“MỘT SỐ CÂU HỎI, BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NGÒI
TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ”.
Vũ Xuân Thanh
Giáo viên Địa lí - THPT Chuyên Hoàng Văn Thụ - Hòa Bình
MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bắt đầu từ năm 2010, Bộ GD - ĐT, Vụ Giáo dục trung học đã hướng dẫn
triển khai dạy học và kiểm tra đánh giá theo chương trình chuyên sâu trường
THPT chuyên nhằm thống nhất trên phạm vi toàn quốc kế hoạch dạy học và nội
dung dạy học môn Địa lí cho trường THPT chuyên; thống nhất nội dung bồi
dưỡng HSG cấp THPT. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho giáo viên trong
việc phát hiện và bồi dưỡng HSG môn Địa lí.
Sông ngòi, rộng hơn nữa là toàn bộ lớp nước trên bề mặt Trái Đất (thủy
quyển) là một trong năm quyển thành phần tạo nên lớp vỏ địa lí. Sông ngòi có
vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự sống sinh vật
nói riêng và các thành phần tự nhiên khác nói chung. Đối với đời sống và hoạt
động của con người, số lượng và chất lượng nước sông ngòi lại càng quan trọng.
Mỗi khu vực trên Trái Đất (cả Việt Nam), theo thời gian và không gian có
sự thay đổi và khác biệt về tốc độ dòng chảy và chế độ nước sông, nguyên nhân
là do sự tác động của một loạt các nhân tố: tự nhiên, hoạt động sản xuất kinh tế
xã hội của con người,... Hiện nay, các tài liệu về sông ngòi nói chung không
nhiều, đặc biệt, chưa có một tài liệu chuyên sâu, chuẩn để phục vụ công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi khu vực và quốc gia. Do đó, để hỗ trợ và trao đổi kinh
nghiệm với các trường bạn về nội dung này trong bồi dưỡng thi HSG môn Địa
lí, tôi chọn đề tài “Một số câu hỏi, bài tập liên quan đến sông ngòi trong bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí”.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp hệ thống kiến thức về sông ngòi trên Trái đất phục vụ cho bồi
thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của con người.
Thời Cổ đại, con người quan niệm sông ngòi là nước; về sau, để phân biệt
với các đối tượng khác trên lục địa, người ta gọi sông là nước chảy. Thời gian
gần đây, định nghĩa sông ngòi chính xác dần lên. Một số khái niệm thường sử
dụng:
“Sông ngòi là những dải trũng có độ dốc một chiều, trong đó nước chảy
thường xuyên theo trọng lực”.
“Sông ngòi là những dòng chảy thường xuyên”.
“Sông ngòi là tổng thể của những dòng chảy thường xuyên”.
2. Hệ thống sông ngòi
Các dòng chảy trong một phạm vi nào đó họp thành một hệ thống, gọi là
hệ thống sông ngòi.
Trong mỗi hệ thống, dòng chảy lớn nhất gọi là dòng chính; các dòng chảy
nhỏ hơn chảy vào chính gọi là phụ lưu. Mỗi hệ thống thường có nhiều phụ lưu
và người ta tiến hành phân cấp theo nhiều phương pháp khác nhau. Các phụ lưu
thường tồn tại ở thượng và trung lưu.
Ngược lại, phần hạ lưu lại có những dòng chảy chia bớt nước cho dòng
chính gọi là chi lưu. Người ta cũng tiến hành phân cấp các chi lưu. Số lượng chi
lưu bao giờ cũng ít hơn các phụ lưu.
3. Hình dạng lưới sông
Là sự kết hợp của dòng chính, các phụ lưu và các chi lưu. Hình dạng lưới
sông ảnh hưởng nhất định đến quá trình tập trung nước và đặc điểm lũ trên sông.
Có 3 dạng lưới sông cơ bản: lông chim, song song và nan quạt. Trong 3 dạng
trên, dạng nan quạt thường có lũ lớn, đột ngột, có thể gây lụt lội cho hạ lưu
(sông Hồng, sông Thái Bình,…).
Các hệ thống sông ngòi thường tách biệt nhau, đôi khi có sự kết hợp với
nhau, nhất là khu vực hạ lưu tạo thành mạng lưới sông ngòi. Sự phát triển của hệ
thống sông ngòi, nhất là chiều dài dòng chảy, thường được biểu thị qua mật độ
6. Mặt cắt ngang sông
Mặt cắt ngang sông (tiết diện ngang) là phần của mặt phẳng thẳng góc với
dòng chảy, giới hạn bởi đáy, hai bờ và mặt nước sông. Mặt cắt ngang cũng như
lòng sông, không cố định mà luôn thay đổi theo lượng nước trong sông. Do đó,
tương ứng với mặt nước ta có các mặt cắt ngang sông: cực tiểu, cực đại, trung
bình hay tức thời nào đó.
