HỆ THỐNG hóa KIẾN THỨC và các DẠNG câu hỏi, bài tập PHẦN địa lí SÔNG NGÒI TRONG bồi DƯỠNG học SINH GIỎI môn địa lí - Pdf 35

ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC VÀ CÁC DẠNG CÂU HỎI,
BÀI TẬP PHẦN ĐỊA LÍ SÔNG NGÒI TRONG BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ
MỤC LỤC
MỤC LỤC………………………………………………………..................
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI...............................................................................
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI..................................................................
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI…………………………………………….
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI………………………...
V. PHẠM VI VÀ GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU………………………………..
NỘI DUNG ………………………………………………………………...
Chương I: TỔNG QUAN VỀ SÔNG NGÒI……………………………….
I. QUAN NIỆM VỀ SÔNG NGÒI………………………………………….
II. MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA HÌNH THÁI SÔNG NGÒI …
1. Hệ thống sông ngòi……………………………………………….
2. Lưu vực sông… …………………………………………………..
III. DÒNG CHẢY NƯỚC CỦA SÔNG NGÒI…………………………….
1. Một số nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ dòng chảy của sông………..
2.Những nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước của sông……………..
III. MỘT SỐ SÔNG LỚN TRÊN TRÁI ĐẤT……………………………
1. Sông Nin…………………………………………………………
2. Sông Amazon…………………………………………………….
3. Sông Vônga……………………………………………………….
4. Sông Iênitxây …………………………………………………….
IV. CHẾ ĐỘ DÒNG CHẢY CỦA SÔNG NGÒI VIỆT NAM………….
1. Sự phân bố dòng chảy sông ngòi theo thời gian…………………...
2. Một số hệ thống sông lớn ở Việt Nam……………………………
Chương II: CÁC DẠNG CÂU HỎI, BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN VẤN
ĐỀ SÔNG NGÒI…………………………………………………………..

14
14
22


III. DẠNG BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN BIỂU ĐỒ………………………
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.........................................................
I. NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ TÀI...................................
II. ĐỀ XUẤT………………………………………………………………
1. Đối với giáo viên…………………………………………………
2. Đối với học sinh………………………………………………….

27
29
29
29
29
29

MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Địa lí là một trong những môn học trong nhà trường phổ thông, cung cấp
cho học sinh những kiến thức tổng quát, logic về các sự vật, hiện tượng tự nhiên,
kinh tế - xã hội và mối quan hệ gữa chúng.
Trong môn địa lí, phần địa lí kinh tế - xã hội đại cương (lớp 10) có vị trí
đặc biệt quan trọng trong chương trình địa lý của các trường THPT ở nước ta.
Tính chất quan trọng của nó được thể hiện ít nhất về hai phương diện. Đó là
chiếc cầu nối giữa khối kiến thức địa lý tự nhiên với khối kiến thức địa lý kinh
tế - xã hội và là nền tảng không thể thiếu được cho các môn học tiếp theo thuộc
lĩnh vực kinh tế - xã hội như: địa lý kinh tế xã hội thế giới (lớp 11), địa lý kinh

lời nhanh, hiệu quả.
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do độ rộng của vấn đề, đề tài tập trung nghiên cứu một số khía cạnh của
địa lí sông ngòi:
V. PHẠM VI VÀ GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của chuyên đề chủ yếu nằm trong chương trình địa
lí lớp 10 nâng cao, có mở rộng tham khảo ở các tài liệu khác có liên quan.
2. Giá trị nghiên cứu
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí.
- Dùng làm tài liệu tham khảo cho học sinh lớp chuyên và học sinh tham
gia thi học sinh giỏi các cấp.

