engl. (năm 1900) và C. pimela Leench (năm 1805). Năm 1985, hai nhà thực
vật Trần Định Đại và Yakolev đã giám định lại tên hợp pháp của loài trám
đen là C.tramdenum.
2.1.2. Đặc điểm phân bố
Cây Trám mọc tự nhiên trên thế giới chủ yếu ở Châu Á từ 18-270 vĩ độ
Bắc ở các nước như: Việt Nam, Ấn Độ, Lào, Trung Quốc (Vân Nam, Hải
Nam, Hồng Kông), Lào, Campuchia, Thái Lan…
Cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Thường gặp trong
các rừng nhiệt đới thường xanh, ở độ cao từ khoảng 50 đến 800m; tập trung
nhiều ở độ cao 100-400 m trên mặt biển. Cây thường gặp nhiều ở sườn hoặc
chân núi đất, rất ít khi gặp trên đỉnh núi; thường cùng mọc với lim, trám
trắng, chẹo tía, gội nếp, gội trắng....Các ưu hợp lim + trám trắng + trám đen
khá phổ biến trong các kiểu rừng kín thường xanh ở các tỉnh phía Bắc và Bắc
Trung Bộ trước kia, nhưng hiện nay thường chỉ còn lại dấu vết ở các vùng núi
và trung du của nước ta.
2.1.3. Đặc điểm hình thái
Cây gỗ lớn, cao 25-30 m, đường kính 60-90 cm hay hơn. Thân thẳng, phân
cành cao khi mọc trong rừng, nhưng nếu mọc ngoài sáng, cây phân cành


sớm, tán toả rất rộng. Vỏ ngoài màu nâu nhạt, thịt hơi hồng, có nhựa mủ đen
với mùi thơm rất đặc biệt.
Lá kép lông chim 1 lần, lẻ; lá chét hình thuôn, trái xoan, dài 6-12 cm, rộng
3-6cm, chất lá cứng, ròn, mặt trên bóng, mặt dưới sẫm hơn, đầu và gốc lá
hơi lệch. Gân bên 8-10 đôi; không có lá kèm. Lá ở cây con khác với cây
trưởng thành, thường là lá đơn nguyên hay xẻ, sau mới chuyển dần sang dạng
lá kép.
Cụm hoa chùm hình viên chuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn. Hoa tạp

trám kho cá, trám nhồi thịt... Quả trám còn được dùng để làm ô mai mặn, ngọt
được nhiều người ưa thích. Nhân hạt trám chứa nhiều dầu béo, có vị bùi; có
thể ăn sống, ép dầu hoặc làm nhân bánh.
Sau 6 năm, nếu trồng trên đất tốt sẽ cho thu hoạch. Cây thành thục có thể
đạt 200-300kg quả/cây vàcho thu hoạch trong thời gian khoảng 50 năm.
Quả trám còn được dùng làm thuốc vì có tác dụng giải khát, sinh tân dịch,
thanh lọc, giải độc rượu. Lá có vị hơi đắng, hơi chát, tính mát, có tác dụng
thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống. Vì vậy quả trám dùng giải độc
rượu, cá nóc hoặc chữa hóc xương cá. Dùng quả trám tươi giã nát, vắt lấy
nước uống hoặc sắc uống. Nếu dùng ngoài, dịch nước của quả chữa da nứt nẻ
do khô lạnh, lở ngứa, nhất là lở miệng không há mồm ra được, chữa sâu răng
bằng cách dùng quả và hạt trám đốt, tán nhỏ và bôi vào chân răng. Rễ cây
trám dùng chữa phong thấp, đau lưng, gối tê liệt cử động. Lá trị cảm mạo,
viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, phù thũng, ghẻ lở. Ở Trung Quốc (tỉnh
Vân Nam) dùng rễ trám trị đau dạ dày, bỏng lửa; lá dùng trị xuất huyết tử
cung, ban độc; quả trị nội thương xuất huyết, ho; vỏ rễ dùng trị nội thương thổ
huyết.


