LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội NSNN
đã trở thành công cụ điều chỉnh vĩ mô cực kỳ quan trọng. Muốn
sử dụng tốt công cụ này phải đổi mới nội dung của nó. Đổi mới
NSNN không chỉ liên quan tới việc hoạt động thu chi Nhà nước
mà còn gắn liền với việc đổi mới cơ chế cung cấp ngân sách các
cơ cấu cân đối ngân sách và đổi mới quy trình ngân sách. Những
vấn đề trên có liên quan chặt chẽ với nhau, đòi hỏi phải đổi mới
đồng bộ và nhất quán. Với Luật NSNN Bộ Luật đầu tiên về ngân
sách ngân sách của nước ta được Quốc Hội nước cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/3/1996 nền tài chính Nhà
nước đã có một bước tiến mới. Điểm nổi bật trong Luật NSNN là
xác định một cơ chế mới trong công tác chấp hành ngân sách trên
cơ sở kế thừa những ưu điểm của cơ chế cũ và đổi mới những
điểm bất cập cho phù hợp với tình hình mới. Sau năm năm thực
hiện Luật NSNN trên địa bàn cả nước những cơ chế mới đó có
phát huy được tính tích cực hay không những điểm nào vẫn chưa
phù hợp với thực tế, những nguyên nhân và hướng khắc phục - đó
là những vấn đề mà em muốn đề cập tới trong Luận Văn tốt
nghiệp này với đề tài :
"Một số vấn đề về công tác chấp hành ngân sách Nhà
nước trên địa bàn cả nước sau năm năm thực hiện Luật
NSNN ".
Để hoàn thành bản Luận Văn này em đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của Thầy giáo Phạm Văn Khoan cùng các cô chú
trong Phòng Quản lý ngân sách -Vụ ngân sách - Bộ Tài chính.
Tuy nhiên do điều kiện có hạn nên bản Luận Văn này không thể
tránh khỏi những khiếm khuyết rất mong được sự tham gia góp ý
của các thầy, cô và những người quan tâm đến vấn đề này
bảng tường trình mô tả những hàng hoá dịch vụ mà chính phủ
sẽ mua trong năm tới , những thanh toán chuyển nhượng mà
chính phủ sẽ thực hiện và cách thức chính phủ tài trợ cho
những khoản đó .Từ những cách lý giải như vậy ta có thể rút ra
một số đIểm đặc trưng của NSNN như sau:
+Thứ nhất : NSNN là một bảng liệt kê trong đó dự kiến và
cho phép thực hiện các khoản thu , chi bằng tiền của nhà nước.
+Thứ hai : NSNN là tồn tại trong khoảng thời gian nhất định
thường là một năm.
Ở nước ta luật ngân sách được quốc hội thông qua ngày
20/3/1996 trong đó điều một qui định : “NSNN là toàn bộ các
khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà
nước”.
Các quan niệm trên đây đều đã nêu ra được mặt vật chất của
NSNN, đã tách ra được những thuộc tính làm cho người ta
không nhầm lẫn giữa khái niệm NSNN với khái niệm khác .Đó
là nếu chỉ nhìn bề ngoài thì các biểu hiện của NSNN rất đa
dạng phong phú, nó là bảng tổng hợp mọi khoản thu, chi Tài
chính nhà nước; là sự động viên các nguồn tài chính nhà nước
vào trong tay Nhà nước dưới hình thức thuế ,phí ,lệ phí.Nó là
khoản chi tiêu của Nhà nước cho nhu cầu an ninh, quốc
phòng ,giáo dục , y tế
Trong qúa trình nhận thức về NSNN, ngoài việc xem xét
các khái niệm, chúng ta cần nghiên cứu thêm một số vấn đề
năng quản lý , điều hành nền kinh tế xã hội của nhà nước.
-Thứ hai :Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân
phối các nguồn tài chính , vì vậy nó thể hiện các mối quan
hệ trong phân phối .Đó là quan hệ giữa một bên là nhà nước
và một bên là các chủ thể khác trong xã hội ( bao gồm các tổ
chức kinh tế trong xã hội ,các tầng lớp nhân dân )
Từ những phân tích trên có thể đi tới kết luận :
-NSNN hoạt động trong các lĩnh vực phân phối các nguồn
tài chính và vì vậy nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích
kinh tế giữa nhà nước và xã hội.