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẾ ĐỘ NƯỚC SÔNG
Sông ngòi thường xuyên có nước chảy, do đó, sông ngòi thường xuyên
được cung cấp nước. Nguồn nước cung cấp cho sông khá phức tạp, chủ yếu là
các điều kiện khí tượng, thuỷ văn,… song quá trình này lại thông qua bề mặt lưu
vực, tức là các điều kiện tự nhiên khác cũng như hoạt động kinh tế của xã hội
loài người.
1. Các nhân tố tự nhiên
Trong tổng thể địa lí tự nhiên của lưu vực, sông ngòi có tác dụng tích cực
tới các thành phần khác, song các yếu tố này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới dòng
chảy sông ngòi.
a. Nhóm nhân tố khí tượng - thuỷ văn
Đây là nhóm nhân tố quan trọng nhất vì có tác dụng quyết định tới số
lượng và chế độ nước trong sông.
Nhân tố khí tượng giữ vai trò rất lớn lao. Trong khí tượng, lượng nước rơi
có ảnh hưởng lớn nhất. Những nơi có lượng nước rơi phong phú, lượng dòng
chảy sẽ lớn; ngược lại, những nơi có lượng nước rơi nghèo nàn thì dòng chảy sẽ
giảm đi; đặc biệt tại các miền khí hậu khô hạn, sông ngòi sẽ trải qua một thời
gian cạn kiệt dài trong năm (ued, takyr).
Chế độ mưa ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nước sông. Những khu vực
có chế độ mưa điều hoà như xích đạo, ôn đới hải dương,… chế độ nước sông
cũng điều hoà. Tại các miền khí hậu gió mùa, chế độ nước sông cũng phân làm
2 mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn. Những nơi có chế độ mưa thất thường, chế
dân số và nhu cầu về nước ngày càng tăng. Các tác động này có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp đối với sông ngòi.
- Hoạt động thuỷ lợi có tác động trực tiếp đến sông ngòi. Trong các biện
pháp thuỷ lợi, việc xây dựng các hệ thống thuỷ nông để lấy nước tưới cho nông
nghiệp là quan trọng. Đồng thời, trên nhiều dòng sông, con người đã xây dựng
nhiều hồ chứa để khai thác nguồn thuỷ năng, điều tiết dòng chảy.
- Hoạt động lâm nghiệp được coi là biện pháp gián tiếp đối với sông ngòi.
Trong quá trình mở rộng phạm vi sản xuất và khai thác rừng, con người có thể
chặt phá bừa bãi làm giảm diện tích rừng, song ngược lại cũng có thể trồng rừng
khi cần thiết.
III. LUYỆN TẬP
Câu 1. Tại sao có sự khác biệt về tốc độ dòng chảy và chế độ nước sông?
TRẢ LỜI
1. Nguyên nhân khác nhau của tốc độ dòng chảy và chế độ nước sông
a. Tốc độ dòng chảy
Nước sông chảy nhanh hay chậm phụ thuộc:
- Độ dốc lòng sông (độ chênh mặt nước) càng lớn thì tốc độ dòng chảy
càng lớn.
+ Các sông ở khu vực miền núi có độ dốc lớn nên tốc độ nước chảy
nhanh hơn so với nước sông ở đồng bằng.
+ Phần hạ lưu các con sông thường có địa hình bằng phẳng, độ dốc
nhỏ nên lòng sông mở rộng, tốc độ nước chảy chậm hơn phần sông
ở khu vực đồi núi.
- Chiều rộng lòng sông: khúc sông hẹp nước chảy nhanh hơn khúc sông
rộng. Thực tế ngay mặt cắt ngang của sông tốc độ chảy cũng không đồng nhất
do ảnh hưởng của đặc điểm địa mạo đáy sông, chướng ngại vật,…
b. Chế độ nước sông
* Chế độ mưa, băng tuyết và nước ngầm
+ Tổng lượng mưa có sự phân hóa theo không gian nên tổng lượng
nước phân hóa theo không gian
• Xích đạo, ôn đới có lượng mưa trung bình năm lớn nên sông có
tổng lượng nước lớn VD: Sông Amadon
• Chí tuyến lượng mưa trung bình năm khá ít nên sông có tổng
lượng nước nhỏ: Sông ở các hoang mạc.
