1
Trương Thị Nhật Dung – THPT Lê Quý Đôn
A – ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Nhân tài có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Từ ngàn năm dựng
nước và giữ nước, ông cha ta đã khẳng định: “Những người tài giỏi là yếu tố cốt tử đối với một
chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước phát triển mạnh mẽ và phồn thịnh. Khi yếu tố này
kém đi thì quyền lực đất nước bị suy thoái. Những người giỏi có học thức là một sức mạnh đặc biệt
quan trọng đối với đất nước”. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại
hoá, đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, và đưa nước ta “sánh ngang với các cường quốc
năm châu trên thế giới”, bên cạnh nâng cao dân trí, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công
tác bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Trong đó, việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng
khiếu về các môn học ngay ở bậc phổ thông là bước khởi đầu quan trọng để xây dựng nguồn nhân
tài tương lai cho đất nước. Nhiệm vụ này phải được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy
học, qua các kỳ thi chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp.
Hàng năm, chúng ta luôn tổ chức các cuộc thi học sinh giỏi (HSG) môn hoá học để phát
hiện những em có năng khiếu nên việc tổng kết, đúc rút kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi
hoá học là rất cần thiết và mang tính thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong giảng dạy cũng như trong bồi dưỡng HSG, bài tập tổng hợp hữu cơ có vị trí hết sức
quan trọng. Nó không những góp phần giúp học sinh hiểu rõ về lý thuyết hoá hữu cơ, về thực tế
tổng hợp và sản xuất các chất hữu cơ mà hơn hết là khi giải loại bài tập này, các năng lực tư duy
cũng như trí tuệ của học sinh được nâng cao như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Giáo dục ở
nhà trường điều chủ yếu không phải là rèn trí nhớ mà là rèn trí thông minh”. Tuy nhiên, hiện nay
chưa có nhiều tài liệu về bài tập tổng hợp hữu cơ dùng bồi dưỡng HSG hóa học.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Một số dạng bài tập tổng hợp chất hữu cơ
trong bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học”.
II. Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn và phân dạng các bài tập cơ bản, nâng cao về tổng hợp chất hữu cơ để bồi
dưỡng học sinh giỏi hoá học ở bậc THPT.
Đề tài đã góp phần lựa chọn được hệ thống các dạng bài tập tổng hợp chất hữu cơ tương
đối phù hợp với yêu cầu và mục đích bồi dưỡng HSG hoá học THPT trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt thực tiễn:
- Tuyển chọn và phân dạng được hệ thống bài tập về tổng hợp chất hữu cơ dùng bồi
dưỡng HSG hoá học.
3
- Giúp cho học sinh và giáo viên có thêm tư liệu bổ ích trong học tập và trong công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi.
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I.1. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG
Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam rất coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng
HSG trong chiến lược giáo dục phổ thông của mình. Vào những năm đất nước còn chiến tranh
gian khổ, chúng ta đã quan tâm đến vần đề này. Năm 1962, kì thi chọn HSG toán và văn lớp 10
toàn miền bắc đã được tổ chức (được xem là kì thi chọn HSG quốc gia đầu tiên của nước ta). Và
đến năm 1966, hệ thống trung học phổ thông chuyên được lập ra, bắt đầu với những lớp chuyên
toán tại các trường đại học lớn về khoa học cơ bản. Từ đó đến nay, hệ thống trường chuyên cùng
với các trường trung học phổ thông không chuyên ở tất cả các tỉnh thành đã trở thành cái nôi bồi
dưỡng biết bao thế hệ học sinh giỏi.
Vì sao công tác bồi dưỡng HSG lại được nước ta cũng như các nước khác trên thế giới quan
tâm nhiều đến vậy? Để các em đạt kết quả cao trong các kì thi quốc gia, quốc tế? Theo tôi, đây chưa
phải là lí do để các nước phải coi trọng vấn đề này, lí do chính ở đây là để nuôi dưỡng nguồn nhân tài
tương lai cho đất nước. “Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi
dưỡng công phu. Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được phát hiện và sử dụng đúng lúc, đúng
chỗ ” (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng tại Đại hội VI năm 1996).