3


NỘI DUNG
Chương I: TỔNG QUAN VỀ SÔNG NGÒI
I. QUAN NIỆM VỀ SÔNG NGÒI

\

Sông ngòi là một thành phần quan trọng của môi trường địa lí, được tìm
hiểu từ lâu và kết quả nghiên cứu ngày càng hoàn thiện.
Quan niệm của một số nhà địa lí địa mạo cho rằng: Sông ngòi là một nhân
tố của địa mạo vì trong quá trình chuyển động, sông ngòi đã tạo ra một lực mà
một phần của nguồn năng lượng này đã được dùng để đào sới và làm thay đổi bề
mặt nổi của Trái Đất.
Quan niệm của một số nhà địa lí khí tượng thủy văn cho rằng: sông ngòi

yếu là từ bề mặt đất và một phần khác là do nước dưới đất. Do đó, lưu vực sông
bao gồm hai bọ phận: lưu vực mặt và lưu vực ngầm. Trong đó lưu vực mặt làm
cơ sở do dễ xác định hơn. Ranh giới của các lưu vực sông khác nhau gọi là
đường phân thủy. Lưu vực sông và đường phân thủy không cố định mà có thể
biến đổi đột biến do hiện tượng bắt dòng. Kích thước lưu vực có ảnh hưởng đến
lượng dòng chảy sông ngòi: diện tích lưu vực lớn, lưu lượng nước sẽ nhiều; diện
tích lưu vực nhỏ, lưu lượng nước sẽ ít. Ngoài ra, hình dạng lưu vực cũng ảnh
hưởng đến quá trình tập trung lũ và chế độ nước sông. Lưu vực sông nhỏ và dài
tương ứng với mạng lưới sông hình lông chim, thường sản sinh lũ đơn hay lũ bộ
phận; ngược lại, lưu vực sông hình dạng tròn, tương ứng lưới sông nan quạt,
thường xuất hiện lũ kép hay lũ hoàn toàn.
III. DÒNG CHẢY NƯỚC CỦA SÔNG NGÒI
1. Một số nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ dòng chảy của sông
a. Độ dốc lòng sông

5


Nước sông chảy nhanh hay chậm tùy thuộc vào độ dốc của lòng sông,
nghĩa là tùy độ chênh của mặt nước. Độ chênh của mặt nước càng nhiều thì tốc
độ dòng chảy càng mạnh.
Ngay trong một lưu vực sông, độ dốc lòng sông ở từng khúc sông khác
nhau nên tốc độ dòng chảy của các khúc sông trong từng lưu vực cũng thay đổi
theo.
b. Chiều rộng lòng sông
Nước sông chảy nhanh hay chậm còn tùy thuộc bề ngang của lòng sông
hẹp hay rộng. Ở khúc sông rộng nước chảy chậm, đến khúc sông hẹp nước chảy
nhanh hơn.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước của sông
a. Nguồn cung cấp nước

nhau.
Dòng sông chảy qua miền đất đá khó thấm nước như đá kết tinh, đất sét,
…do khó thấm nước nên mạch ngầm ít. Sau mỗi trận mưa, nước dồn xuống lòng
sông, độ thấm nước chậm, nước dâng cao nhanh, nước lũ và cạn đều lên xuống
nhanh, chế độ nước sông có tính chất cực đoan.
Dòng sông chảy qua miền đất đá dễ thấm nước như vùng đất bazan, vùng
này thường có lớp vỏ phong hóa dày và có khả năng thấm nước lớn có nhiều
mạch nước ngầm, nước ngấm sâu và lan ra các vùng đất xung quanh. Vì thế khi
mưa nước sông lên chậm hơn, hết mưa nước rút cũng chậm hơn, do đó chế độ
nước điều hòa hơn.
c. Độ dốc của lòng sông
Độ dốc của lòng sông lớn, nước lên nhanh và rút cũng nhanh. Độ dốc
càng lớn tốc độ nước chảy càng mạnh.
Dòng sông có độ dốc nhỏ, chế độ nước lên và xuống chậm hơn, điều hòa
hơn.
d. Đầm hồ trên dòng sông
Những hồ lớn trên sông có tác dụng điều hòa chế độ nước của sông sau
khu chảy qua hồ.