-Quyền lực về NSNN thuộc về nhà nước.Mọi khoản thu và
chi tài chính của nhà nước đều do Nhà nước quyết định và
nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng
của Nhà nước.
Những nội dung trên là những mặt những mối liên hệ
quyết định đến sự phát sinh, phát triển của NSNN. Do đó có
thể đi đến kết luận về bản chất của NSNN như sau:
NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và
xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng
các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức
năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình.
1.1.3Chức năng của NSNN
-Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu
theo dự toán của nhà nước.
Khi nhà nước ra đời cần phải có các nguồn tài chính để chi tiêu
cho mục đích bảo vệ sự tồn tại ngày càng vững chắc của mình,
đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý của nhà nước, cho cảnh
sát và quân đội.Tiếp đến là các nhu cầu chi khác nhằm thực hiện
đoạn , phân hoá giàu nghèo. . . chính vì vậy vai trò của nhà nước
trong quản lý kinh tế xã hội ngày càng trở nên quan trọng .Song
nhà nước chỉ có thể điều chỉnh thành công khi có các nguồn tài
chính bảo đảm, tức là sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ
NSNN.Có thể khái quát vai trò của NSNN trong lĩnh vực kinh
tế ,xã hội , thị trường như sau :
-Về mặt kinh tế
NSNN cung cấp nguồn kinh phí để nhà nước đầu tư xây dựng
cơ sở kết cấu hạ tầng , hình thành các doanh nghiệp thuộc các
ngành then chốt, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển
của các thành phần kinh tế khác.
NSNN được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp trong những trường hợp cần thiết, đảm bảo cho sự ổn
định về cơ cấu hoặc chuyển sang cơ chế mới hợp lý hơn.
Bên cạnh đó , việc sử dụng NSNN thông qua các nguồn hình
thành của nó cũng có ý nghĩa rất lớn.Các khoản thuế và chính
sách thuế sẽ đảm bảo vai trò định hướng đầu tư , kích thích hoặc
hạn chế sản xuất kinh doanh.
+ Về mặt xã hội :
Việc sử dụng NSNN cũng quyết định tới sự thành công trong
việc thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước.Để giải quyết
các vấn đề xã hội ,Nhà nước cũng sử dụng công cụ thuế, chẳng
hạn thuế thu nhập và thuế lợi tức có vai trò quan trọng nhằm điều
tiết thu nhập cao, phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập
thấp.Các loại thuế gián thu ngoài mục đích trên còn có tác dụng
hướng dẫn người tiêu dùng hợp lý.Tuy nhiên trong nhiều trường
1.2Thu ngân sách nhà nước:
1.2.1Khái niệm thu ngân sách nhà nước :
Thu NSNN là quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị,
kinh tế, ngoại giao để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới
hình thức tiền tệ về tay mình, hình thành nên quĩ tiền tệ tập
trung của Nhà nước (quĩ NSNN)
Như vậy , thu của NSNN là toàn bộ các khoản thu được tập trung
vào trong tay Nhà nước , bao gồm các khoản thu từ thuế , phí lệ
phí:các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước; các
đóng góp của các tổ chức ; các khoản viện trợ ; các khoản thu
khác theo qui định của pháp luật.
Xét về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân
phối nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia vào tay mình .Đó chính
là các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể
kinh tế khác trong xã hội.
Quá trình thu NSNN bao gồm nhiều hành vi , hành động khác
nhau như đề ra chủ trương , phương hướng thu ngân sách, ban
hành chế độ luật lệ cụ thể về thu ngân sách,tổ chức và cơ chế tiến
hành thu ngân sách.
1.2.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước:
Thu NSNN có một số đặc điểm chủ yếu như sau:
Thu của NSNN được lấy từ nhiều nguồn khác nhau,cả trong
nước và ngoài nước; cả sản xuất lưu thông , phân phối ,tiêu dùng
nhưng chủ yếu vẫn là từ thu nhập quốc dân.Tăng thu nhập quốc
dân là cơ sở để tăng thu ngân sách và tăng thu ngân sách cũng
phảI có những tác động để tăng thu nhập quốc dân.Thu NSNN
được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng trong đó
xuất
Những khoản thu được hình thành ở khâu lưu thông.