Như vậy, việc phát hiện sớm và tổ chức bồi dưỡng HSG đóng vai trò hết sức quan trọng
b) Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học
- Có kiến thức hoá học cơ bản, vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Để có được phẩm chất này đòi hỏi
học sinh phải có năng lực tiếp thu kiến thức, tức là có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng; có ý
thức tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức ngay ở dạng sơ khởi.
- Có trình độ tư duy hoá học phát triển, có tính sáng tạo cao. Để có được những phẩm
chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực suy luận logic, năng lực kiểm chứng, năng lực diễn
đạt…
- Có khả năng quan sát, nhận thức các hiện tượng hoá học. Phẩm chất này được hình
thành từ năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thích hiện tượng các quá trình hoá học, năng lực
thực hành của học sinh.
- Có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo kiến thức, kỹ năng đã có để giải
quyết vấn đề, các tình huống xảy ra. Đây là phẩm chất cao nhất cần có ở một học sinh giỏ
i.
5
I.2.2. Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc THPT
Để xác định được những học sinh học giỏi hóa học, giáo viên cần phải làm rõ:
- Mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh theo tiêu chuẩn kiến thức, kỹ
năng của chương trình và sách giáo khoa.
- Trình độ nhận thức, mức độ tư duy của từng học sinh và đặc biệt là đánh giá được khả
năng vận dụng kiến thức linh hoạt, sáng tạo của học sinh.
Muốn vậy, giáo viên phải theo dõi quá trình học tập trên lớp của học sinh và tiến hành
kiểm tra toàn diện kiến thức của học sinh. Thông qua bài kiểm tra, giáo viên có thể phát hiện
HSG hoá học theo các tiêu chí:
- Mức độ đầy đủ, rõ ràng về mặt kiến thức.
- Tính logic trong bài làm của học sinh đối với từng yêu cầu cụ thể.
- Tính khoa học, chi tiết, độc đáo được thể hiện trong bài làm của học sinh.
- Tính mới, tính sáng tạo (những đề xuất mới, những giải pháp có tính mới về mặt bản
chất, cách giải bài tập hay, ngắn gọn ).
Hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh là cả một quá trình lâu dài. Nó được hình
thành dần trong quá trình học sinh ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và
điều khiển của giáo viên. Vì vậy, giáo viên cần phải chú ý hình thành động cơ học tập cho học sinh
ngay từ trên lớp. Nếu trong dạy học, giáo viên luôn thành công trong việc tổ chức cho học sinh tự
phát hiện ra những điều mới lạ, cách giải quyết thông minh các nhiệm vụ học tập, tạo ra được những
ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần làm nảy sinh nhu cầu của các em đối với tri thức khoa
học. Học tập sẽ trở thành nhu cầu không thể thiếu được của các em.
b) Soạn thảo nội dung dạy học và có phương pháp dạy học hợp lý
Nội dung dạy học gồm hệ thống lý thuyết và hệ thống bài tập tương ứng. Trong đó, hệ
thống lý thuyết phải được biên soạn đầy đủ, ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát yêu cầu của chương
trình; soạn thảo, lựa chọn hệ thống bài tập phong phú, đa dạng giúp học sinh nắm vững kiến
thức, đào sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, đồng thời phát triển được tư duy cho học sinh.
Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý sao cho học sinh không cảm thấy căng thẳng, mệt
mỏi và quá tải, đồng thời phát huy được tối đa tính tích cực, tính sáng tạo và nội lực tự học tiềm
ẩn trong mỗi học sinh.
c) Kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình dạy đội tuyển, giáo viên có thể đánh giá khả năng, kết quả học tập của học
sinh thông qua việc quan sát hành động của từng em trong quá trình dạy học, kiểm tra hoặc phỏng
vấn, trao đổi. Hiện nay, thường đánh giá kết quả học tập của học sinh trong đội tuyển bằng các bài
7
kiểm tra, bài thi (bài tự luận, trắc nghiệm hoặc bài thi hỗn hợp). Tuy nhiên cần chú ý là các câu hỏi
trong bài thi nên được biên soạn sao cho có nội dung khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo của học
sinh.
