Hệ thống hóa kiến thức và các dạng câu hỏi, bài tập phần sông ngòi lớp 10 trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lí - Pdf 35

ĐỀ TÀI
Hệ thống hóa kiến thức và các dạng câu hỏi, bài
tập phần sông ngòi lớp 10 trong bồi dưỡng học
sinh giỏi môn địa lí
A - PHẦN MỞ ĐẦU
I.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sông ngòi là nội dung kiến thức quan trọng trong thành phần thủy quyển –

một trong năm quyển của lớp vở địa lí (thạch quyển, khí quyển, thủy quyển, thổ
nhưỡng quyển, sinh quyển) được đề cập đến trong chương trình địa lí 10. Đồng thời
đây cũng là nội dung rất hay được đưa vào các câu hỏi của đề thi quốc gia. Sông
ngòi là thành phần quan trọng của môi trường địa lí tự nhiên bồi đắp tạo nên các
đồng bằng, góp phần tạo nên diện mạo của cảnh quan trên thực địa. Nó chi phối
mạnh mẽ các thành phần khác của cảnh quan nhưng cũng chịu ảnh hưởng của các
thành phần khác trong tác động qua lại của tổng thể tự nhiên thống nhất. Trong các
hoạt động kinh tế xã hội, sông ngòi có vai trò quan trọng, đặc biệt trong sản xuất
nông nghiệp, giao thong vận tải, thủy điện, cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất
… Do đó, sông ngòi là một trong những yếu tố được con người quan tâm hàng đầu.
Sông ngòi là yếu tố tự nhiên có mối quan hệ chặt chẽ với các thành phần tự
nhiên khác và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau. Vì vậy với nội dung
kiến thức này đòi hỏi giáo viên bồi dưỡng đội tuyển phải có sự nghiên cứu đầy đủ,
chính xác, khoa học và cách truyền đạt phương pháp làm bài mang lại hiệu quả cho
học sinh.
Trong giới hạn của chuyên đê “Hệ thống hóa kiến thức và các dạng câu hỏi,
bài tập phần sông ngòi lớp 10 trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lí” nhằm mục
đích hệ thống các nội dung kiến thức cơ bản về yếu tố sông ngòi: các nhân tố ảnh
hưởng tới chế độ nước sông, mối quan hệ của sông ngòi với các thành phần tự
nhiên khác, giá trị kinh tế, các dạng bài tập có liên quan… Hi vọng chuyên đề sẽ là
tài liệu hữu ích trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi.

I. KHÁI NIỆM CHUNG

1. Định nghĩa sông ngòi.
Trong thủy quyển, sông ngòi có lượng nước ít nhất : 2210 km 3\ chỉ chiếm
khoảng 0,0003% của tổng lượng thuỷ quyển. Tuy vậy, sông ngòi lại có vai trò rất
quan trọng. Trong lớp vỏ địa lí, sông ngòi là một thành phần chủ yếu trong quá
trình tuần hoàn và trao đổi vật chất (nước, muối...) và năng lượng (nhiệt) một cách
cụ thể. Ngoài ra, sông ngòi lại có một số lượng lớn và rải rộng trên khắp các lục địa
nên tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của con người.
Hiểu biết về sông ngòi cũng khá phức tạp và trải qua một thời kì lịch sử lâu
dài. Thời Cố đại, người ta thường quan niệm sông ngòi là nước; về sau, để phân
biệt với các đối tượng khác trên lục địa, người ta gọi sông ngòi là nước chảy. Gần
đây, định nghĩa về sông ngòi mới chính xác dần lên. Trước hết là : “Sông ngòi là
những dải trũng có độ dốc một chiều trong đó nước chảy thường xuyên theo trọng
lực”. Sau đó là: “Sông ngòi là những dòng chảy thường xuyên”. Cuối cùng, để biểu
thị cho các thành phần khác nhau của dòng chảy'” có thể nói: “Sông ngòi là tổng
thể của các dòng chảy thường xuyên”.
2. Các hình thái sông ngòi.
Khi nghiên cứu về sông ngòi, người ta thường chú ý tới các đặc trưng thủy văn vì
là các yếu tố cơ bản. Tuy vậy, các đặc trưng hình thái cũng có ảnh hưởng nhất định
đến lượng dòng chảy cũng như chế độ nước sông. Do đó, để hiểu biết toàn diện về
sông ngòi không thể bỏ qua các đặc trưng hình thái.
a. Hệ thống sông ngòi:
Nước rơi từ khí quyển hay nước tuyết và bãng tan sau một thời gian cháy tràn
trên mặt đất dốc sẽ tập trung lại thành dòng chảy. Các dòng cháy nhỏ chảy vào các
dòng chảy lớn hơn... rồi cuối cùng đổ vào một dòng chảy lớn nhất để tiêu nước vào
một đối tượng nhận nước nào đó: hồ đầm, biển và đại dương... Các dòng chảy trong
3