Những khoản thu được huy động từ các hoạt động dịch vụ.
+ Thu ngoài nước bao gồm:
Các khoản Nhà nước đi vay (bao gồm vay ưu đãi và vay
thương mại)
Các khoản viện trợ không hoàn lại.
- Căn cứ vào tính chất phát sinh các khoản thu: thu NSNN có 2
loại là
+ Thu thường xuyên: thuế, phí, lệ phí.
+ Thu không thường xuyên: vay nợ, viện trợ, tiền bán tài sản
của Nhà nước.
- Căn cứ vào ngành kinh tế thì thu NSNN có thể chia ra thu từ
công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, giao thông vận tải.
- Căn cứ theo thành phần kinh tế có:
+ Thu từ khu vực kinh tế Nhà nước.
+ Thu từ khu vực kinh tế tư nhân.
- Căn cứ vào nội dung kinh tế có:
+ Các khoản thu mới.
+ Các khoản thu hồi.
- Căn cứ theo hình thức biểu hiện có:
+ Nguồn thu trực tiếp tồn tại dưới hình thức tiền tệ.
+ Nguồn thu tiềm năng: chưa biểu hiện dưới dạng tiền tệ nhưng
có khả năng chuyển hoá thành tiền như tài nguyên, khoáng sản.
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý điều hành ngân sách thì các khoản
thu NSNN được chia làm 2 loại:
+ Thu trong cân đối ngân sách: khoản thu này tương đối ổn
định và mang tính chất thường xuyên, có cơ sở ổn định vững
để hình thành nên một số quỹ trung gian trước khi đi vào sử dụng.
Còn quá trình sử dụng là quá trình chi dùng trực tiếp từ NSNN
hoặc quỹ trung gian, không trải qua việc hình thành một quỹ trung
gian nào khác.
1.3.2Đặc điểm chi NSNN.
- Chi NSNN nhằm duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thưòng
của bộ máy Nhà nước, nó gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Nhà nước càng thực
hiện nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi của NSNN
ngày càng lớn, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội và
mức độ ảnh hưởng của chúng thường được xem xét trên tầm vĩ
mô.
- Từ đặc điểm trên ta thấy cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà
nước là cơ quan duy nhất quyết định nội dung, cơ cấu, mức độ
chi của NSNN. ở nước ta, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà
nước là Quốc hội, Quốc hội thông qua các Luật, sửa đổi các
Luật trong lĩnh vực NSNN, quyêt định tới chính sách tài chính
tiền tệ của Nhà nước, giám sát thực hiện NSNN.
- Phần lớn các khoản chi của NSNN mang tính chất không hoàn
trả trực tiếp, có nghĩa là không phải chi ra là để trả lại các
khoản thu trước đây của những địa chỉ cụ thể. Tuy vậy chi
NSNN cũng có những khoản mang tính chất hoàn trả trực tiếp
như chi trả nợ gốc tiền vay.
Chi của NSNN vừa mang tính chất ngang giá vừa mang tính
chất không ngang giá, ví dụ chi để mua hàng hoá dịch vụ, thiết bị
là những khoản chi mang tính chất ngang giá. Còn chi trợ cấp, trợ
giá, bảo hiểm xã hội là những khoản chi có tính chất không ngang
giá.
thường xuyên để phục vụ cho tiêu dùng trong hiện tại. Bao
gồm chi cho tiêu dùng cá nhân và chi tiêu dùng cho các đơn
vị dự toán ngân sách trong đó chủ yếu là các khoản chi
lương, trợ cấp, chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ, chi chuyển
giao thường xuyên.Các khoản chi thường xuyên chỉ được
phép lấy từ thu trong cân đối ngân sách.
+ Chi đầu tư: là những khoản chi cho tiêu dùng trong tương
lai, mang tính chất tích luỹ. Nó có tác dụng làm tăng cơ sở
vật chất quốc gia và góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế.
Chi đầu tư bao gồm chi cho xây dựng các công trình kiến
trúc thuộc cơ sở hạ tầng, chi chuyển giao công nghệ, chi để
góp vốn vào các đơn vị sản xuất kinh doanh, chi để hình
thành quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển
đối với các chương trình dự án phát triển kinh tế.