I.3. Thực trạng việc bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT hiện nay
I.3.1. Thuận lợi
- Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, đã đề ra
cả một “chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân tài” giai đoạn 2008-2020 với những bước đi và
mục tiêu cụ thể. Đây sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc bồi dưỡng, đào tạo nhân tài cho đất
- Giáo viên bồi dưỡng HSG vẫn phải hoàn thành tất cả công tác giảng dạy như các giáo viên
khác, đôi khi còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác như chủ nhiệm, tổ trưởng bộ môn nên việc đầu tư
cho công tác bồi dưỡng cũng có phần hạn chế.
- Chế độ chính sách hiện nay cho giáo viên bồi dưỡng HSG còn thấp, không đủ sức thu hút giáo
viên giỏi đầu tư nghiên cứu để bồi dưỡng HSG.
I.4. Kết quả thi HSG tỉnh môn hóa học lớp 12 năm học 2012–2013 của một số trường trong
tỉnh
Số đạt giải
STT
Trường
Số dự thi
Nhất Nhì Ba KK
Tỉ lệ % đạt
1 THPT Phan Đình Phùng 4 1 0 0 3 100%
2 THPT Lý Tự Trọng 4 0 0 0 3 75%
3 THPT Mai Thúc Loan 4 0 0 1 2 75%
4 THPT Nguyễn Trung Thiên 3 0 0 1 2 100%
5 THPT Cẩm Xuyên 4 0 0 1 1 50%
6 THPT Cẩm Bình 4 0 0 0 2 50%
7 THPT Hà Huy Tập 4 0 0 0 1 25%
8 THPT Lê Quý Đôn 3 0 0 1 2 100%
OH
RMgX +
3
1)
2)
HCHO
H O
RCH
2
OH
+
3
1) '
2)
R CHO
H O
RCH(OH)R’
+
3
1) ' ''
2)
R COR
H O
/
long
NaNH NH
R – C C
Na
+
'R X
R – C C – R’
II.1.3. Các phương pháp ankyl và axyl hóa hợp chất thơm:
a) Các phản ứng ankyl hóa:
R
+ anken/ xt: HCl/AlCl
3
hoặc axit protonic (HF > H
2
SO
4
> H
3
PO
4
)
+ ancol/ xt: axit protonic hoặc Al
2
O
L
tb
N
R
+ dẫn xuất halogen/ xt: axit Lewis (AlCl
3
> FeCl
3
> BF
3
> ZnCl
2
)
+ dẫn xuất của axit cacboxylic (RCOX > (RCO)
2
O > RCOOR’)/ xt:
10
Một số phản ứng formyl hóa (thường dùng để gắn nhóm – CHO vào phenol, ete thơm hoặc
nhân thơm giàu electron)
-
CO + HCl
AlCl
3
* Học sinh cần lưu ý:
+ Cơ chế của các phản ứng ankyl và axyl hóa nhân thơm là cơ chế S
E
2(Ar); trong đó chú
ý cơ chế tạo tác nhân electronfin.
+ Các phản ứng ankyl hóa thường tạo thành hỗn hợp mono và poliankyl muốn thu
được sản phẩm mono cần lấy dư chất phản ứng.
+ Hướng chính của phản ứng khi thế vào các dẫn xuất của benzen.
II.1.4. Các phương pháp ankyl và axyl hóa các hợp chất có nhóm metylen hoặc nhóm
metyn linh động:
a) Chất phản ứng có dạng X – C
H
2
– Y hoặc X – C
H(R) – Y; với X, Y là –COR’, -COOR’,
-CN, -NO
2
…
Do X, Y là các nhóm hút electron mạnh nguyên tử H
rất linh động dùng bazơ để
tách H
+
, tạo thành cacbanion.
