MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Lượng chất thải của một số loài gia súc gia cầm.....................................6
Bảng 2.2. Thành phần của phân lợn từ 70-100kg...................................................7
Bảng 2.3. Thành phần hóa học của nước tiểu lợn từ 70- 100 kg..............................8
Bảng 2.4: Các tác nhân gây bệnh thường có trong phân........................................12
Bảng 2.5. Các loại chế phẩm khử mùi hôi trong chăn nuôi...................................16
Bảng 2.6. Hiệu quả xử lý phân của hệ thống Biogas............................................18
Bảng 4.1: Nhiệt độ của 2 lô thí nghiệm (Trấu/ mùn cưa và phân lợn)....................44
Bảng 4.2: Kết quả phân tích số liệu nhiệt độ của 2 lô thí nghiệm...........................46
Bảng 4.3: Các tác nhân gây bệnh thường có trong phân........................................47
Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố................................................48
Bảng 4.5. Bảng phân tích phương trình hồi quy tuyến tính lô 1.............................49
Bảng 4.6. Bảng phân tích phương trình hồi quy tuyến tính lô 2.............................51
Bảng 4.7: Độ ẩm mẫu nguyên liệu ban đầu..........................................................53
Bảng 4.8. Độ ẩm của các đống ủ theo thời gian....................................................53
Bảng 4.9: Lượng nước bổ sung ở 2 lần đảo..........................................................54
Bảng 4.10: Đặc tính lý hóa của nguyên liệu compost............................................56
Bảng 4.11: Đặc tính lý hóa của sản phẩm compost sau 14 ngày ủ.........................56
Bảng 4.12: Đặc tính lý hóa của sản phẩm compost sau 30 ngày ủ.........................57
Bảng 4.13: Đặc tính vi sinh vật của nguyên liệu compost.....................................59
Bảng 4.14: Đặc tính VSV của sản phẩm compost sau 30 ngày..............................60
Bảng 4.15: Sự biến thiên nhiệt độ bên trong lô thí nghiệm....................................64
HÌNH MINH HỌA
Hình 2.1. Mô hình ủ phân xanh...........................................................................19
Hình 2.2. Các pha nhiệt của quá trình Compost....................................................24
Hình 3.1: Hình ảnh các lô thí nghiệm..................................................................32
cụ thể hơn là từ phân lợn và bước đầu ứng dụng xử lý xác cá chết do ô
nhiễm môi trường tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại xuyên- Phú xuyên- Hà
nội. Theo báo cáo của Cục Thống kê Việt Nam thì tính tới thời điểm
1/4/2010 thì số đầu lợn của cả nước là 27.3 triệu con, tăng 3.06% so với
cùng kỳ năm 2009 và ước tính đến năm 2011 sẽ đạt 28 triệu con đồng thời
tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Như vậy sẽ có một lượng lớn phân
lợn sẽ được thải ra và nếu không có biện pháp xử lý kịp thời thì nó sẽ là mối
nguy lớn đối với môi trường đồng thời nó có thể làm lây lan phát tán mầm
bệnh từ lợn sang các vật nuôi, động vật và từ lợn sang người. Trước đây
chúng ta vẫn quen với các phương pháp ủ phân yếm khí truyền thống như: ủ
phân xanh, Biogas… Mặc dù có những thuận lợi nhất định trong việc áp
dụng những phương pháp này nhưng vẫn còn những hạn chế đáng kể như:
hiệu quả của phương pháp chưa thực sự cao, khó khăn khi áp dụng trong sản
xuất đại trà hoặc các mô hình xử lý lượng chất thải lớn. Trong những năm
gần đây phương pháp ủ phân compost hiếu khí đã được du nhập vào Việt
Nam. Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp xử lý này còn hạn chế ở mặt quy
mô và phạm vi. Nhằm tìm hiểu thêm các bằng chứng và cơ sở khoa học,
cũng như khả năng áp dụng trong điều kiện sản xuất của Việt Nam, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: ''Nghiên cứu thử nghiệm ủ phân lợn bằng
phương pháp compost hiếu khí và bước đầu ứng dụng xử lý xác cá tại Trung
tâm Nghiên cứu Vịt Đại xuyên- Phú xuyên- Hà nội”.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm hiểu các cơ sở khoa học của phương pháp compost hiếu khí
- Đánh giá tác dụng tiêu diệt các tác nhân gây bệnh cho người cũng
như động vật của phương pháp compost
- Đánh gía giá trị dinh dưỡng của sản phẩm compost hiếu khí
- Đánh giá hiệu quả của phương pháp compost trong việc phòng
Lơn 45-100 kg
Lượng phân
Lượng nước tiểu
(kg/ ngày)
20 – 25
0,5 – 1
1–3
3–5
(kg/ngày)
10 – 15
0,3 – 0,7
0,7 – 2
2–4
Gia cầm
0,08
( Nguồn: Nguyễn Thị Hoa Lý (1994). Trích: Phạm Trung Thủy (2002)
Phân lợn nói chung được xếp vào loại phân lỏng hoặc hơi lỏng, thành
phần chủ yếu gồm nước (56- 83 %) và các chất hữu cơ, ngoài ra còn có tỷ lệ
NPK dưới dạng các hợp chất vô cơ. Theo Trương Thanh Cảnh và cộng sự
(1997-1998) thì thành phần của phân lợn từ 70- 100kg như sau:
Bảng 2.2. Thành phần của phân lợn từ 70-100kg
Đặc tính
Đơn vị tính
Gía trị
Thành phần hóa học của phân lợn được trình bày trong bảng 2.3
Về mặt hóa học, những chất trong phân chuồng có thể được chia làm
hai nhóm:
-
Hợp chất chứa nito ở dạng hòa tan và không hòa tan.