Nhựa trám đen có thể dùng thắp sáng hoặc dùng trong công nghệ véc ni
sơn. Nhưng nhựa trám đen thường ít và chóng khô đặc hơn trám trắng, nên ít
khi khai thác nhựa từ cây trám đen. Gỗ trám đen nhẹ, mềm, màu xám trắng,
giác lõi không phân biệt, có thể dùng làm nhà, đóng đồ, làm gỗ dán lạng, bút
chì, diêm, bột giấy.
Trám là cây đa mục đích được chọn làm cây trồng trong các vườn rừng, trại
rừng và các khu rừng phòng hộ đầu nguồn. Là cây trồng bóng mát, vườn
rừng, nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi rừng tự nhiên
2.2. Cơ sở khoa học về sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng lên của môt đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóa
của một vật sống (theo V.Bertalafly) hoặc sự biến đổi của nhân tố điều tra

(Lour.) Raeusch còn tên Ô liu trung quốc (Chinese oliu), hoặc Ô liu trắng
trung quốc (Chinese white oliu), là loài cây có phân bố tự nhiên và được trồng
rộng rãi ở nam Trung Quốc, nhân hạt chứa hàm lượng dầu béo cao (52,8%)
và protein (29,5%). Theo Hầu Khoan Chiếu (1958) thì ở Trung Quốc có Trám
trắng và Trám đen. Trám trắng có tên khoa học là Canarium album Raeusch.
Trám đen có tên khoa học là C. pimela Koenig. Trám đã được người dân
trồng lấy quả từ rất lâu đời. Các tác giả Trung Quốc ở Hội thực vật chí (1976)
giới thiệu Trám đen cho trồng rừng. Theo các tác giả thì Trám đen cao 10 - 25
m, đường kính 20 - 120 cm, có phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Đông,
Quảng Tây, một phần của tỉnh Phúc Kiến và ở Đài Loan. Các nhà khoa học
Trung Quốc cũng đã có những nghiên cứu về phân bố, hình thái, đặc tính sinh
học, giá trị sử dụng, kỹ thuật trồng rừng và phòng trừ sâu bệnh (chủ yếu là
Sâu Anoplophora chinesis hại cây con). Họ đã tìm được cây nhiều quả có thể
đạt 200 kg quả, cá biệt có thể đạt 400 kg quả. Tuy vây, theo công bố mới nhất
thì ở Trung quốc có đến 7 loài trám, trong đó Trám trắng (Canarium album)


và Trám đen (C. pimela hoặc C. tramdenum) là những loài cây chủ yếu có giá
trị kinh tế. Trám trắng quả hình trứng, có phân bố và được trồng trên các sườn
núi và thung lũng, ở độ cao 100 - 1300 m, tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng
Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan, Vân Nam và
Việt Nam. Trám đen quả hình trứng hẹp dài 3 - 4 cm, đường kính 1,7 11 - 2
cn, có phân bố ở độ cao 500 - 1300 m tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam,
Vân Nam và các nước khác như Việt Nam, Lào, Canpuchia (Flore of China,
2008). Trám trắng được nhiều nhà khoa học trên thế giới đặt vấn đề nghiên
cứu từ đầu thế kỷ 20. Các nhà khoa học người Pháp trong đó có Anfray
(1901), Pignet (1902) và Heim (1904) đã nghiên cứu khai thác và chế biến
nhựa Trám để phục vụ cho công nghệ chế biến xà phòng, dầu thơm, véc ni và
xi đánh dày (Tập san kinh tế Đông dương - 1994). Theo tài liệu này người ta
đã chưng cất được 18 - 20 kg dầu, 57 đến 60 kg côlôphan trong 100 kg nhựa

phân bố tự nhiên từ Nam Trung Quốc đến Việt Nam. Ở Việt Nam cây mọc
trong rừng thứ sinh ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miền Trung: Phú Thọ, Bắc
Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Bình....Tuy vậy, theo công
bố mới đây thì Trám đen có phân bố chủ yếu cũng ở một số tỉnh miền Bắc
Việt Nam như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình (Vũ Văn Dũng et al, 2009). Trám đen trồng 5 - 6 năm bắt đầu ra hoa,
cây ra hoa vào tháng 4 - 5, thu hái quả tháng 9 - 11. Khi quả chín vỏ thường
có mầu tím đen. Số lượng quả Trám đen trong 1 kg là 200 - 300, số lượng hạt
là 350 - 400 hạt/kg. Trám đen là cây ưa sáng mọc nhanh, ưa đất thịt pha, tầng
đất dày, độ ẩm trung 14 bình, mọc nhiều ở những nơi độ dốc thấp, cá biệt có
thể sống trên cả đất sỏi và có thể trồng theo phương thức nông lâm kết hợp: 2
- 3 năm đầu có thể xen cây nông nghiệp như Lạc, Lúa, Đỗ, Sắn.... Đây là cây