H
2
C
C
Y
X
1) C
2
H
5
ONa
2) R'Br
R(R') C
Y
X
RCOCl
RCO HC
Y
X
* Học sinh cần lưu ý:
+ Khi thế 2 nhóm ankyl R và R’ khác nhau, nhóm ankyl có kích thước nhỏ hơn hoặc có
hiệu ứng +I nhỏ hơn sẽ được đưa vào trước
11
+ Sản phẩm của phản ứng axyl hóa cũng có nguyên tử H
linh động, có thể dễ dàng bị
tách H
+
bởi chính cacbanion
-
2
– CH – X; với X là – COR’, - COOR’, - CN,
- NO
2
…
Các phản ứng được tiến hành tương tự, nhưng phải sử dụng xúc tác là bazơ rất mạnh
(NaNH
2
; C
2
H
5
ONa…) do nguyên tử H
kém linh động hơn so với trường hợp có 2 nhóm X, Y
hút electron.
II.1.5. Các phương pháp ngưng tụ:
a) Phản ứng andol – croton hóa của anđehit và xeton:
C C
H
H
O
C C
H
H
O
+
C C C C
H
sản phẩm, trong đó sản phẩm chính là sản phẩm ngưng tụ giữa:
- cấu tử cacbonyl có tính electrophin cao hơn
- cấu tử metylen có H
α
linh động hơn.
b) Phản ứng ngưng tụ của anđehit, xeton với các hợp chất có nhóm metylen hoặc metyn linh
động:
H
2
C
Y
X
-
CH
Y
X
B
-
- BH
C O
C
HC
O
-
Y
X
BH
- B
-
C
3
OO
OOH
khan
CH C Na
CH C
C
6
H
5
– CH= CH – COOH
c) Phản ứng cộng Micheal - cộng các hợp chất có nhóm metylen hoặc metyn linh động vào
hợp chất cacbonyl-α,β-không no:
H
2
C
Y
X
-
CH
Y
X
B
-
- BH
H
2
C CH CH O
d) Phản ứng ngưng tụ Claisen – ngưng tụ este với các hợp chất có nhóm metylen linh động:
+ Phản ứng ngưng tụ giữa các este với nhau:
CH
3
–COO–C
2
H
5
+ CH
3
–COO–C
2
H
5
2 5
C H ONa
CH
3
–CO–CH
2
–COO–C
2
H
5
+ C
2
H
5
3
C
O
OC
2
H
5
CH
3
C OC
2
H
5
O
CH
2
COOC
2
H
5
CH
3
C CH
2
COOC
2
H
5
O
-
3
–COO–C
2
H
5
+ CH
3
–CO–CH
3
2 5
C H ONa
CH
3
–CO–CH
2
–CO–CH
3
+ C
2
H
5
OH
II.2. Các phương pháp làm giảm mạch Cacbon:
II.2.1. Phản ứng đecacboxyl hóa bởi nhiệt: xảy ra khi nhóm COOH gắn với nhóm có khả
năng hút electron mạnh
13
2
O
II.2.5. Phản ứng thoái phân Hoffman: R – CO – NH
2
2
2
, ,
o
Br NaOH t
CO
RNH
2
II.2.6. Các phản ứng oxi hóa làm gãy mạch Cacbon:
a) Các phản ứng làm gãy liên kết liên kết đôi C=C:
+
4
,
o
KMnO t
CH
3
–COOH + CH
3
–CO–CH
3
KMnO
4
hoac K
2
Cr
2
O
7
H
+
R
COOH
* Học sinh cần lưu ý:
+ Nếu vị trí α của mạch bên không còn H thì phản ứng oxi hóa hầu như không xảy ra.