7


Yếu tố chính tạo nên chế độ nước điều hòa của sông Cửu Long là biển Hồ
ở Campuchia, một bể chứa nước thiên nhiên khổng lồ. Trong mùa lũ lớn, khi
nước lên cao, sông chảy và hồ tới 1/3 lượng nước. Khi nước xuống, nước trong
hồ lại chảy ra sông.
Ở đồng bằng sông Hồng, hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Sơn La sẽ
đảm bảo mực nước lũ cao nhất của Hà Nội dưới 12m (trong khi đó mực nước
năm 1945 là 14,10 m) đảm bảo lưu lượng sông Hồng ở thị xã Sơn Tây lúc thấp
nhất không dưới 2200 m3/s (trong khi lưu lượng nước ở thị xã Sơn Tây

Sông Nin có diện tích lưu vực 2881000 km 2 (đứng thứ 2 thế giới sau sông
Cônggô) với chiều dài nhất thế giới (6685 km), chảy theo hướng Nam – Bắc qua
ba miền khí hậu khác nhau.
Sông Nin bắt nguồn từ hồ Victoria trên sơn nguyên Đông Phi, ở khu vực
xích đạo có lượng mưa quanh năm nên lưu lượng nước khá lớn. Từ hồ Victoria
có dòng Victoria – Nin nối liền với các hồ Kiôga, Anbectơ. Từ hồ Anbectơ có
dòng Anbectơ – Nin chảy về phía Bắc và trở thành sông Baren – Đrêben. Su khi
nhận thêm các phụ lưu Baren Gadan và Xooba, sông có tên là Nin Trắng. Sông
Nin Trắng chảy về đến Khactum thì nhận thêm một phụ lưu quan trọng là Nin
Xanh ở khu vực cận xích đạo, lưu lượng nước trở nên rất lớn tới trên 90000
m3/s. Đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang mạc và
không nhận được một phụ lưu nào, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc hơi
mạnh, đến gần biển lưu lượng nước giảm nhiều nhưng ở Cai rô (Ai Cập) về mùa
cạn lưu lượng vẫn còn 700 m3/s.
Với nguồn cung cấp nước như trên và sự điều tiết của các hồ ở vùng
thượng nguồn, chế độ nước của sông Nin Trắng nhìn chung điều hòa. Lưu lượng
nước tháng lũ và tháng cạn chỉ chênh nhau 2,5 lần. Tuy nhiên, sông Nin Trắng
chảy trên một miền địa hình đồng bằng rất bằng phẳng, lượng mưa gió mùa ở
đây không lớn, vào mùa hạ nước lại bốc hơi mạnh nên lưu lượng nước sông
cũng không cao. Hằng năm, Nin Trắng chỉ cung cấp cho sông Nin khoảng 29%
khối lượng dòng chảy. Trái lại, sông Nin Xanh chảy trên miền địa hình dốc,

9


lượng mưa trên sườn đón gió rất lớn, vì thế khi mùa mưa đến, nước sông lên rất
nhanh. Ở Khactum, thời kì nước cạn nhất vào tháng IV, lưu lượng trung bình
của Nin Xanh chỉ 127 m3/s; nhưng đến tháng 8 (thời kì lũ cao nhất) lưu lượng
đạt tới 5822 m3/s (gấp 45 lần tháng cạn nhất). Như vậy, chế độ nước của Nin
Xanh mang tính thất thường, mùa mưa nước sông lên rất nhanh, mùa khô nước

