ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN VĂN BẰNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BƯỞI DA XANH TRIẾT VÀ GHÉP TẠI XÃ TỨC TRANH –
HUYỆN PHÚ LƯƠNG – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nông Lâm Kết Hợp
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010 – 2014 Thái Nguyên, năm 2014
nghiệp là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên. Công việc
này giúp sinh viên được áp dụng những kiến thức được học trong nhà trường
vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm quý báu phục vụ cho công việc chuyên môn sau này.
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn. Tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình sinh trưởng và phát
triển của Bưởi da xanh chiết và ghép tại xã Tức Tranh - huyện Phú Lương
- tỉnh Thái Nguyên”.
Trong suốt quá trình thực tập tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo, các cô, các chú nơi tôi thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo TS. Trần Công Quân cùng với sự giúp đỡ của Ths. Trần Đình
Quang và PGS.TS. Ngô Xuân Bình cùng toàn thể các thầy cô đã trực tiếp
hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình thực tập cũng như quá trình báo
cáo đề tài tốt nghiệp.
Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian có hạn nên đề tài vẫn
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng
góp của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trần Văn BằngDANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới 10
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
2.1.1. Cơ sở lý luận khoa học của đề tài 4
2.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi trong nước và trên thế
giới 5
2.1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi trên thế giới 5
2.1.2.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi ở Việt Nam 14
2.1.3. Giới thiệu về cây bưởi 23
2.1.3.1. Nguồn gốc và phân loại 23
2.1.3.2. Đặc điểm hình thái cây bưởi 24
2.1.2.3. Yêu cầu sinh thái của cây bưởi 25
2.2. Tổng quan nghiên cứu 28
2.2.1. Điều kiện tự nhiên 28
2.2.1.1. Vị trí địa lý 28
2.2.1.2. Địa hình đất đai 28
2.2.1.3. Điều kiện khí hậu thủy văn 30
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 31
2.2.2.1. Tình hình kinh tế, xã hội của xã Tức Tranh - huyện Phú Lương 31 2.2.2.2. Điều kiện về khí hậu 34
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
35
3.1. Đối tượng nghiên cứu 35
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
3.2.1. Địa điểm tiến hành nghiên cứu 35
3.2.3. Thời gian tiến hành nghiên cứu 35
3.3. Nội dung nghiên cứu 35
4.4. Khả năng phát triển của giống bưởi thí nghiệm 56
4.4.1. Tỷ lệ cây bưởi ra hoa ở tuổi 2 56
4.4.2. Tỷ lệ hoa trên cây bưởi ở tuổi 2 57
4.4.3. tỷ lệ đậu quả trên cây thí nghiệm 58
4.4.4. Tỷ lệ quả trên cây bưởi thí nghiệm. 59
4.4.5. Tình hình sâu bệnh hại bưởi thí nghiệm 59
4.5. Đề xuất các biện pháp chủ yếu trong chăm sóc bưởi da xanh tại khu vực
nghiên cứu 61
4.5.1. Kỹ thuật tủ gốc giữ ẩm và tưới nước 61
4.5.2. Kỹ thuật bón phân 61
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
5.1. Kết luận 64
5.2. Đề nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây ăn quả thuộc họ cam quýt là loại cây quan trọng trong phát triển
kinh tế ở Việt Nam. Cây bưởi nói chung và một số giống bưởi đặc sản của
từng vùng miền hiện nay là một nghề kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế
cao, vừa có thu nhập ổn định, có thể bảo vệ tài nguyên môi trường, đặc biệt là
vùng đất dốc, vùng đồi núi…
Bưởi (Citrus grandis L. Osbeck) là một trong số cây ăn quả có múi
có giá trị như: nước quả, mứt,… trong công nghiệp chế biến vỏ, hạt để lấy
tinh dầu, bã tép để sản xuất pectin có tác dụng bồi bổ cơ thể, đặc biệt bưởi có
tác dụng rất tốt để chữa các bệnh đường ruột, tim mạch
Cây bưởi cho trái sớm và có sản lượng cao, sau 3 năm cây trồng đã bắt
đầu cho trái, những năm về sau năng suất tăng dần và thời gian kinh doanh có
thể kéo dài trên 50 năm nếu được chăm sóc tốt. Chủng loại bưởi phong phú,
thời kỳ chín quả khác nhau nên có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tươi cho
thị trường.