+ Nếu dùng Na
2
Cr
2
O
7
(không có H
+
) sẽ tạo thành xeton mà không bị cắt mạch
CH
2
R
C
+
3
O
2
/ ,H O H Zn
CH
3
–CH=O + CH
3
–CO–
CH
2 2
/H O H
CH
3
–COOH + CH
3
–CO–
CH
CH
3
–CH=
R
+
X
R
X
R
+
R
X
X
II.4. Các phản ứng oxi hóa và khử trong tổng hợp hữu cơ:
II.4.1. Các phản ứng oxi hóa:
a) Các phản ứng oxi hóa anken
b) Phản ứng oxi hóa nguyên tử H ở vị trí allyl:
Tác nhân oxi hóa: Pb
4+
, SeO
2
…
C C CH
2
C C CH
OH
4
HIO
cacbonyl.
e) Các phản ứng oxi hóa anđehit, xeton:
+ Anđêhit
[ ]O
axit cacboxylic
Tác nhân oxi hóa: O
2
/xt, [Ag(NH
3
)
2
]
+
, KMnO
4
/H
+
, K
2
Cr
2
O
7
/H
+
…
OH + R’OH
RX RH
RNO
2
RNH
2
R-CN R-CH
2
NH
2
R-CO-NHR’ RCH
2
NHR’
+ H
2
/ Pd/ BaSO
4
, BaCO
3
… (xúc tác Lindlar): khử lựa chọn liên kết ba về liên kết đôi
C C
C C
+ H
2
/ [(C
6
Epoxit 1,2-điol
RX RH
RNO
2
RNH
2
R-CN R-CH
2
NH
2
R-CO-NHR’ RCH
2
NHR’
* Học sinh cần lưu ý:
- Phản ứng khử xảy ra theo cơ chế cộng A
N
.
- Dùng NaBH
4
làm chất khử có ưu điểm là tính chọn lọc cao và có thể thực hiện phản ứng trong
môi trường nước.
- NaBH
4
không khử các nhóm C=O, COOH, COOR…
c) Các phương pháp khử bằng kim loại hòa tan:
Tác nhân khử:
+ Na/NH
C OH
HI
b) Chuyển thành nhóm este (nhóm este tương đối bền trong môi trường axit):
17C OH
C OCO
R
C OH
NaOH
c) Chuyển thành nhóm axetal hoặc xetal (bảo vệ các điol):
C
C
OH
OH
+
O C
R
R
C
R
R
C
C
-OCOCl
N
OCO-CH
2
-Ph
H
2
/Pd
Ph
3
-CCl
N
C-Ph
3
CH
3
COOH
khan
III. THIẾT KẾ CÁC BƯỚC TỔNG HỢP CHẤT HỮU CƠ
Việc tổng hợp và điều chế chất hữu cơ là một công việc rất khó khăn, việc giải quyết
các bài tập về tổng hợp hữu cơ giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản về hóa học hữu cơ, quan
hệ giữa các nhóm chức hữu cơ. Bên cạnh đó đòi hỏi HS phải có kỹ năng phân tích và tổng
hợp thành thạo để từ đó lựa chọn được con đường tổng hợp phù hợp và ưu việt nhất. Có thể nói
việc giải quyết các bài tập loại này giúp HS càng hoàn thiện kiến thức, kỹ năng mặt khác
giúp giáo viên kiểm tra và đánh giá chính xác khả năng hiểu bài và vận dụng kiến thức liên
quan của HS.
trung gian gần gũi với chất ban đầu.
Bước 5: Thực hiện quy trình tương đối với chất trung gian, cho tới khi tiếp cận chất đầu.
Bước 6: Hoàn thành sơ đồ phản ứng (Viết các phương trình phản ứng nếu cần).
Cân nhắc:
Các vấn đề nẩy sinh khi tiến hành một phản ứng cụ thể hay một dãy các phản ứng
Sản phẩm phụ có thể tạo thành
Chuyển vị, hỗ biến, đồng phân hóa,…
Con đường tổng hợp nào có hiệu quả nhất
Điều kiện phản ứng thuận lợi, hóa chất sử dụng,…
Hiệu suất cao, và không/hoặc ít sản phẩm phụ.