+ Chế độ mưa phân hóa theo mùa nên chế độ nước phân hóa theo
mùa:
• Xích đạo: mưa quanh năm, chế độ nước không phân mùa. VD:
Sông A-ma-dôn,…
• Cận xích đạo đến vùng ôn đới ấm: chế độ mưa phân mùa nên
chế độ nước sông theo sát nhịp điệu mưa: mùa mưa trùng với
mùa lũ, mùa khô trùng với mùa cạn của sông ngòi
+ Chế độ mưa thất thường làm chế độ nước sông cũng thất thường
- Chế độ nước sông ảnh hưởng nhất định đến chế độ mưa thông qua việc
cung cấp hơi nước cho quá trình bốc hơi, đây cũng chính là nguyên nhân gây
mưa cho các địa điểm nằm sâu trong lục địa không có gió biển thổi đến.
Câu 3. So sánh sự khác biệt giữa sông ngòi ở miền núi và sông ngòi ở miền
đồng bằng. Giải thích tại sao lại có sự khác biệt đó.
TRẢ LỜI
1. Sự khác biệt
- Về độ rộng lòng sông và tốc độ dòng chảy:
+ Sông ngòi miền núi có lòng sông hẹp, độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh
và nước chảy mạnh hơn.
+ Sông ngòi khu vực đồng bằng có lòng sông rộng và độ dốc nhỏ
hơn, uốn khúc quanh co và nước chảy chậm hơn.
- Về sự thay đổi chế độ nước: Nước sông khu vực miền núi lên, xuống
nhanh hơn nước sông khu vực đồng bằng.
nước ta, chỉ có phần trung lưu và hạ lưu là chảy trên địa phận nước ta: sông
Hồng, sông Cửu Long.
- Mật độ sông ngòi dày đặc, nhất là vùng cửa sông Hồng và cửa sông Cửu
Long.
b. Nguyên nhân
Nước ta có lượng mưa lớn trên địa hình phần lớn là đồi núi và bị cắt xẻ
mạnh, sườn dốc lớn. Điều đó dẫn đến mạng lưới sông ngòi dày đặc. Do lãnh thổ
hẹp ngang nên phần lớn sông đều ngắn, dốc và bắt nguồn từ vùng đồi núi phía
tây đổ ra các đồng bằng ven biển phía đông.
2. Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa
a. Đặc điểm
- Mưa nhiều mang lại lượng dòng chảy lớn, thêm vào đó sông ngòi nước
ta còn nhận được một lượng nước lớn từ phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ:
+ Tổng lượng nước trung bình năm là 839 tỉ m 3 (trong đó nước mặt là
639 tỉ m3, nước ngầm là 200 tỉ m3). Lượng nước phát sinh trong
lãnh thổ Việt Nam là 338 tỉ m 3 (chiếm 40,3%); phần từ bên ngoài
chảy vào là 501 tỉ m3 (chiếm 59,7%).
+ Lượng nước phân bố không đều giữa các hệ thống sông. Sông Mê
Công có lưu lượng nước là 508 tỉ m 3/năm, chiếm 60,5% lưu lượng
nước của toàn lãnh thổ; sông Hồng là 120 tỉ m 3/năm, chiếm 14,3%
toàn quốc; lưu lượng nước của các sông còn lại chỉ chiếm 25,2%.
- Sông ngòi giàu phù sa: tổng lượng phù sa hàng năm khoảng 200 triệu
tấn trong đó sông Hồng là 120 triệu tấn (khoảng 60%), sông Cửu Long là 70
triệu tấn (35%),…
b. Nguyên nhân
- Sông ngòi nước ta nhiều nước do có lượng mưa lớn, hơn nữa nước ta lại
nhận được một lượng nước lớn bên ngoài lãnh thổ.
- Hệ số bào mòn và tổng lượng cát bùn lớn là hệ quả của quá trình xâm
4. Đại bộ phận sông ngòi Việt Nam chảy theo hướng tây bắc - đông nam và
tất cả các sông đều đổ ra Biển Đông
- Theo hướng cấu trúc địa hình và địa thế thấp dần từ tây bắc xuống đông
nam nên phần lớn sông ngòi Việt Nam chảy theo hướng tây bắc - đông nam:
+ Miền Bắc: sông chảy, sông Đà, sông Hồng,…
+ Miền Trung: sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông Đà Rằng,…
+ Miền Nam: sông Tiền, sông Hậu,…
- Ngoài hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang ở Lạng Sơn, Cao Bằng là
thượng lưu của sông Tây Giang (Trung Quốc) và các sông Xê Xan, Xrê Pốk là
các phụ lưu quan trọng của sông Mê K ông không chảy theo hướng tây bắc đông nam.