-
Hợp chất không chứa nito bao gồm: Hydratcarbon,lignin, lipid…
Tỷ lệ C/N có vai trò quyết định đối với quá trình phân giải và tốc độ
phân giải các hợp chất hữu cơ có trong phân chuồng.
Nước tiểu của lợn có thành phần chủ yếu là nước (chiếm 90% khối
lượng nước tiểu), ngoài ra còn có hàm lượng nito khá cao có thể dùng để bổ
sung đạm cho đất và cây trồng. Theo Trương Thanh Cảnh và cộng sự (19971998) thành phần hóa học của nước tiểu lợn gồm có các chất sau:
Bảng 2.3. Thành phần hóa học của nước tiểu lợn từ 70- 100 kg
STT Thành phần
Giá trị
1
Vật chất khô (gram/kg)
30,9 – 35,9
2
NH3 – N (Ammonia-nito)(gram/kg)
0,13 – 0,40
3
Nt (Nito tổng số)(gram/kg)
4,90 – 6,63
4
Trong các loại chất thải của chăn nuôi, chất thải lỏng là loại chất thải
có khối lượng lớn nhất. Đặc biệt khi lượng nước thải rửa chuồng được hòa
chung với nước tiểu của gia súc và nước tắm gia súc. Đây cũng là loại chất
thải khó quản lý, khó sử dụng. Mặt khác, nước thải chăn nuôi có ảnh hưởng
rất lớn đến môi trường nhưng người chăn nuôi ít để ý đến việc xử lý nó do
việc thải loại chất thải này ra môi trường là tương đối dễ dàng so với chất
thải rắn.
Theo Menzi (2001) gia súc thải ra từ 70- 90 % lượng N, khoáng (P, K,
Mg) và kim loại nặng, chất này được thải ra môi trường nước hay tồn tại
trong đất sẽ gây nhiều ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Chất thải lỏng còn chứa rất nhiều loài vi sinh vật và trứng ký sinh
trùng, làm lây lan dịch bệnh cho người và gia súc, những vi sinh vật làm
mầm bệnh trong chất thải chăn nuôi thường bao gồm: E.coli (0157:H7),
Campylobacter jejuni, Salmonella spp, Leptospira spp, Listeria spp,
Shigella spp, Proteus, Klebsiella…Các nghiên cứu của Xoxibarovi và
Alexandrenis (1978) cho thấy trong 1 kg phân có thể chứa 2100- 5000 trứng
giun sán gồm chủ yếu các loại sau: Ascaris suum, Oesophagostomum,
Trichocephalus.
2.1.3. Chất thải khí và mùi hôi
Mùi hôi chuồng nuôi là hỗn hợp khí được tạo ra bởi quá trình phân
hủy kỵ khí và hiếu khí của các chất thải chăn nuôi, quá trình thối rữa các
chất hữu cơ trong phân, nước tiểu gia súc hay thức ăn dư thừa sẽ sinh ra các
khí độc hại các khí có mùi hôi thối khó chịu. Cường độ của mùi hôi phụ
thuộc vào điều kiện mật độ của vật nuôi cao, sự thông thoáng kém, nhiệt độ
và ẩm độ không khí cao.
Thành phần các khí trong chuồng nuôi biến đổi tùy theo giai đoạn
phân hủy chất hữu cơ, tùy theo thành phần của thức ăn, hệ thống vi sinh vật
và tình trạng sức khỏe của thú. Các khí này có mặt thường xuyên và gây ô
nước có màu đen có vàng, là nguyên nhân làm gia tăng bệnh đường hô hấp
tim mạch ở người và động vật.