đa tác dụng, quả sau khi ngâm (om qua nước nóng) ăn rất ngon. Quả tươi giã
lấy nước uống giải độc do ăn phải cá nóc hoặc cá thối, chữa hóc xương cá.
Quả khô tán bột, rắc chữa nứt nẻ da, lở miệng và trị sâu răng....Vì thế quả
Trám đen được tiêu thụ ở nhiều thị trường trong nước chủ yếu là ở dạng thực
phẩm ăn tươi. Nhu cầu thi tường về quả Trám đen rất lớn, trong khi lượng quả
bán ra chưa nhiều nên quả tươi Trám đen có giá cao hơn Trám trắng, khoảng
10.000 - 12.000 đ/kg quả tươi, trong khi giá quả tươi Trám trắng là 6.0008.000 đ/kg.
Tình hình nghiên cứu về Trám ghép và mô hình trồng Trám ghép
Có nhiều nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật ghép Trám và trồng Trám
bằng cây ghép, các nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho các hoạt động sản
xuất thực tiễn, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Kết quả nghiên cứu trồng rừng trám trắng (Canarium album Raeusch)
làm nguyên liệu gỗ dán của Phạm Đình Tam (2004), đã xác định được cơ sở
khoa học để đề xuất các giải pháp lâm sinh phù hợp gây trồng và phát triển
cây trám trắng. Đề xuất biện pháp kỹ thuật để trồng rừng trám trắng phục vụ
mục tiêu cung cấp gỗ cho công nghiệp gỗ dán. Xây dựng cơ sở khoa học cho

sinh trưởng của cây Trám ghép đã rút ra kết luận: Cây Trám ghép bằng cành
ngọn có tỷ lệ sống đạt 84% cao hơn so với ghép cành sát ngọn chỉ đạt 80%
(Ong Thế Quảng, 2006)
Kết quả nghiên cứu của Trần Đức Mạnh (2004-2007) đã lựa chọn được
mười cây mẹ có năng suất quả vượt trội hơn cây trung bình từ 120%- 200% ở
các xuất xứ khác nhau như Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Thái Nguyên và
Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy trám đen là cây rừng có thể nhân
giống bằng phương pháp ghép. Tỷ lệ thành công đạt trung bình 50%, phương
pháp ghép áp bên thân và phương pháp ghép nêm là hai phương pháp đạt kết


quả cao nhất. Thời vụ ghép tốt nhất là vụ xuân (tháng 3,4) và vụ Thu (tháng
9,10). Kết quả nghiên cứu cho thấy phương thức trồng rừng bằng cây con
gieo từ hạt và trồng toàn diện có cây phù trợ giai đoạn đầu tỏ ra phù hợp với
sinh trưởng quần thể của cây trám đen đáp ứng mục tiêu trồng rừng lấy gỗ.
Trong giai đoạn rừng 1-4 tuổi trám đen cần có cây che phủ hỗ trợ cho cây
sinh trưởng và phát triển. Cây che phủ hỗ trợ phù hợp là cây Cốt khí và cây
Keo. Phương thức trồng rừng dùng cây phù trợ cần có biện pháp kỹ thuật tác
động như tỉa cành hoặc tỉa thưa keo từ năm thứ 3 trở đi, điều chỉnh độ tàn che
của cây phù trợ đối với cây tràm. Còn đối với phương thức trồng rừng bằng
cây ghép và trồng theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ đáp ứng được
mục tiêu trồng rừng lấy quả. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã thực xây dựng
được 8,5ha mô hình rừng trồng trám đen phục vụ mục tiêu lấy gỗ và lấy quả.
Các mô hình sau khi trồng năm đầu tiên đều đạt trên 90%, sau đó 3 năm tỷ lệ
tồn tại trong các mô hình thí nghiệm còn tương đối cao 82% và 86% ở Nghệ
An và 90% ở Hòa Bình. Điều này cho thấy môi trường ở đây phù hợp cho cây
trám ghép phát triển. Đường kính và chiều cao của 2 mô hình ở Tân Lạc Hòa Bình và Yên Thành-Nghệ An sinh trưởng tương đối đồng đều. Công 17
trình nghiên cứu còn đưa ra hướng dẫn kỹ thuật ghép cây trám đen với 2 kỹ
thuật ghép là ghép áp và ghép nêm. Sau khi ghép thành công, cây ghép được
nuôi trong vườn từ 6-9 tháng sau đó đem trồng. Đoạn cành ghép ≥ 25cm, đã

dung nghiên cứu tập trung theo hướng nhân giống Trám bằng 2 cách gieo hạt
và ghép và thử nghiệm sơ chế một số sản phẩm hàng hóa từ Trám, tuy nhiên
nghiên cứu giai đoạn đó không thành công.
Qua đó ta thấy: Trước đây và hiện nay việc nghiên cứu và áp dụng các
phương pháp ghép đã được áp dụng từ lâu nhưng chủ yếu là đối với đối tượng
cây ăn quả, cây công nghiệp, đối tượng cây lâm nghiệp cũng đã và đang được