vực 1360000 km2. Sông bắt nguồn từ vùng đồi Vanđai thuộc miền đất cao Trung
Nga và chảy theo hướng Nam – Bắc, đổ vào biển Caxpi.
Nguồn cung cấp nước cho sông gồm tuyết tan (60%), nước ngầm (30%)
và nước mưa (10%). Về chế độ, sông có 2 thời kì nước lớn: vào cuối mùa xuân
đầu mùa hạ do tuyết tan từ tháng III đến tháng VI; và vào cuối mùa thu từ tháng
X đến tháng XI do mưa. Ngày nay do xây dựng các đập thủy điện, chế độ nước
sông điều hòa hơn, càng đi về hạ lưu, lưu lượng nước càng giảm dần.
4.Sông Iênitxây
Có chiều dài 4102 km, diện tích lưu vực 2580000 km 2, là con sông chảy ở
khu vực khí hậu ôn đới lạnh, có nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết tan và
mưa vào xuân hạ. Sông Iênitxây có nước lớn vào cuối xuân, đầu hạ; mùa đông
dài nước đóng băng. Là con sông chảy từ Nam lên Bắc, nên băng tan ở thượng
lưu trước, nước lũ dồn xuống trung và hạ lưu, vì băng ở hạ lưu chưa tan nên đã
chắn dòng nước lại, tràn lênh láng ra 2 bờ gây lụt lớn, có năm nước sông
Iênitxây tràn ra mỗi bên bờ tới 150 km; sang mùa hạ nước rút, mùa thu nước
cạn.
IV. CHẾ ĐỘ DÒNG CHẢY CỦA SÔNG NGÒI VIỆT NAM
Nói chung, sông ngòi nước ta có dòng chảy phong phú với tổng lượng
dòng chảy 839 tỉ m3. Trong đó dòng chảy mặt chiếm hơn 75%, dòng chảy ngầm
chiếm chưa đầy 25%.
1. Sự phân bố dòng chảy sông ngòi theo thời gian: thông qua dòng chảy
mùa lũ và dòng chảy mùa cạn, phù hợp với chế độ mưa mùa.
- Mùa lũ chiếm đến 70 – 80% lượng nước cả năm. Trong thời gian lũ có
từ 20 - 30% lượng nước chảy tập trung trong một tháng. Vì vậy nên dòng chảy

11


mùa lũ rất lớn, đe dọa làm vỡ đê, ngập úng…Tuy nhiên, thời gian lũ của các
vùng miền khác nhau:

c. Sông Cửu Long
Dài 4500 (chảy trên lãnh thổ Việt Nam 230 km) với tổng diện tích
lưu vực 810000km2. Sông Cửu Long bắt nguồn từ Tây Tạng ở độ cao 5000m.
Đặc điểm thủy chế: đơn giản, điều hòa, mùa lũ từ tháng VII đến XI; mùa cạn từ
tháng XII đến VI. Sông Cửu Long có lũ lên chậm, rút chậm (do sông dài, dạng
lông chim,diện tích lưu vực lớn, độ dốc bình quân nhỏ, có nhiều ô trũng, không
có hệ thống đê sông, có biển Hồ, cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều, địa
hình đồng bằng thấp, đổ ra biển với nhiều cửa). Sông chịu ảnh hưởng mạnh của
thủy triều.
e. Sông Đồng Nai – Vàm Cỏ
Tổng chiều dài 635 km với diện tích lưu vực 44100km 2. Sông có thủy chế
đơn giản: mùa cạn kéo dài 7 tháng (từ tháng XII đến VI), sông có lũ không đột
ngột do có dạng lông chim, độ dốc không lớn, tầng đất phong hóa dày, rừng còn
nhiều, cửa sông có dạng vịnh, thủy triều tác động mạnh

13


Chương II: CÁC DẠNG CÂU HỎI, BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN
VẤN ĐỀ SÔNG NGÒI
I. CÁC CÂU HỎI VẬN DỤNG KIẾN THỨC: TRÌNH BÀY, CHỨNG
MINH, GIẢI THÍCH,…
Đây là dạng câu hỏi phổ biến ở phần địa lí tự nhiên trong đề thi học sinh
giỏi các cấp. Để có thể làm tốt dạng câu hỏi này, yêu cầu học sinh phải:
- Nắm vững kiến thức cơ bản phần địa lí sông ngòi về các nhân tố ảnh
hưởng đến chế độ nước sông và tốc độ dòng chảy của sông…
- Vận dụng các nhân tố để giải thích chế độ nước của một số con sông
trên thế giới và Việt Nam.
- Đối với những câu hỏi kết hợp Atlat, yêu cầu học sinh phải thuộc các
trang Atlat và khai thác được kiến thức từ Atlat. Sau đó kết hợp với kiến thức đã