Trồng bưởi đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng những cây
trồng khác. Nhiều kết quả cho thấy, trên cùng một đơn vị diện tích, cây ăn quả
cho thu nhập cao gấp 2 – 6 lần so với cây lương thực. Cây ăn quả cùng với
một số cây công nghiệp, cây đặc sản khác đang được đánh giá là cây trồng
quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế,
bảo vệ môi trường sinh thái ở các tỉnh trung du miền núi.
Từ năm 2007 đến nay, thí nghiệm trồng thử giống Bưởi da xanh chiết
và ghép ở xóm Gốc Gạo - xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái
Nguyên của PGS TS Ngô Xuân Bình đã có kết luận bước đầu: các chỉ tiêu
sinh trưởng đều tốt hơn hẳn so với các giống bưởi nổi tiếng của miền bắc khả
năng ra hoa và đậu quả trung bình, chất lượng rất tốt đặc biệt là khả năng
chống chịu vượt trội so với các giống bưởi địa phương. Kết quả bảo quản
trong điều kiện thủ công dài hơn so với các loại cây trồng khác, thí nghiệm
được bố trí ở diện tích hẹp và thời gian ngắn. Liệu giống Bưởi da xanh trồng 3
tại thái nguyên năng suất chất lượng có ổn định hay không. Để chắc chắn có
thể khuyến cáo cho bà con giống Bưởi da xanh có thể trồng được tại đất thái
nguyên. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình
sinh trưởng và phát triển của Bưởi da xanh chiết và ghép tại xã Tức Tranh
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở lý luận khoa học của đề tài
Cây họ cam quýt có những nhu cầu nhất định về môi trường, dinh
dưỡng. Mỗi một vùng có những điều kiện tự nhiên khác nhau điều này đã tạo
nên những loại cây trồng phù hợp và mang đặc trưng riêng cho vùng sinh thái
đó.Trải qua quá trình chọn lọc tự nhiên đã hình thành nên những chủng loại
cam quýt có khả năng thích ứng và có đặc tính quý đáp ứng được như cầu của
sản xuất.
Công tác chọn giống rất có ý nghĩa trong việc tìm ra các giống mang
gen quý. Để duy trì và nhân rộng ra sản xuất bằng nhiều phương pháp khác
nhau như: nhân giống từ hạt, nhân giống vô tính…Tuy nhiên đối với cây ăn
quả là cây trồng lâu năm nên cây giống khi đem trồng phải là cây có chất
lượng tốt, mang những đặc tính di truyền ổn định từ cây mẹ. Do vậy việc sản
xuất cây con từ hạt ít được sử dụng vì cây con dễ bị thoái hóa giống, xuất hiện
biến dị di truyền và cây chậm ra hoa, quả. Nhân giống bằng phương pháp
chiết và ghép đã khắc phục được những nhược điểm này như: cây con sinh
trưởng, phát triển tốt, giữ nguyên được các đặc điểm di truyền tốt từ cây mẹ
và rút ngắn thời gian ra hoa quả. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong sản
xuất cây ăn quả giúp rút ngắn giai đoạn chăm sóc, nhanh đem lại hiệu quả
kinh tế đối với người làm vườn.
Trên thế giới vùng trồng bưởi trải dài từ 40
0
vĩ Bắc xuống 40
0
vĩ Nam,
nghĩa là bưởi trồng được ở vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Ở Việt Nam, các
tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam mang tính đặc thù của khí hậu á nhiệt
đới, phù hợp với vùng trồng giống Bưởi da xanh (gốc bến tre) là cơ sở để
năm vẫn cho năng suất tốt. 6
Bưởi cũng mang những đặc trưng chung của thực vật đó là sự phát triển
cân đối và xen kẽ nhau giữa bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất.
nhìn chung khi còn ở giai đoạn cây con sự sinh trưởng có phần nghiêng về bộ
rễ [19]. Trong một năm, bưởi có thể ra nhiều đợt lộc tùy vào từng vùng sinh
thái, giống, tuổi cây và những tác động kỹ thuật của con người, thông thường
có từ 2 – 4 hoặc 5 đợt lộc [13], [4].