19
IV- MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP TỔNG HỢP CHẤT HỮU CƠ
Đây là loại bài tập tương đối khó, vì nó đòi hỏi HS biết cách phân tích và tổng hợp các kiến
thức đã học. HS phải chọn đúng được các chất phản ứng, không những thế còn phải nhớ các
điều kiện của phản ứng. Ngoài ra, nếu có nhiều con đường đi, HS phải chọn con đường ngắn
nhất, dễ thực hiện nhất, có hiệu suất và ứng dụng cao trong công nghiệp và hạn chế tới mức thấp
nhất ô nhiễm môi trường do tạo ra các sản phẩm phụ trong quá trình tổng hợp.
Dạng 1: Bài tập về hoàn thành sơ đồ phản ứng
Ở dạng này, điều kiện phản ứng, các tác nhân đề bài sẽ cho còn sản phẩm trong sơ đồ hoặc
trong phương trình sẽ được viết dưới dạng CTPT. Dạng nâng cao hơn, đề bài sẽ ẩn đi CTPT (
dạng sơ đồ câm). Muốn làm dạng bài tập này, HS cần phải nắm rõ các điều kiện phản ứng, các
tác nhân để dự đoán sản phẩm tạo thành. Mỗi mũi tên thông thường là sản phẩm cuối cùng của
một phản ứng mà không dừng lại các bước trung gian trong một cơ chế.
Ví dụ 1: ( Đề thi HSG tỉnh Hà Tĩnh lớp 12 năm 2013-2014)
Cho sơ đồ phản ứng
4 2 2 2
0
O
+ Br
2
, H
2
O
C
3
H
6
O
3
không chứa Brom
phản ứng oxi hóa nhóm andehit bằng nước brom
Hướng dẫn giải:
CH
2
(OH)-CH(OH)-CH
2
(OH) CH
2
=CH-CHO + 2H
2
O
Propenal
CH
2
=CH-CHO + H
+
,t
020CH
2
(OH)-CH(OH)-CH
2
(OH) [CH
2
=C=CH-OH] + 2H
2
O VD: CH
2
OH-CH
2
OH CH
3
CHO + H
2
O
Rèn luyện về phản ứng cộng nước ( theo quy tắc Maccopnhicop) và phản ứng oxi hóa của
andehit với nước brom ( có thể dùng để nhận biết andehit)
,t
0
CO
2
dö
CH
3
COOH, H
2
SO
4
,t
0
A, B, C, D, E, G, H là các hợp chất hữu cơ.
Hướng dẫn HS phân tích:
Lưu ý các điều kiện phản ứng để viết chính xác sản phẩm tạo thành
Hướng dẫn giải:
Br
2
Fe/t
0
2
Br
Br
+2
CH
3
-CH-CH
Br
+2
CH
3
-CH-CH
3
CH
3
-C-CH
3
CH
3
-CH-CH
2
Br
+
+ 2 HBr
as
Br
(B)
Sản phẩm chính ưu tiên thế nguyên tử H ở cacbon bậc III vì ở đó nguyên tử H linh động hơn ở
cacbon bậc I.
KHSO
4
Không
b
ền
Vì nguyên tử Br liên kết với nhân benzen rất bền nên không phản ứng với dung dịch NaOH
loãng, nhiệt độ thấp.
0
Br
Br
CH
3
- C - CH
3
CH
3
- C - CH
3
+
O H
C H
3
C OO H+
H
+
t
,
H O
2
(D )
O
C H
3
- C
O
O N a
C H
3
- C - C H
3
O H
+
C O
2
+ H
2
O
O H
C H
3
- C - C H
3
O H
+ N a H C O
3
(G )
0
O H
O H
C H
3
- C - C H
3
C H
Thế electronphin
S
E
Ar), lúc nào thì thế ở gốc hiđrocacbon ( Br
2
khan, ánh sáng
Cơ chế gốc tự do).