Sự phát triển của hệ thông sông ngòi, nhất là chiều dài dòng chảy, thường
được biếu thị qua mật độ sòng ngòi.
Nói chung, ờ những nơi mưa nhiều, đất đá ít thấm, mật độ sông ngòi sẽ dày
hơn. Mật độ sông ngòi ở nước ta vào khoảng 1 km/km2 . Mật độ sông ngòi cũng có
ảnh hưởng quan trọng tới chế độ nước sông. Nơi có mật độ lớn, chế độ nước thường
ít khắc nghiệt hơn các nơi khác.
c. Lưu vực sông ngòi:
Một phạm vi nhất định của bề mặt lục địa tập trung nước để cung cấp cho sông
ngòi gọi là lưu vực sông. Nguồn nước cung cấp cho sông ngòi chủ yếu là từ bề mặt
đất và một phần khác là do nước dưới đất. Do đó, lưu vực sông bao gồm 2 bộ phận :
lưu vực mặt và lưu vực ngầm. Hai lưu vực này cũng có khi không trùng nhau, nhất
là nơi có địa hình Cacxtơ phát triển, nhưng người ta thường cho là thống nhất và lấy
lưu vực mặt làm cơ sở. Như vậy, lưu vực sông là một thế tích, song thường được
hiểu đơn giản là một diện tích.
Ranh giới của các lưu vực sông khác nhau là đường phân thuỷ. Tại các lưu vực
cũng tồn tại các đường phân thuỷ khác nhau: đường phân thuỷ mặt và đường phân
thuỷ ngầm. Hai đường phân thuỷ này cũng có khi không trùng nhau ; song cũng
như lưu vực mặt, đường phân thuỷ mặt cũng được lấy làm cơ sở. Đường phân thuỷ
mặt có thể được xác định dễ dàng theo các đường đỉnh núi, còn ở đồng bằng công
việc này khó khăn hơn nhiều.
Một đặc điểm quan trọng là đường phân thuỷ mặt cũng có thể không cố định,
5


mà đột nhiên biến đổi do hiện tượng bắt dòng. Khi hiện tượng này xảy ra, diện tích
lưu vực sẽ biến đổi theo. Trên các dãy núi, khi có sườn bất đối xứng dễ xảy ra bắt
dòng về phía sườn dốc. Hiện tượng này cũng thường xảy ra : sông Kì Cùng ớ Lạng
Sơn bị Tả Giang bắt dòng về Trung Quốc..
Lưu vực sông có tác dụng quan trọng tới dòng chảy sông ngòi. Trước hết, kích
thước lưu vực có ánh hưởng trực tiếp tới lượng dòng chảy. Nói chung, lưu vực sông

xác định bằng công thức sau :

K=

L'
L

Trong đó: L' là chiều dài thực và L là chiều dài đường chim bay.
Hệ thống này tỷ lệ nghịch với độ dốc lòng sông và tỷ lệ thuận với tuổi tác của
sông ngòi. Do đó, sông dù chảy theo một đứt gãy thẳng tắp hay một sông đào cũng
uốn khúc cong queo. Tuy nhiên, nếu khúc uốn quá lớn, sông sẽ đổi dòng và để lại
các hồ móng ngựa ven sông (Hồ Tây ở Hà Nội). Nhìn chung, độ uốn khúc và kích
7


thước của các khúc uốn có xu hướng giảm dần từ hạ lưu về thượng lưu theo định
luật Su - ren (Surell)