Loại cành mẹ và số đợt lộc trong năm liên quan khá nhiều đến hiện
tượng ra quả cách năm. Ở những loài cây càng nhiều đợt lộc trong năm, tuổi
thuần thục của cành mẹ để có thể sinh ra cành có quả càng ngắn thì hiện
tượng ra quả cách năm càng ít hoặc không có [13], đó cũng là lý do có thể
giải thích vì sao quất và một số giống chanh có thể ra quả quanh năm.
Cành bưởi cũng như cành cam quýt sau khi mọc một thời gian khi đã
gần đến độ thuần thục tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng auxin giảm đột
ngột làm cho các tế bào sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh
trưởng bị chết. Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng “tự rụng ngọn”
nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục, sau đó các
mầm từ nách lá lại mọc ra và phát triển thành đợt lộc mới xuân, hạ, thu, đông.
Chính vì vậy mà cành cam quýt không có thân chính rõ rệt, cành lá xum xuê
rậm rạp sau một năm sinh trưởng [19].
Cành của cam quýt gồm các cành chính đó là cành mẹ, cành dinh dưỡng,
cành quả. Sự phân loại này theo chức năng của từng loại cành. Mối liên hệ
giữa các loại cành và các đợt lộc khá khăng khít [13], [19]. Cành dinh dưỡng
có thể trở thành cành mẹ, hoa mọc ở mầm bất định trên thân chính hoặc cành
dinh dưỡng cao tuổi làm cho tuổi của cành mẹ, của cành quả có độ dao động
lớn. Những năm ít hoa, hoa mọc từ cành cao tuổi vẫn có thể đậu quả rất tốt
phải có từ 40 lá cho một quả trở lên.
Tác giả Turrall cho rằng: ở cam quýt 9 tuổi cần phải có ít nhất 2,3 m
2
lá
để sản xuất 1 kg quả [18]. Reuther tổng kết rằng ở giai đoạn đầu để đảm bảo 8
đủ dinh dưỡng cho hoa đậu quả, cành mẹ đóng vai trò quan trọng, sau khi quả
lớn thì tổng diện tích lá bình quân trên 2 quả sẽ là yếu tố quyết định năng suất
và phẩm chất quả [12]. Tuy nhiên mối liên hệ giữa số lá, sự sinh trưởng của lá
và năng suất ở cam quýt cần được nghiên cứu kỹ hơn nhằm xây dựng hệ
thống các biện pháp kỹ thuật cần thiết.
Ở nước ngoài những nghiên cứu kể trên được đề cập nhiều nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng quả bằng tác động các biện pháp trồng xen hoặc
(không trồng xen) với cây cho nguồn hạt phấn tốt.
Chất lượng quả cam quýt được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu nhưng có
thể tóm tắt ở các điểm sau: vị quả, màu sắc quả, tỉ lệ thịt quả, độ mềm thịt quả
và số lượng hạt, hàm lượng dinh dưỡng,… Mục tiêu rất lớn của các nhà chọn
tạo giống là chọn giống quả không có hạt [19], [7], quả cam quýt có số lượng
hạt ít hoặc không có hạt sẽ được đánh giá rất cao.
Quả không hạt ở cam quýt là kết quả của các hiện tượng sau: Cây bị
bất dục đực hoặc bất dục cái, bất dục cả đực và cái, cây ở thể đa bội lẻ
(3n), (5n),…
Các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng quả không hạt là kết quả của
một số giống khi cho tự thụ hoặc giao phấn với nguồn hạt phấn khác nhau.
Nagai và Tanigawa (nhật bản) sử dụng 20 giống cam quýt tự thụ và giao
phấn đã cho kết quả có 4 giống khi tự thụ cho quả không hạt, tuy nhiên tác giả
chưa tìm được tổ hợp lai cho quả không hạt.
như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines vv
Trong nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng bưởi trên
thế giới không ngừng tăng. Hiện nay vùng trồng bưởi ở Việt Nam, Thái Lan,
Cu Ba, Malaixia và miền Nam Trung Quốc, … đang gặp những khó khăn lớn
về phát triển bưởi do một số bệnh hại trên cây có múi như bệnh Greening,
Tristeza. Sức tàn phá của các loại dịch bệnh này khiến cho diện tích cây có 10
múi, trong đó có bưởi của một số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp
hoặc không tăng lên được.