- Căn cứ vào chức năng quản lý thì chi NSNN chia thành:
+ Chi nghiệp vụ: là những khoản chi lương, tiền công, trả
nợ, chi hỗ trợ, chi chuyển giao, hưu trí, thâm niên.
Chi phát triển: chi dịch vụ, kinh tế, chi an ninh quốc phòng
và các khoản chi dịch vụ xã hội, chi quản lý hành chính.
ở nước ta, việc phân loại các khoản thu, chi NSNN được quy
định trong hệ thống Mục lục NSNN (ban hành theo quyết định số
1280/TC QĐ/NSNN ngày 15/04/1997 của Bộ Tài Chính).
1.4. Tác động của luật NSNN đối với công tác chấp hành ngân
sách
1.4.1Khái quát Luật NSNN
Sau 5 năm dày công chuẩn bị tiếp thu ý kiến của các Bộ,
ngành, địa phương, các thành viên của Chính phủ, các chuyên gia
trong và ngoài nước, Luật NSNN đã được Quốc hội nước
Ngoài cơ quan giao ngân sách không một tổ chức hoặc cá
nhân nào được thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã được phân bổ.
Việc phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng
ngân sách phải kết thúc trước ngày 31/12 năm trước.
- Về công tác thu ngân sách:
Chỉ cơ quan thu mới được tổ chức thu ngân sách, bao gồm các cơ
quan
+ Cơ quan Thuế
+ Cơ quan Hải quan
+ Cơ quan Tài chính và cơ quan khác được Chính phủ và Bộ
Tài chính uỷ quyền.
Việc nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các
khoản thu khác vào NSNN theo quy định của pháp luật là nghĩa
vụ của các tổ chức, cá nhân kể cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài
hoạt động trên lãnh thổ nước CHXHCN Viet nam. Trường hợp
các tổ chức, cá nhân cố tình nộp chậm, nộp thiếu, không nộp đều
bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Toàn bộ các khoản thu của NSNN phải nộp trực tiếp vào
Kho bạc nhà nước. Đối với một số khoản thu ở các hộ kinh doanh
không cố định, thu ngân sách ở địa bàn xã vì lý do khách quan mà
việc nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước có khó khăn thì cơ quan
thu có thể thu trực tiếp, song phải nộp vào Kho bạc Nhà nước theo
quy định của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.
- Về công tác chi NSNN:
Chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
+ Đã có trong dự toán NSNN được duyệt
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước
Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế năm 2001
Chỉ tiêu
Thực
Mục tiêu Thực
hiện
2001
hiện
2000
- Tốc độ tăng trởng kinh tế 6,7%
7,5%
2001
6,8%
GDP
- GTTSL nông nghiệp
4,9%
- GTTSL công nghiệp
15,5%
- Tốc độ tăng giá trị ngành 5,5%
4,5%
14,0%
Tuy không đạt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch đầu
năm đề ra, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt nam năm
2001 vẫn ở mức cao và ổn định, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình
quân chung của các nước trong khu vực. Theo đánh giá của Ngân
hàng thế giới tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2001 của toàn bộ nền
kinh tế thế giới là 1,3% - thấp hơn mức 3,8% của năm 2000; trong
đó các nước trong khu vực: Thailand 1,2%; Hàn quốc 2,5%;
Trung quốc 7,2%; Indonesia 3,6%; Philippine 1,3%; Singapore
-2,3%; Malaysia 2,5%.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt nam đạt 6,8% là một cố
gắng lớn; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực
(Năm 2001: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 0,6%; công
nghiệp và xây dựng 3,7%; dịch vụ 2,5%. Năm 2000: khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 1,0%; khu vực công nghiệp và xây
dựng 3,4%; dịch vụ 2,3%).
Sau năm năm thực hiện luật Ngân sách từ 1997 đến năm 2001
ta thấy : Luật ngân sách nhà nước ra đời và có hiệu lực thi hành từ
năm ngân sách 1997.Sau năm năm tổ chức thực hiện Luật , việc
qủan lý và điều hành ngân sách nhà nước đã có nhiều tiến bộ , góp
phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội , tăng cường
khả năng và tiềm lực tài chính của đất nước ; thực hiện quản lý