Tóm lại chế độ nước sông phụ thuộc vào nguồn cung cấp nước của từng
kiểu khí hậu. Nguồn cung cấp nước lại do đặc điểm mưa của khí hậu quy định,
vì vậy có thể nói khí hậu là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chế độ nước sông.
g. Địa chất
Sông chảy qua những miền đất đá khác nhau thì chế độ nước cũng khác
nhau.
Dòng sông chảy qua miền đất đá khó thấm nước như đá kết tinh, đất sét,
…do khó thấm nước nên mạch ngầm ít. Sau mỗi trận mưa, nước dồn xuống lòng
sông, độ thấm nước chậm, nước dâng cao nhanh, nước lũ và cạn đều lên xuống
nhanh, chế độ nước sông có tính chất cực đoan.
Dòng sông chảy qua miền đất đá dễ thấm nước như vùng đất bazan, vùng
này thường có lớp vỏ phong hóa dày và có khả năng thấm nước lớn có nhiều
mạch nước ngầm, nước ngấm sâu và lan ra các vùng đất xung quanh. Vì thế khi
mưa nước sông lên chậm hơn, hết mưa nước rút cũng chậm hơn, do đó chế độ
nước điều hòa hơn.

15


h. Độ dốc của lòng sông
Độ dốc của lòng sông lớn, nước lên nhanh và rút cũng nhanh. Độ dốc
càng lớn tốc độ nước chảy càng mạnh.
Dòng sông có độ dốc nhỏ, chế độ nước lên và xuống chậm hơn, điều hòa
hơn.
i. Đầm hồ trên dòng sông
Những hồ lớn trên sông có tác dụng điều hòa chế độ nước của sông sau
khu chảy qua hồ.
Yếu tố chính tạo nên chế độ nước điều hòa của sông Cửu Long là biển Hồ
ở Campuchia, một bể chứa nước thiên nhiên khổng lồ. Trong mùa lũ lớn, khi
nước lên cao, sông chảy và hồ tới 1/3 lượng nước. Khi nước xuống, nước trong

thường lên rất nhanh?
Hướng dẫn:
- Sông ngòi miền Trung có nguồn cung cấp nước do mưa. Nhưng do sông
ngắn nên phần thượng lưu, trung và hạ lưu có cùng thời gian mưa. Mưa tập
trung khá lớn trong một khoảng thời gian nên mực nước lũ lên cao.
- Sông chảy trên miền địa hình có độ dốc lớn nên nước lũ tập trung nhanh.
- Sông ngắn, dốc, ít chi lưu, lưu vực nhỏ nên nước lũ dồn về hạ lưu nhanh.
Câu 4: Vì sao sông Iênitxây thường gây lũ vào mùa xuân?
Hướng dẫn:
Sông này thường gây lũ vào mùa xuân ở thượng nguồn vì đây là con sông
chảy từ Nam lên Bắc ở vùng ôn đới lạnh. Vào mùa xuân băng ở thượng nguồn
phía Nam bắt đầu tan ra tạo thành dòng nước chảy về Bắc Băng Dương. Tuy
nhiên, ở hạ lưu phía Bắc, vẫn còn đóng băng nên dòng nước không thể chảy
thông xuống mà tràn ra hai bờ ở phần thượng lưu gây lũ lụt.
Câu 5: Lũ ở sông Hồng, sông Đà Rằng, sông Cửu Long khác nhau như thế
nào? Vì sao có sự khác nhau đó?
Hướng dẫn:
* Chế độ lũ ở sông Hồng, sông Đà Rằng, sông Cửu Long:
- Sông Hồng: lũ lên nhanh, đột ngột, rút chậm.