Trên thế giới, tính đến năm 2009, diện tích trồng cây bưởi đạt 253.971
ha, năng suất bình quân đạt 20,85 tấn/ha và sản lượng đạt 6.565.351tấn.
Trong vòng gần 10 năm từ 2000-2009, diện tích bưởi mặc dù giảm nhưng sản
lượng tăng thêm 1,1 triệu tấn, nguyên nhân chủ yếu do năng suất được tăng
lên bởi áp dụng các TBKT trong sản xuất bưởi.
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới
Chỉ tiêu
Năm
2000
Năm
2005
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Diện tích (ha) 260.639 271.976 256.547 251.407 253.971
TT
Quốc gia
Diện tích thu
hoạch (ha)
Năng
suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
1 Thế giới 253.971
258,507
6.565.351
2 Châu Phi 38.876
168,942
656.781
3 Châu Mỹ 94.972
226,252
2.148.765
4 Châu Á 116.914
9 Braxin 4.091
163,517
66.895
10 Ấn Độ 9.100
212,991
193.822
11 Thái lan 14.136
13.671
19.326
12 Mexico 16.000
246,875
395.000
13 Việt Nam 2.129
110,737
23.576
chung và giống bưởi nói riêng rất được chú trọng, vì vậy là quốc gia có bộ
giống bưởi đưa vào sản xuất tốt nhất thế giới, với nhiều giống cho quả không
hạt (thể bất dục đực, bất dục cái, thể tam bội,…).
Năm 2009, sản lượng bưởi quả (chủ yếu là bưởi chùm) của Mỹ đạt
1.182.970 tấn và là quốc gia xuất khẩu bưởi chùm lớn nhất thế giới.
Trên thế giới hiện nay có 3 vùng trồng cam quýt chủ yếu, riêng với cây
bưởi là vùng châu Mỹ, Địa Trung Hải và châu Á. Trong đó khu vực Bắc Mỹ
là vùng trồng lớn nhất sau đó đến châu Á và Vùng Địa Trung Hải. Theo thống
kê của FAO, năm 1997 sản lượng bưởi của khu vực Bắc Mỹ là 3,497 triệu tấn 13
chiếm 69,4% sản lượng bưởi của thế giới, các quốc gia có sản phẩm bưởi quả
ngoài khu vực Bắc Mỹ có sản lượng khoảng 1.541 triệu tấn chiếm 30,6%.
Châu Á: là cái nôi của cam quýt và cây bưởi và cũng là khu vực sản
xuất bưởi lớn trên thế giới, năm 2009 với diện tích cho thu hoạch quả là 116.914
ha, năng suất 315,549 tạ/ha thì sản lượng đạt được là 3.689.213 tấn.
Châu Á tuy có sản lượng bưởi cao ở Trung Quốc, Nhật Bản và Đài
Loan, nhưng do điều kiện kinh tế của các nước châu Á nên nghề trồng cam
quýt chưa được chú trọng nhiều. Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác
(trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng
trồng bưởi khác trên thế giới. Tuy nhiên nghề trồng cam quýt ở châu Á là sự
pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Đài Loan) và sự canh tác truyền
thống như: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippine Ở vùng này hiện nay tình hình
sâu bệnh hại trên cây có múi xẩy ra nghiêm trọng.
Về tiêu thụ bưởi: Nhật Bản vẫn là một thị trường lớn cho việc tiêu thụ
bưởi. Trong năm 2004/05 bang Florida của Mỹ đã xuất sang Nhật Bản
4.755.972 thùng (80.851tấn) bưởi tươi, năm 2005/06: 6 - 7 triệu thùng(102-
119 nghìn tấn), năm 2006/07: 8 triệu thùng (136 ngàn tấn). Nam Phi cũng
251.407
253.971
Năng suất(tạ/ha)
148,470
172,977
251,713
267,543
258,507
Sản lượng(tấn) 4.038.029
4.442.312
6.457.637
6.726.219
6.565.531
(Nguồn: FAO, 2011)[21]
2.1.2.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi ở Việt Nam
a. Một số kết quả nghiên cứu về cây ăn quả có múi ở nước ta
các tác giả việt Nam nghiên cứu ở nước ngoài. Nhưng rất tiếc các công trình
này đã không có điều kiện tiếp tục trong nước( Binh et al, 1998, Binh et al,
2001). Công trình nghiên cứu này cho thấy biểu hiện cơ bản của tính bất tự
hòa hợp là sự ức chế sinh trưởng của ống phấn trong bầu nhụy sau khi hoa
được thụ phấn. Tính trạng này được kiểm soát bởi một hoặc một vài gen với
nhiều alen, tuy vậy các nghiên cứu chưa được ứng dụng trong nước.