- Tất cả các sông trên lãnh thổ nước ta đều đổ ra Biển Đông (trừ sông Kỳ
Cùng - Bằng Giang chảy sang Trung Quốc).
Câu 6. So sánh sự khác nhau cơ bản của 3 miền thủy văn Bắc Bộ, Trung Bộ
và Tây Nguyên - Nam Bộ.
TRẢ LỜI
1. Ranh giới 3 miền thủy văn
- Miền thủy văn Bắc Bộ: phía Bắc sông Cả.
- Miền thủy văn Trung Bộ: từ Vinh (Nghệ An) đến Cam Ranh (Bắc
Khánh Hòa).
- Miền thủy văn Nam Bộ - Tây Nguyên: gồm toàn bộ các hệ thống sông
thuộc Tây Nguyên, Nam Bộ và duyên hải Trung Bộ từ Khánh Hòa đến Bình
Thuận.
2. Sự khác biệt
- Về đặc điểm hình thái mạng lưới sông:
+ Sông ngòi Bắc bộ:
• Có nhiều lưu vực lớn, sông dài và hợp lưu của nhiều dòng chảy.
Tiêu biểu là hệ thống sông Hồng (chiếm 21,1% diện tích lưu
vực các hệ thống sông).
có dạng nan quạt.
+ Sông ngòi Trung Bộ lũ lên rất nhanh và đột ngột, nhất là khi có
mưa và bão lớn, mùa lũ ngắn, tập trung vào cuối năm, từ tháng 9
đến tháng 12.
+ Sông ngòi Nam Bộ chế độ nước theo mùa nhưng điều hòa hơn sông
ngòi Bắc Bộ và Trung Bộ. Lũ vào mùa hạ - thu, đỉnh lũ vào tháng
9, tháng 10, tháng kiệt vào tháng 3, tháng 4.
Câu 7.
a. Trình bày đặc điểm hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Mê Công.
b. Vì sao chế độ nước sông Mê Công điều hòa hơn chế độ nước sông
Hồng ?
TRẢ LỜI
1. Đặc điểm hệ thống sông Hồng và sông Mê Công
Đặc điểm
Sông Hồng
Sông Mê Công
1.126 km
556 km
Hơn 4.800
220 - 250 km
Diện tích lưu vực
Diện tích lưu vực trên
lãnh thổ Việt Nam
143.700 km2
7 - 11
Sông Đà, sông Lô
Sông Tiền, sông Hậu
Ba Lạt, Trà Lí, Đáy
Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm
Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu,
Định An, Tranh Đề, Bát Xắc
2. Chế độ nước sông Mê Công điều hòa hơn chế độ nước sông Hồng do:
- Đặc điểm:
+ Dòng sông dài: sông Mê Công dài hơn 4.800 km, đoạn chảy qua
Việt Nam (sông Cửu Long) dài khoảng 220 - 250 km.
+ Hình thái mạng lưới sông dạng lông chim, mạng lưới kênh rạch
chằng chịt.
+ Diện tích lưu vực (là diện tích bề mặt lục địa cung cấp nước cho
từng con sông hoặc hệ thống sông, gồm cả nước chảy trên bề mặt
và nước ngầm) lớn (khoảng 800 nghìn km2).
+ Độ dốc bình quân nhỏ.
- Vai trò điều tiết của Biển Hồ (Hồ Tôn-lê-sap - Hồ tự nhiên lớn nhất
Đông Nam Á - diện tích từ 2.700 km 2 - 16.000 km2 và độ sâu từ 1 - 9 m tùy
thuộc theo mùa).
Câu 8. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy nhận xét và
giải thích đặc điểm chế độ nước hệ thống sông Hồng.
TRẢ LỜI
Quan sát biểu đồ lưu lượng nước trung bình các tháng trong năm của sông
Hồng ta thấy:
nguồn lại bị chặt phá hạn chê khả năng giữ nước trong mùa lũ.
+ Khi đổ ra biển chỉ có 3 cửa sông nên khả năng thoát lũ chậm.
Câu 9. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy nhận xét và
giải thích đặc điểm chế độ nước hệ thống sông Mê Công.