Hình 2: Khúc uốn và hồ móng ngựa
3. Các dòng chảy sông ngòi
Trong các đặc trưng của sông ngòi, quan trọng nhất là các đặc trưng thuỷ văn.
Các đặc trưng này được thể hiện qua các dòng chảy sông ngòi; nước, bùn cát, ion...
Trong các dòng chảy này, dòng chảy nước là quan trọng nhất, quy định sự tồn tại và
phát triển của sông ngòi. Đây là dòng chảy biểu thị cho bản chất của sông ngòi,
đồng thời lại có ảnh hưởng lớn tới các dòng chảy khác.
a. Dòng chảy nước :
Dòng chảy nước thường được gọi là dòng chảy. Đây là dòng chảy cơ bản vì
biểu thị cho sự tồn tại và phát triển của sông ngòi và có vai trò quan trọng nhất
trong tự nhiên cũng như đời sống con người. Trong lớp vỏ địa lí, sông ngòi là khâu
quan trọng nhất trong quá trình tuần hoàn nước, đồng thời kéo theo các quá trình

1. Các nhân tố ảnh hưởng tới dòng chảy.
Sông ngòi thường xuyên có nước chảy. Lượng nước trong sông không lớn lắm
2.120 km3 song tổng lượng dòng chảy của sông ngòi lại lên tới hơn 41.10 3km3/năm.
Như vậy, sông ngòi thường xuyên phải được cung cấp nước. Nguồn nước cung cấp
cho sông ngòi cũng khá phức tạp, chủ yếu là các điều kiện khí tượng, thuỷ văn...
Song quá trình này lại thông qua bề mặt lưu vực, tức là các điều kiện tự nhiên khác
cũng như các hoạt động kinh tế của xã hội loài người.
1.1.Các nhân tố tự nhiên :

9


Trong tổng thế địa lí tự nhiên của lưu vực, sông ngòi có tác dụng tích cực tới các
thành phần khác, song các yếu tố này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới dòng chảy sông
ngòi, về quá trình hình thành dòng chảy nước của sông ngòi, có thể phân chia tác
động này thành các nhóm khác nhau :
a. Nhóm nhân tố khí tượng - thuỷ văn:
Đây là nhóm nhân tố quan trọng nhất vì có tác dụng quyết định tới số lượng và
cả chế độ nước trong sông.
+ Nhân tố khí tượng: Nhân tố khí tượng giữ vai trò rất lớn lao, thể hiện trong
phương trình cân bằng nước của lưu vực. Trong khí tượng, lượng nước rơi có ảnh
hưởng lớn nhất. Những nơi có lượng nước rơi phong phú, lượng dòng chảy sẽ lớn;
ngược lại, những nơi lượng nước rơi nghèo nàn dòng chảy sẽ giảm đi
Hình thức và nhất là cường độ nước rơi cũng có ảnh hưởng nhất định tới nước
sông. Với cùng lượng mưa, song cường độ nhỏ, thời gian mưa kéo dài, lũ xảy ra
không thể đột ngột như khi có cường độ lớn, thời gian mưa ngắn, lúc đó lũ sẽ xảy ra
với cường suất lớn. Ở nước ta, Cục Thuỷ văn (1966) lại xác định cường độ mưa với
các chỉ tiêu cụ thể như sau: mưa nhỏ khi cường độ mưa nhỏ hơn 25 mm/ngày, mưa
vừa khi cường độ mưa từ 25 - 50 mm/ngày, mưa lớn khi cường độ mưa là 50 - 100
mm/ngày và mưa rất lớn khi cường độ mưa lớn hơn 100 mm/ngày. Nói chung, khi


II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

17,1

0,7

0,7

0,7


1,02

1,05

1,1

1,07

1,03

1,01

1,0

(%)
Nê-va
(nêva)
Vu-oóc-sa
(Vuorsa)

Do sông Vu-oóc-sa (Vuorsa) có mật độ hồ lớn hơn nên chế độ nước điểu hoà hơn.
Đặc biệt, sông Nê-va (Nêva) hầu như không có lũ từ thượng lưu về hạ lưu (lũ lụt ở
hạ lưu lại do bão và nước dồn từ biển Ban-tích vào).
Còn đối với lượng dòng chảy sông ngòi, vai trò của hồ đầm khá phức tạp ở
vùng khí hậu ẩm ướt, hồ đầm không có tác dụng lớn; nhưng ở miền khí hậu khô
hạn, hồ đầm có thể làm giảm lượng dòng chảy sông ngòi tới 15 - 17%, do tăng
cường quá trình bốc hơi trong lưu vực. Như vậy, tác dụng của hồ đầm chắc chắn là
phụ thuộc vào điều kiện khí hậu địa phương.
Đặc biệt, một vài sông ngòi lại nhận được nước của hệ thống sông bên cạnh.