Từ năm 2001, Viện di truyền nông nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn đầu tư nghiên cứu tạo giống cây ăn quả có múi không
hạy từ các giống bản địa.
Nước ta nằm ở trung tâm phát sinh của rất nhiều giống cây ăn quả có
múi khác nhau. Một số giống dòng quý đã được mô tả, phân loại và khai thác
trong sản xuất. Mặc dù vậy, việc điều tra nghiên cứu về chủng loại, số lượng,
phân bố và đặc tính nông – sinh học của các loài, giống dòng citrus và họ
hàng hoang dại của nó chưa nhiều và chưa hệ thống. Hàng loạt câu hỏi về 16
giống gốc ghép, giống mắt ghép, cơ cấu giống và vùng quy hoạch sản xuất
cây ăn quả tươi và chế biến, vấn đề dịch bệnh ở cây có múi đòi hỏi chúng ta
phải có những nghiên cứu rất cơ bản về nguồn gen và chọn tạo giống mới ở
nước ta.
b. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi ở Việt Nam
Nước ta là một trong những nơi khởi nguyên của nhiều loại cây trồng, là
một trong những nước có thể trồng được nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây
ăn quả. Kết quả điều tra [8], [17], cho thấy ở nước ta có hàng ngàn giống cây
ăn quả thuộc 130 loài của hơn 30 họ thực vật. Nhiều loại cây ăn quả thích ứng
với các vùng khác nhau trong nước như chuối, dứa, cam quýt. Nhiều loại cây
ăn quả được trồng theo vùng sinh thái tạo thành các vùng đặc sản nổi tiếng
như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, các cây ăn quả đặc
2008 2009 2010
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Chuối
94.000
1.350.000
95.000
1.355.000
95.000
370.000
52.000
370.000
52.000
370.000
Cam
59.100
601.000
59.100
601.000
59.100
601.000
Dứa
36.200
470.000
36.200
định, diện tích dữ ở mức 12.000 – 13.000 ha, năng suất khoảng từ 10 – 12
tấn/ha và sản lượng đạt ở mức 123.000 tấn. So với các loại cây ăn quả khác
sản lượng bưởi đứng sau: chuối, dừa, cam, dứa, xoài… Tuy nhiên giai đoạn
2010 – 2015, nhiều địa phương có xu hướng phát triển trồng bưởi tạo sản
phẩm hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Nước ta còn có bộ giống cam quýt khá phong phú [12], [5]. Các giống
cam quýt được trồng ở Việt Nam chủ yếu được chọn lọc tự phát của người
dân từ những vùng trồng cam quýt truyền thống. Nhiều giống cam quýt gắn
liền với tên một địa phương như là nơi xuất xứ của các giống này như bưởi
Năm Roi (Nam Bộ), cam sành (Tuyên Quang), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh),
bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), cam Mường Pồn (Lai Châu), quýt vàng Bắc Sơn
(Lạng Sơn),…
Theo kết quả điều tra của đoàn chuyên gia Nhật Bản và viện nghiên cứu
rau quả Trung ương tổng kết ở bảng 3.5 (Đỗ Đình Ca - 1995) thì: Năm 1992,
thu thập ở các tỉnh miền Bắc từ Quảng Ninh trở ra được 185 giống cam quýt
khác nhau. Năm 1996, khảo sát ở miền Bắc, miền Trung và một số tỉnh miền
Nam thu thập được thêm 68 giống cam quýt hiện đang được trồng hầu hết các
vùng cam quýt nước ta [3].
Ngoài bộ giống được chọn lọc trong thực tiễn sản xuất ở các vùng trồng
cam quýt, từ những năm 60 với chính sách phát triển cây ăn quả của nhà
nước, đã có nhiều giống cam quýt nhập nội từ nhiều nguồn khác nhau của
nhiều dự án khác nhau (Bảng 3.6: một số giống cam quýt nhập nội vào Việt Nam).