áp dụng nhưng chưa nhiều. Đối với cây lâm nghiệp thì phương pháp nhân
giống bằng hom, bằng hạt... đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau, song
nghiên cứu về Trám còn hạn chế, các nghiên cứu đã tập chung nhiều hơn vào
đối tượng cây Trám trắng, cây Trám đen nói chung và Trám đen tại xã Hà
Châu, huyện Phú Bình nói riêng các nghiên cứu còn ít ỏi và tản mạn, do vậy
chưa phát huy được thế mạnh của loài cây này tại khu vực nghiên cứu, vì vậy
đề tài được đề xuất thực hiện.
2.4. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nhân lực
2.4.1. Đặc điểm tự nhiên:
- Vị trí địa lý:
Xã Hà Châu là 1 trong 21 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn huyện Phú
Bình, là một xã nhỏ nằm sát con sông Cầu thuộc vùng tung du Bắc bộ ở phía
tây nam của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Phía đông giáp Đông Tân huyện Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang.
- Phía tây, phía nam giáp xã Tiền Phong huyện Phổ Yên.
- Phía bắc giáp xã Nga My huyện Phú Bình.
Xã Hà Châu có 15 xóm, nằm dọc theo đê Hà Châu cách trung tâm huyện
Phú Bình 10km, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 25km tương đối
thuận lợi giao lưu văn hóa và trao đổi hang hóa với các vùng khác.
2.4.2. Diện tích tự nhiên
Xã có 1.398 hộ và 6.090 nhân khẩu, trong đó 90% sống bằng nghề sản
xuất nông nghiệp; diện tích mặt bằng là 529,05 ha, đất nông nghiệp chiếm

Vùng 9: Thuộc xóm Đắc Trung, Thùa Gia.
Vùng 10: Thuộc đơn vị xóm Đồng.
Vùng 11: Thuộc đơn vị xóm Củ.
2.5.2. Mặt nước


Với nguồn nước hệ thống thủy lợi, các hồ, ao trữ lượng khá lớn, chất
lương tốt là nguồn cung cấp chính cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên do sự
chênh lệch độ cao ảnh hưởng của địa hình nên thủy lợ vẫn là công tác đảm
bảo cho việc tưới tiêu ruộng đồng. Ngoài ra còn có nước ngầm, được hình
thành qua quá trình kiến tạo phân bố chủ yếu dọc theo các thung lung ven
sông, ở độ sâu trung bình từ 3 đến 6 mét, một số khu vực từ 7 đến 12 mét,
phân bố không đồng đều. Chất lượng nước chủ yếu là nước nhạt, không độc
hại, lưu lượng khá lớn cung cấp nhu cầu sinh hoạt cho nhân dân.
2.5.3. Khoáng sản
Khoáng sản tuy chưa được khảo sát đánh giá cụ thể trên địa bàn, hiện có
các loại phiến sét, đất giàu sét có đọ kết von lớn (trên 30%) có trữ lượng khá
lớn có thể phục vụ khai thác làm vật liệu xây dựng hoặc vật liệu san nền, tuy
nhiên cần chống sạt lở đất khi mưa lũ.
2.5.4. Đánh giá lợi thế phát triển dựa trên tiềm năng, thế mạnh về tài
nguyên của xã
Xã Hà Châu là xã có địa hình, khí hậu và đất đai có thể phù hợp với việc
thành lập các các trang trại vườn đồi, nông lâm ngư nghiệp kết hợp. Thế mạnh
của xã Hà Châu chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, là then chốt để xây dựng
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của xã trong giai đoạn 2012 - 2015 và
những năm tiếp theo phù hợp với lợi thế của địa phương.
Song song với nền kinh tế nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ, tiểu thủ
công nghiệp là lợi thế rất lớn mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho địa
phương.
Xét về đất đai, xã Hà Châu còn nhiều tiềm năng để phát triển nông lâm




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status