222
- Phản ứng để tạo thành este của phenol phải dùng anhiđrit axit hoặc clorua axit tác dụng
với phenol chứ không phải dùng axit hữu cơ như trường hợp của ancol.
- Phản ứng thuỷ phân dẫn xuất halogen trong môi trường kiềm để điều chế phenol phải
thực hiện ở nhiệt độ, áp suất cao và kiềm đặc chứ không phải chỉ cần đun nóng như trường hợp
của ancol.
Ví dụ 3: Hoàn tất sơ đồ phản ứng sau (chất hữu cơ được viết dưới dạng CTCT thu gọn)
1. Al
4
C
3
+ HCl E
+ X
1500
0
C, làm lạnh nhanh
2. E Y + Z
2
CO
3
.
-
Phản ứng (2) dùng để điều chế C
2
H
2
trong công nghiệp
Z là H
2
, Y là C
2
H
2
- Từ đó xác định các chất còn lại: A là CH
3
COOCH=CH
2
, B là polivinylaxetat, D là poli ancol, .
Biết A và C
G là CH
3
CHO. Biết F và X
3
COOH + C
2
H
2
CH
3
- COO- CH=CH
2
4. nCH
3
- COO- CH=CH
2
CH
3
–COO
1500
0
C, làm lạnh nhanh
xt,t
0
,p
Zn(CH
3
COO)
2
[-CH- CH
2
CO
3
7. CH
3
COO- CH=CH
2
+ NaOH CH
3
COONa + CH
3
- CHO
8. 3Na
2
CO
3
+ 2AlCl
3
+3H
2
O 2Al(OH)
3
+ 3CO
2
+ 6NaCl
Nhận xét: - Bài tập giúp HS nắm phương pháp điều chế este vinylaxetat bằng phản ứng
cộng giữa ankin và axit cacboxylic vì không thể điều chế bằng phản ứng este hóa.
- HS nắm phương pháp điều chế polivinylancol bằng phản ứng thủy phân polivinylaxetat vì
E
C
K O H/H
2
O
(
CH
3
C O CH
3
+
A
2
B
H
D
)
(
1
)
(
3
)
(
4
)
(
5
)
(
OOCR
OH
xt,t
0
,p
NaOH
24
CH
3
CH
CH
3
CHOHCH
3
C
C
H
3
(D)
OH
CH
3
CHBrCH
3
CH
3
CH=CH
2
+
CH
3
CHBrCH
3
KBr
)
(
2
H
2
O
CH
3
CHOHCH
3
+
KOH
O
+
CH
3
CHOHCH
3
Cu
)
(
3
CH
3
)(
5
+
.O
2
2.H
+
1
O
H
CH
3
COCH
3
.CH
3
MgBr
2
.H
3
O
+
1
CH
3
C OHCH
3
SO
4
®Æc
170
0
C
A B
E
D F
G
H I
Biết chất E không chứa oxi, khi đốt cháy hoàn toàn E cần 3,808dm
3
O
2
(đktc), sản phẩm
sinh ra có 0,73g HCl, còn CO
2
và hơi nước tạo ra theo tỉ lệ thể tích V
CO2
:V
H2O
= 6:5 (đo cùng
25
điều kiện nhiệt độ, áp suất). Tìm công thức cấu tạo các chất hữu cơ ứng với chữ cái có trong sơ
đồ và viết các phương trình phản ứng.
Hướng dẫn HS phân tích:
Cl
Từ đó học sinh suy luận các chất trong dãy chuyển hoá theo từng phản ứng và đi đến câu trả lời
chính xác:
CaCO
3
CaO + CO
2
(1)
CaO + 3C CaC
2
+ CO (2)
CaC
2
+ 2H
2
O C
2
H
2
+ Ca(OH)
2
(3)
3C
2
H
2
(4)
+3H
2
(5)