ướt lá, cành và thân cây rồi bốc hơi ngay ở đó. Rêu, địa y khô cũng thấm một lượng
nước mưa nhất định. Rễ cây rừng lại làm tăng lượng nước ngấm tới 2,5 lần so với
vùng đồi núi trọc. Rừng cây cũng làm giảm nhiệt độ trong rừng khoảng 2-3 0C so
với bên ngoài và do đó, có thể làm giảm bốc hơi trong rừng tới 2-5 lần so với nơi
không rừng. Từ những đặc điểm trên,tác động của rừng rất phức tạp nhất là đối với
lượng dòng chảy nước của sông ngòi. Một số tác giả nhận thấy rừng có tác dụng
tích cực, tức là làm tăng lượng dòng chảy sông ngòi. Như vậy, tác dụng của rừng
cây đối với dòng chẩy sông ngòi, ngoài mật độ và loại rừng, còn phải kể đến vai trò
của khí hậu nữa.
12


Về mặt điều tiết dòng chảy, rừng cây bao giờ cũng có tác dụng tích cực, tương
tự như một hồ nước tự nhiên trong lưu vực.
Các nhân tố khác: đất (thổ nhưỡng) và đá (nham thạch) cũng có tác dụng nhất
định đối với dòng chảy sông ngòi.
Nhân tố con người :
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không ngừng phải tiến hành
sản xuất nên luôn luôn tác động đến môi trường địa lí, trong đó đặc biệt là sông
ngòi. Con người lấy nước sông để phục vụ cho sinh hoạt, cung cấp nước cho ngành
sản xuất công nghiệp, nhất là cho nông nghiệp. Vai trò của con người ngày càng lớn
lao vì dân số và nhu cầu về nước ngày càng lớn. Các động tác này có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp đối với sông ngòi.
+ Hoạt động thuỷ lợi: Thuỷ lợi có tác động trực tiếp đến sông ngòi. Trong các
biện pháp thuỷ lợi, việc xây dựng các hệ thống thuỷ nông để lấy nước tưới ruộng là
quan trọng.
Ở nước ta, hồ Hoà Bình trên sông Đà có thể làm giảm mực nước lũ lớn nhất,
từ 14,1m (1945) xuống còn 12m; đồng thời lại có thể làm tăng mực nước mùa cạn
từ 1,7 m lên tới 4,5m cho Hà Nội ở phía hạ lưu sông Hồng. Đặc biệt, con người có
thể chuyển nước từ lưu vực sông nhiều nước tới các lưu vực ít nước. Nhân dân

tiếp nước chủ yếu là nước mưa, nên chế độ nước sông phụ thuộc vào chế độ mưa ở
nơi đó. Nếu có chế độ mưa theo mùa thì có chế độ nước theo mùa, mưa quanh năm
thì nước sông đầy quanh năm…
Ví dụ: Lưu vực sông A-ma-zon nằm trong khu vực xích đạo, mưa rào quanh năm,
sông lại có nhiều phụ lưu nằm 2 bên đường xích đạo nên mùa nào lòng sông cũng
nhiều nước. Việt Nam nằm trong khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có chế độ mưa
theo mùa vì vậy cho nên chế độ nước sông cũng theo mùa: vào mùa mưa cũng
trùng với mùa lũ của sông và mùa khô cũng là mùa cạn của sông.
b. Băng tuyết:
Ở miền ôn đới lạnh và miền núi cao, nước sông chủ yếu do băng tuyết tan cung
cấp. Mùa xuân đến khi nhiệt độ cao, băng tuyết tan sông được tiếp nước… nên mùa
xuân là mùa lũ.
Ví dụ sông I-ê-nit-xây chảy ở khu vực ôn đới lạnh, mùa đông nước đóng băng,
mùa xuân đến băng tan, nên nước lớn thường gây ra lụt. Sông lại chảy theo hướng
Nam lên Bắc nên băng tan ở thượng lưu trước, nước lũ dồn xướng hạ lưu. Trong
khi đó, ở hạ lưu băng chưa tan nên đã chắn dòng nước lại gây lụt lớn.
c. Nước ngầm:

14


Ở những nơi đất đá thấm nhiều nước, nước ngầm có vai trò đáng kể trong việc
điều hòa chế độ nước sông.
1.3.Địa thế, thực vật, hồ đầm:
a. Địa thế:
Ở miền núi nước sông chảy nhanh hơn ở đồng bằng. Sau mỗi trận mưa to nước
dồn về các dòng suối, sông.
b. Thực vật:
Khi nước mưa rơi xuống một lượng nước khá lớn được giữ lại ở tán cây, phần
còn lại khi xuống tới mặt đất, một phần bị lớp thảm mục giữ lại, một phần len lỏi

điều hòa và dễ chịu hơn so với những vùng ít và không có nước( như hoang mạc
…)
Có thể nói sông ngòi và khí hậu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại
và ảnh hưởng đến nhau. Chính vì vậy người ta nói: “sông ngòi chính là hàm số của
khí hậu”.
2. Sông ngòi với địa hình.
Trước hết, địa hình tác động đến dòng chảy sông ngòi thông qua nhiều yếu tố
như hướng, độ dốc, đặc điểm hình thái, địa chất … Địa hình có thể làm thay đổi
mật độ sông ngòi, diện tích lưu vực, chiều dài, độ dốc và tốc độ của dòng chảy.
+ Hướng của sông ngòi thường trùng với hướng của cấu trúc địa hình ở khu vực đó.
Nếu khu nực đó có hướng cấu trúc địa hình là Tây Bắc – Đông Nam thì sông ngòi
cũng có hướng Tây Bắc – Đông Nam, hướng địa hình là vòng cung thì hướng của
sông cũng có hướng vòng cung…
+ Địa hình trẻ hay già, đồng bằng hay miền núi tác động lớn đến dòng chảy của
sông ngòi: có khúc thì chảy êm đềm, có khúc nhiều thác ghềnh sông đào long dữ
dội, có sự thay đổi đột ngột từ thượng lưu xuống hạ lưu.
+ Địa chất: tính thấm nước của nhan thạch, của lớp vỏ phong hóa, tính chất dễ hòa
tan của đá vôi có tác động tới hình thái lưu vực và đặc điểm thủy chế của sông ngòi.
Sông chảy qua vùng diệp thạch thường có thung lũng rộng, thoải và đối xứng
còn khi đi qua vùng đá kết tinh thì thung lũng hẹp và sâu. Sông ở vùng đá vôi
thường có sườn cao, vách đứng.
Sông chảy qua vùng đá rắn thường lắm thác ghềnh.

16


Ở vùng núi đá vôi, mật độ sông ngòi thấp nhất, đồng thời lượng dòng chảy
mặt giảm rõ rệt. Vùng đá badan có lớp vỏ phong hóa dày, khả năng thấm nước lớn
làm giảm dòng chảy mặt, mật độ sông suối cũng thưa.
Ngược lại sông ngòi cũng tác động vào địa hình, làm thay đổi địa hình, tạo

- Sông ngòi có giá trị thủy lợi lớn như tưới nước vào mùa khô, tiêu nước trong mùa
mưa cho các đồng bằng.
- Với nguồn lợi thủy sản phong phú, sông ngòi tạo điều kiện cho ngành đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản nước ngọt phát triển.
- Ngoài ra, ở các đồng bằng lớn, sông ngòi có giá trị về giao thông. Ví dụ như ở
nước ta hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình tỏa đi khắp đồng bằng sông Hồng,
hệ thống sông Tiền, sông Hậu và mạng lưới kênh rạch chằng chịt tạo nên mạng lưới
giao thông đường thủy rất phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long.
Còn ở miền núi sông ngòi có giá trị về thủy điện. Ở nước ta trữ năng thủy
điện lớn nhất là hệ thống sông Hồng, sông Đồng Nai.....
- Tuy nhiên sự phân hóa sâu sắc của chế độ nước sông cũng gây khó khăn lớn cho
hoạt động sản xuất và sinh hoạt: hiện tượng lũ lụt trong mùa mưa và hiện tượng
thiếu nước trong mùa khô …
Tóm lại, sông ngòi có giá trị kinh tế vô cùng lớn. Mặc dù khối lượng nước rất
lớn chiếm tới 70% bề mặt Trái Đất nhưng lượng nước ngọt lại chỉ chiếm có 2,5%
tổng lượng nước chung mà trong đó 69% lại tồn tại trong băng ở địa cực hay đỉnh
núi cao. Vì thế, nguồn nước ở các vùng sông ngòi có ý nghĩa chiến lược đối với sự
sống của con người cũng như sinh vật trên Trái Đất.
PHẦN II: CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
I. Dạng câu hỏi vận dụng kiến thức: chứng minh, trình bày, giải thích ….