TRẢ LỜI
- Lưu lượng sông Cửu Long lớn hơn lưu lượng nước của sông Hồng đạt
14.891 m3/s (gấp 5,5 lần sông Hồng). Nguyên nhân do diện tích lưu vực sông
Mê Công (phần Việt Nam) lớn hơn diện tích lưu vực sông Hồng.
- Sự phân mùa: tương tự như sông Hồng, thủy chế sông Cửu Long cũng
khá đơn giản gồm một mùa lũ và một mùa cạn.
+ Mùa lũ kéo dài 6 tháng (từ tháng 7 đến tháng 12) với tổng lượng
nước đạt 141.790 m3/s, chiếm gần 80% lưu lượng cả năm, tháng
đỉnh lũ chậm hơn sông Hồng (tháng 10 với lưu lượng trung bình
đạt 29.000 m3/s - chiếm 16,2% lưu lượng cả năm).
+ Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 6 với lưu lượng chỉ bằng 20% lượng
mưa cả năm. Tháng kiệt nhất là tháng 3 với lưu lượng chỉ đạt 1.570
m3/s (chỉ chiếm 0,9% lưu lượng cả năm).
+ Sự chênh lệch dòng chảy giữa hai mùa cao hơn sông Hồng. Trung
bình lưu lượng trong mùa lũ gấp 4 lần, tháng đỉnh lũ cao hơn gấp
18,5 lần tháng kiệt nhất.
+ Nguyên nhân do sông chảy trong vùng khí hậu gió mùa với một
mùa mưa và mùa khô rõ rệt nên chế độ nước sông cũng phân thành
mùa lũ và mùa cạn. Thời gian mùa lũ trùng với mùa mưa, mùa cạn
trùng với mùa khô nhưng do mùa khô ở miền Nam sâu sắc hơn
miền Bắc nên sự chênh lệch lượng nước giữa 2 mùa cao hơn.
- Đặc điểm lũ: lên chậm xuống chậm do nguyên nhân:
+ Lưu vực sông Mê Công (phần Việt Nam) có dạng lông chim, diện
tích lớn, độ dốc đồng bằng nhỏ. Đặc biệt là do tác dụng điều hòa
Căn cứ vào biểu đồ lưu lượng nước trung bình tại sông Ba (trạm Củng Sơn)
thuộc phần hạ lưu có thể thấy chế độ nước của sông Ba khá phức tạp, mang tính
chất của sông ngòi miền Nam Trung Bộ, tức là có thêm lũ Tiểu mãn (vào tháng
6) do những cơn mưa đầu mùa hạ ở phía Tây Trường Sơn Nam. Mùa lũ chính
ngắn và xảy ra muộn (từ tháng 9 đến tháng 12) với lượng nước rất lớn với đạt
tới 2.315 m3/s, chiếm 70,7% lưu lượng nước cả năm. Tháng đỉnh lũ là tháng 11
với lưu lượng trung bình đạt 935 m3/s chiếm 28,6% tổng lượng nước cả năm.
Mùa cạn diễn ra từ tháng 1 đến tháng 8 với lưu lượng nước chỉ đạt 958 m3/s,
chiếm 29,3% lượng nước cả năm. Tháng kiệt nhất là tháng 4, lưu lượng nước chỉ
đạt 45 m3/s (chỉ bằng 1,37 % cả năm), điều đó cho thấy mùa khô ở đây rất khắc
nghiệt.
- Đặc điểm lũ lên nhanh, rút nhanh, đỉnh lũ tương đối cao do sông có
nhiều phụ lưu, phần hạ lưu có cửa sông rất rộng.
- Về lượng phù sa cũng giống như các sông khác thuộc khu vực Trung
Bộ, sông Ba không nhiều phù sa do độ dốc lòng sông lớn. Mùa cạn hầu hết lòng
sông bị cát lấp đầy, khô nước.
- Giá trị kinh tế của sông: do chảy trên miền địa hình dốc nên tổng giá trị
về thủy điện (nhà máy thủy điện sông Hinh có công suất dưới 1.000 MW đã
được xây dựng). Ngoài ra sông cũng góp phần bồi đắp nên đồng bằng Tuy Hòa
(Phú Yên).