17


- Sông Đà Rằng: lũ lên nhanh, rút nhanh.
- Sông Cửu Long: lũ lên chậm, rút chậm.
* Nguyên nhân: Do sự khác biệt về:
- Hình thái mạng lưới sông (sông Hồng có dạng nan quạt, sông Đà Rằng có dạng
cành cây, sông Cửu Long có dạng lông chim).
- Diện tích lưu vực, chiều dài sông (sông Cửu Long có chiều dài và diện tích
lưu vực lớn nhất, sông Đà Rằng có chiều dài và diện tích lưu vực nhỏ nhất; sông

Câu 7: Tại sao hạ lưu sông Nin chảy ở miền bán hoang mạc nhưng vẫn
nhiều nước?
Hướng dẫn:
Hạ lưu sông Nin chảy ở miền bán hoang mạc nhưng vẫn nhiều nước vì:
- Sông Nin bắt nguồn ở khu vực xích đạo có lượng mưa lớn quanh năm
nên có lưu lượng dòng chảy lớn.
- Tới Khác – tum, sông Nin nhận thêm nước từ phụ lưu Nin Xanh ở khu
vực cận xích đạo, lưu lượng trở nên rất lớn.
- Do vậy, đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang
mạc và không nhận được phụ lưu nào, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc
hơi mạnh, nhưng lưu lượng nước mùa cạn vẫn còn lớn.
Câu 8: Vì sao sông Amazôn có lưu lượng nước lớn và đầy nước quanh năm?
Hướng dẫn:
Sông Amazôn có lưu lượng nước lớn và đầy nước quanh năm vì:
- Sông có diện tích lưu vực lớn nhất thế giới.
- Sông nằm trong khu vực khí hậu xích đạo có lượng mưa lớn quanh năm.
- Sông có 500 phụ lưu, các phụ lưu nằm hai bên đường xích đạo nên mùa
nào sông cũng đầy nước với lưu lượng trung bình lớn nhất thế giới.
Câu 9: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, so sánh sự khác
biệt của các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông Đồng Nai và sông Thu
Bồn. Từ đó kết luận về chế độ nước của hai sông.
Hướng dẫn:

19


* Những nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước của sông Đồng Nai và sông Thu
Bồn:
- Đất đá:
+ Sông Thu Bồn: thượng lưu chảy qua miền đá biến chất tạo móng kết

Cửu Long. Tại sao lại tiến hành đắp đê sông ở đồng bằng sông Hồng mà
không đắp ở đồng bằng sông Cửu Long?
Hướng dẫn:
* Sự khác biệt về chế độ dòng chảy của sông Hồng và sông Cửu Long:
- Sông Hồng: có dạng nan quạt với độ dốc lòng sông ở phần thượng và trung
lưu lớn, hạ lưu có độ dốc nhỏ. Nước tập trung nhanh, lũ lên nhanh, đột ngột, rút
chậm. Trung bình lưu lượng nước mùa lũ lớn gấp 4 lần mùa cạn, tháng lũ lớn
gấp 10 lần tháng kiệt. Mùa lũ của sông Hông thường xảy ra đồng nhất trên toàn
lưu vực (do các phụ lưu là sông Đà, sông Thao, sông Lô có cùng thời gian lũ từ
tháng VI đến tháng X và cùng tháng có lưu lượng lớn nhất là VIII).
- Sông Cửu Long: dài hơn, có dạng lông chim, có sự điều tiết của biển Hồ, độ
dốc lòng sông nhỏ, sông chảy qua nhiều miền khí hậu có tháng mưa lệch nhau,
có nhiều cửa sông, nhiều ô trũng rộng. Vì vậy, chế độ nước điều hòa hơn sông
Hồng, lũ lên chậm, rút chậm.
* Tiến hành đắp đê ở đồng bằng sông Hồng mà không đắp đê ở đồng bằng
sông Cửu Long vì:
- Đồng bằng sông Hồng nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Hồng và sông Thái
Bình. Vào mùa lũ nước sông Hồng và sông Thái Bình lên nhanh dễ gây ngập
úng đồng bằng, đặc biệt là gây ngập ở thủ đô Hà Nội.
- Đồng bằng sông Cửu Long thấp, nước lên chậm, rút chậm, cần nước để
thau chua, rửa mặn nên không cần đắp đê mà đào kênh, tạo cho người dân thói
quen sống chung với lũ. Hơn nữa, lũ là một loại tài nguyên ở đồng bằng sông
Cửu Long.