Đây là dạng bài tập rất phổ biến trong đề thi học sinh giỏi các cấp. Các câu
hỏi liên quan đến phần sông ngòi tuy không đánh đố nhưng khó đạt điểm tối đa.
Vì vậy, để có thể làm tốt các câu hỏi dạng này, yêu cầu học sinh phải:

18


- Nắm chắc các kiến thức về sông ngòi (các khái niệm chung, các nhân tố ảnh
hưởng, mối quan hệ với các thành phần khác…)

-

Ở miền ôn đới lạnh và những nơi sông bắt nguồn từ núi cao, nước sông đều do

băng tuyết tan cung cấp. Mùa xuân đến, khi nhiệt độ lên cao, băng tuyết tan,
b) Địa thế, thực vật và hồ đầm
-

Địa thế: Ở miền núi nước sông chảy nhanh hơn đồng bằng do độ dốc của địa

hình. Sau mỗi trận mưa to là nước dồn về các dòng suối, sông.
-

Thực vật: Khi nước mưa rơi xuống mặt đất, một lượng khá lớn được giữ lại ở tán

cây, lượng còn lại khi xuông tới mặt đất một phần bị lớp thảm mục giữ lại, một
phần len lỏi qua các rễ cây thấm dần xuống đất tạo nên những mạch ngầm, điều hòa
19


dòng chảy cho sông ngòi, giảm lũ lụt.
-

Hồ, đầm: Khi nước sông lên, một phần chảy vào hồ đầm. Khi nước xuống thì

rnước hồ đầm lại chảy ra làm cho sông đỡ cạn.
Câu 3. Tại sao tốc độ dòng chảy của sông có sự khác nhau
Gợi ý làm bài
Do tốc độ dòng chảy của sông chịu tác động của các nhân tố khác nhau, mỗi
nhân tố này lại khác nhau ở các sông trên Trái Đất.

+ Độ dốc lớn, nước mưa chảy nhanh nên thấm ít mực nước ngầm thấp.
+ Độ dốc nhỏ, nước thấm nhiều hơn -> mực nước ngầm cao.
Câu 5. Vì sao ở đới khí hậu ôn hòa, phần lớn sông chảy theo hướng Bắc Nam
thường có vùng đầm lầy ở cửa sông?
Gợi ý làm bài
Ở đới khí hậu ôn hòa, phần lớn sông chảy theo hướng Bắc - Nam thường có
vùng đầm lầy ở cửa sông vì:
20


-

Sông ở vùng này thường có hiện tượng đóng băng vào mùa đông.

-

Mùa xuân, băng ở phía thượng nguồn (phía nam) tan trước, cung cấp lượng nước

lớn cho sông.
Phần hạ lưu đến lúc này (đầu xuân) băng chưa tan, tạo nên đê chắn nước làm

-

ngập vùng cửa sông, hình thành vùng đầm lầy.
Câu 6. Sức sống của một con sông là gì? Tại sao nói, nó là chỉ tiêu đánh giá
một con sông?
Gợi ý làm bài
-

Do mối quan hệ giữa vận tốc chảy và khối lượng tạo thành.

Gợi ý làm bài
-

Ba sông này có những điểm giống nhau:

+ Cùng bắt nguồn trên những dãy núi cao ở phía nam.
21


+ Nguồn cung cấp nước cho các sông chủ yếu là băng tuyết tan.
+ Chảy theo hướng Nam - Bắc.
+ Đều đổ vào Bắc Băng Dương.
+ Chảy qua hai đới khí hậu là ôn đới và hàn đới.
+ Không có giá trị giao thông nhưng có giá trị lớn về thủy điện.
-