Câu 11. Cho bảng số liệu:
LƯỢNG MƯA VÀ LƯU LƯỢNG NƯỚC THEO CÁC THÁNG TRONG NĂM CỦA
LƯU VỰC SÔNG HỒNG (TRẠM YSƠN TÂY)
Tháng
1
2
3
222
262,8
315,7
335,2
271,9
170,1
59,9
17,8
Lưu lượng
(m3/s)
1318
1100
914
1071
1893
4692
2. Nêu giá trị kinh tế của các dòng chảy sông trên lãnh thổ Việt Nam.
TRẢ LỜI
1. Các nhân tố tạo nên sự phân hóa của sông ngòi Việt Nam
Sự phân hóa sông ngòi là kết quả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố:
cấu trúc địa chất - địa hình, khí hậu, thực vật, hồ đầm:
- Địa hình ảnh hưởng đến dòng chảy sông ngòi thông qua nhiều yếu tố
như hướng, độ dốc, đặc điểm hình thái:
+ Điạ hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ nên sông ngòi nước ta
phần lớn chảy qua địa hình miền núi.
+ Theo hướng cấu trúc địa hình, sông ngòi nước ta có hướng chính là
Tây Bắc - Đông Nam và hướng vòng cung.
+ Địa hình nước ta là địa hình già được trẻ lại nên trên cùng một dòng
sông có khúc chảy êm đềm, có khúc nhiều thác ghềnh sông đào
lòng dữ dội (lấy ví dụ sông chảy trên cao nguyên xếp tầng như sông
Đa Đưng và sông Đa Nhim). Trong vùng núi có cả các sông trẻ
đang đào lòng dữ dội, thung lũng hẹp đồng thời có cả các thung
lũng có bãi bồi, thềm đất.
+ Địa hình có sự tương phản giữa đồng bằng và miền núi nên dòng
chảy sông ngòi có sự thay đổi đột ngột khi chảy từ thượng lưu
xuống hạ lưu.
- Địa chất: tính chất thấm nước của nham thạch, của lớp vỏ phong hóa,
tính chất dễ hòa tan của đá vôi có ảnh hưởng đến hình thái lưu vực và đặc điểm
thủy chế của sông.
+ Sông chảy qua vùng đá diệp thạch thường có thung lũng sông rộng,
thoải và đối xứng còn khi chảy qua vùng đá kết tinh thì thung lũng
hẹp và sâu. Sông tại vùng đá vôi có sườn cao, vách đứng.
+ Sông chảy qua vùng đá rắn thường lắm thác ghềnh. Ví dụ Thác Bà
trên sông Chảy, thác Pông Gua trên sông Đa Nhim.
- Các nhân tố khác như thực vật, hồ đầm có tác dụng điều hòa dòng chảy.
Thủy chế sông Cửu Long điều hòa hơn sông Hồng do tác dụng điều hòa dòng
chảy của Biển Hồ (Campuchia).
2. Giá trị kinh tế của các dòng sông
- Sông ngòi bồi đắp tạo nên các đồng bằng. Đồng bằng sông Hồng, đồng
bằng sông Cửu Long là 2 đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta do phù sa sông
Hồng và phù sa sông Cửu Long bồi đắp/ Đây đồng thời cũng là 2 vùng trọng
điểm sản xuất lương thực, thực phẩm, nơi tập trung dân cư đông đúc nhất cả
nước.
- Sông ngòi dày đặc, nguồn nước phong phú đảm bảo cung cấp nước ngọt
ch sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt là sản xuất lúa nước.
- Sông ngòi có giá trị thủy lợi lớn như tưới nước vào mùa khô, tiêu nước
trong mùa mưa cho các đồng bằng. Kết hợp với mạng lưới kênh rạch, sông ngòi
còn có tác dụng thau chua rửa mặn ở đồng bằng sông Cửu Long.
- Với nguồn lợi thủy sản phong phú, sông ngòi tạo điều kiện cho ngành
đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nước ngọt phát triển mạnh.
- Ngoài ra ở các vùng đồng bằng lớn, sông ngòi còn rất có giá trị về giao
thông (hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình tỏa đi khắp đồng bằng
sông Hồng, song Tiền, sông Hậu và mạng lưới kênh rạch chằng chịt tỏa đi khắp
Đồng bằng sông Cửu Long).
- Ở miền núi sông ngòi có giá trị về thủy điện, lớn nhất là hệ thống sông
Hồng và hệ thống sông Đồng Nai.
Tuy nhiên, sự phân mùa sâu sắc của chế độ nước sông cũng gây khó khăn
lớn cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt (hiện tượng lũ lụt trong mùa lũ, hiện
tượng thiếu nước trong mùa khô).
KẾT LUẬN
I. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẠT ĐƯỢC