21


II. CÁC BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN BẢNG SỐ LIỆU
Các bài tập liên quan đến dạng này không nhiều, nhưng dạng này đòi hỏi
học sinh phải tổng hợp nhiều kĩ năng: xử lí và phân tích số liệu, so sánh vận

Lưu lượng trung
bình

dòng

chảy

20
2

115 75

58 91

12
0

89

99

151 519 954 448

(m3/s)
a. Hãy cho biết đây là lưu lượng dòng chảy của sông ngòi ở miền nào nước ta?
b. Vì sao là sông ngòi ở miền đó?
Hướng dẫn:
a. Đây là lưu lượng dòng chảy của sông ngòi miền Trung.
b. Bởi vì:
- Sông ngòi là hàm số của khí hậu (chế độ nước của sông ngòi phản ánh chế độ


Trị
An

I

II

12,5

11

202,5

115

103

66,
2

III
11,
4

IV

Các tháng
VI VII


XI

XII

134

96,6

48,7

29

15,6

69,6

151

519

954

448

134

131

5


Đông Bắc.
+ Sông Thu Bồn có lưu vực ở miền Trung.
+ Sông Đồng Nai có lưu vực ở phía Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
- Chế độ dòng chảy của 3 con sông phân mùa rõ rệt trong năm:
+ Có sự tương đồng về thời gian mùa lũ và mùa cạn của sông Cầu và sông
Đồng Nai: lũ vào mùa hè (bắt đầu lũ vào tháng VI, đỉnh lũ vào tháng VIII), cạn
vào mùa đông. Tuy nhiên, mùa lũ của sông Cầu kết thúc sớm hơn mùa lũ của
sông Đồng Nai (sông Cầu tháng X, sông Đồng Nai tháng XI). Vì vậy, tháng kiệt
nước của sông Cầu cũng đến sớm hơn sông Đồng Nai (sông Cầu: tháng II, sông
Đồng Nai: tháng III).
+ Sông Thu Bồn cũng có sự phân mùa nhưng khác hẳn với sông Cầu và
sông Đồng Nai. Sông Thu Bồn lũ vào mùa thu đông, mùa lũ chỉ kéo dài 3 tháng
(tháng X đến tháng XII), lũ cao nhất vào tháng XI. Mùa cạn kéo dài từ tháng I
đến tháng IX, hay có lũ tiểu mãn vào tháng V – VII do Tây Nguyên có mưa vào
mùa hè.
- Chênh lệch lưu lượng dòng chảy giữa 2 mùa trong năm của 3 sông có sự khác
biệt:
+ Sông Cầu: lưu lượng nước trung bình mùa lũ gấp 5 lần mùa cạn, tháng
đỉnh lũ gấp 12 lần tháng kiệt nhất.
+ Sông Thu Bồn: lưu lượng nước trung bình mùa lũ gấp 7 lần mùa cạn.
Tháng đỉnh lũ cao gấp 16 lần tháng kiệt nhất.

24


+ Sông Đồng Nai: mùa lũ cao gấp 8 lần mùa cạn. Tháng lũ cao gấp 28 lần
tháng kiệt nhất.
- Tổng lượng nước chảy hàng năm có sự khác biệt giữa 3 sông:
+ Sông Đồng Nai có tổng lượng nước lớn nhất (do diện tích lưu vực rộng
lại có nhiều phụ lưu, có nhiều hồ lớn trên sông, lại chảy qua vùng đất bazan nên


VI
262,8

VII
315,7

VIII
335,2

IX
271,9

X
170,1

XI
59,9

XII
17,8

mưa (mm)
Lưu lượng

1318 1100 914

1071

1893


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status