Ba sông này thường gây lũ vì vào mùa xuân ở thượng nguồn (ở phía nam)

các sông băng tuyết tan trong khi ở hạ lưu vẫn còn đóng băng, vì thế khi nước tràn
về hạ lưu không thể thoát ra biển kịp nên nước tràn ra hai bên bờ gây lũ lụt.
Câu 9. Bằng kiến thức đã học, hãy cho biết:
a) Những biểu hiện về sự khác biệt giữa sông ngòi ở miền núi và sông ngòi ở miền
đồng bằng? Tại saotại có sự khác biệt đó?
b) Nó ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển kinh xã hội của các vùng.
Gợi ý làm bài
a) Những điểm khác biệt giữa sông ngòi ở miền núi và đồng bằng
* Sông

ngòi ở miền núi


thích

Do đặc điểm địa hình: miền núi địa hình cao, dốc và mấp mô. Miền đồng

bằng địa hình thấp và tương đối bằng phẳng.
-

Do đất đá ở miền núi rắn chắc, khó thấm nước. Còn ở đồng bằng đất đá vụn

bở, dễ thấp nước.
-

Do chế độ mưa và nguồn nước cung cấp cho sông ngòi ở các miền địa hình

đó khác nhau.
22


-

Do chiều rộng, độ dốc của lòng sông và lớp phủ thực vật ở miền núi và

miền đồng bằng khác nhau.
b) Ảnh hưởng của sông ngòi tới sự phát triển kinh tế - xã hội của miền đồng
bằng và miền núi
* Thuậnlợi
-

Cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt.


bắt nguồn từ hồ Vic-to-ri-a ở khu vực Xích đạo có mưa quanh năm, nên lưu lượng
nước khá lớn. Tới Khắc-tum sông Nin nhận thêm nước từ phụ lưu Nin Xanh ở khu
vực cận Xích đạo, lưu lượng trở nên rất lớn (mùa lũ lên tới trên 90,000m 3/s). Do
vậy, đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang mạc và không
nhận được phụ lưu nào, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc hơi mạnh, nhưng
lưu lượng nước mùa cạn vẫn còn lớn.
Câu 11. Vì sao sông A-ma-dôn có lưu lượng nước lớn và đầy nước quanh
năm?
Gợi ý làm bài
Sông A-ma-dôn có lưu lượng nước lớn và đầy nước quanh năm, vì sông có
diện tích lưu vực lớn nhất thế giới, nằm trong khu vực Xích đạo, mưa rào quanh
23


năm, sông lại có tới 500 phụ lưu nằm hai bên đường Xích đạo nên mùa nào lòng
sông cũng đầy nướcvà có lưu lượng trung bình lớn nhất thế giới (220,000m3/s).
Câu 12. Vì sao sông I-ê-nit-xây về mùa xuân thường có lũ lớn?
Gợi ý làm bài
Sông I-ê-nit-xây về mùa xuân thường có lũ lớn, vì sông chảy ở khu vực khí
hậu ôn đới lạnh, mùa đông dài nước đóng băng, mùa xuân đến băng tan. Là con
sông chảy từ Nam lên Bắc, nên băng tan ở thượng lưu trước, nước lũ dồn xuống
trung và hạ lưu,vì băng ở hạ lưu chưa tan nên đã chắn dòng nước lại, tràn lênh láng
ra hai bên bờ gây lụt lớn.
Câu 13. Giải thích vì sao mực nước lũ ở các sông ngòi miền Trung nước ta
hường lên rất nhanh?
Gợi ý làm bài
-

Sông ngòi miền Trung ngắn và dốc, ít chi lưu.


*

Chế độ lũ ở sông Hồng, sông Đà Rằng, sông Cửu Long
-

Ở sông Hồng: lũ lên nhanh, đột ngột, rút chậm.

-

Ở sông Đà Rằng : lũ lên nhanh, rút nhanh.

-

Ở sông Cửu Long : lũ lên chậm, rút chậm.
24


*

Nguyên nhân: Do sự khác biệt về:
-

Hình thái mạng lưới sông (dạng nan quạt, dạng cành cây, dạng lông

chim,...).
-

Diện tích lưu vực, chiều dài sông.

-

-

Cửu Long:

Đặc điểm:

+ Mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11.
+ Nước sông điều hòa, không phức tạp, lũ lên chậm, rút chậm.
-

Nguyên nhân:

+ Độ dốc lòng sông nhỏ.
+ Mạng lưới kênh rạch chằng chịt.
+ Hình dạng của sông (hình lông chim).
+ Sự điều tiết nước của Biển Hồ ở Cam-pu-chia.
* Sông
-

ở duyên hải miền Trung

:

Đặc điểm:

+ Mùa lũ tập trung vào các tháng cuối năm từ tháng 9 đến tháng 12.
25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status