2.2.2. Ô nhiễm đất
Chất thải chăn nuôi khi không được xử lý mang đi sử dụng cho trồng
trọt như tưới, bón cho cây, rau, củ, quả, dùng làm thức ăn cho người và động
vật là không hợp lý. Nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng tồn tại của mầm
bệnh trong đất, cây cỏ có thể gây bệnh cho người và gia súc, đặc biệt là các
bệnh về đường ruột như: thương hàn, phó thương hàn, viêm gan, giun đũa,
sán lá…
Khi dùng nước thải chưa xử lý người ta thấy rằng có Salmonella trong
đất ở độ sâu 50cm và tồn tại được 2 năm, trứng ký sinh trùng cũng tồn tại
khoảng 2 năm. Mẫu cỏ sau 3 tuần ngưng tưới nước thải có 84% trường hợp
có Salmonella và vi trùng đường ruột khác, phân tươi cho vào đất có E.coli
tồn tại được 62 ngày ngoài ra khoáng và kim loại nặng bị giữ lại trong đất
với liều lượng lớn có thể gây ngộ độc cho cây trồng.
2.2.3. Ô nhiễm nguồn nước
Khi chất thải chăn nuôi không được xử lý đúng cách thải vào môi
trường quá lớn làm gia tăng hàm lượng chất hữu cơ, vô cơ trong nước, làm
giảm quá mức lượng Oxy hòa tan, làm giảm chất lượng nước mặt ảnh hưởng
đến hệ vi sinh vật nước, là nguyên nhân tạo nên dòng nước chết (nước đen,
hôi thối, sinh vật không thể tồn tại) ảnh hưởng đến sức khỏe con người,
động vật và môi trường sinh thái. Hai chất dinh dưỡng trong nước thải dễ
gây nên vấn đề ô nhiễm nguồn nước đó là nito (nhất là nitrat) và photpho.
Trong nước thải chăn nuôi chứa một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh và
trứng ký sinh trùng. Thời gian tồn tại của chúng trong nước thải khá lâu tùy
thuộc vào loại vi sinh vật. Những vi sinh vật tồn tại trong nước thải là nguồn
truyền bệnh dịch rất nguy hiểm cho cả vật nuôi và con người.
2.3. Các tác nhân gây bệnh thường có trong phân
gây Điều kiện bị diệt
T (oC) T.gian( phút)
Ký sinh
105/100ml
102/100ml
-
bệnh
Thương hàn
Phó T.Hàn
Lỵ
Tả
Viêm dạ dày ruột
Viêm gan
Sán
Ung nhọt
Viêm có mủ
Giun đũa
Lao
Bạch hầu
Sởi
Bại Liệt
Tiêu chảy
Giun tóc
55
55
55
55
Nguồn: Lê Trình. Trích Phạm Trung Thủy (2002)
Đặc tính của Coliform, Coliform phân và Ecoli
Coliform là nhóm vi khuẩn có khả năng lên men lactose sinh hơi
trong
Khoảng thời gian 24 giờ khi được ủ ở 37oC trong môi trường EC.
Coliform phân (Faeceal Coliform hay E.coli giả định) là Coliform có
khả năng sinh Indol khi được ủ khoảng 24h ở 44.5 oC trong canh Trypton.
Coliform phân là một thành phần của hệ vi sinh đường ruột ở người và các
động vật máu nóng khác và được sử dụng để chỉ thị mức độ vệ sinh trong
quá trình chế biến, bảo quản, vận chuyển thực phẩm, nước uống cũng như để
chỉ thị sự ô nhiễm trong mẫu môi trường.
E.coli và Coliform phân cho kết quả thử nghiệm IMVic là ++-(Indol+, Methyl Red +, Voges-Poroskauer-, Citrate-) sinh ánh kim trên môi
trường EMB hoặc Endo.
2.4. Một số phương pháp quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
Quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi là việc làm rất cần thiết nhằm
hạn chế ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh. Chất thải chăn nuôi đặc
biệt là phân và nước tiểu gia súc ngay sau khi được thải ra khỏi cơ thể thì
khả năng ô nhiễm còn thấp, khả năng này chỉ tăng khi phân và nước tiểu gia
súc được để lâu trong môi trường bên ngoài. Do đó để giải quyết kịp thời
khả năng ô nhiễm thì chúng ta cần phải quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
ngay từ lúc mới thải ra môi trường bằng một số biện pháp như: Thu gom,
vận chuyển, lưu trữ, xử lý.
Việc xử lý nước thải chăn nuôi chấp nhận được trong điều kiện chăn
nuôi tự phát hiện nay do khoảng thời gian giữa khu chăn nuôi và khu dân cư
càng bị thu hẹp thì một hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi phải được thiết kế
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và phải có thiết bị sử dụng phế thải dạng rắn và
lỏng ở công đoạn cuối cùng sau khi được thải vào môi trường tùy theo điều
2.4.3. Sử dụng chế phẩm sinh học
Sự hình thành khí chuồng nuôi chủ yếu trong quá trình thối rữa
của phân do các vi sinh vật gây thối, quá trình này ngoài NH 3 và H 2 S
còn có một số khí trung gian được hình thành góp phần vào việc tạo
mùi hôi cho chuồng nuôi. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều chế
phẩm để khử mùi hôi trong chăn nuôi, càng ngày các chế phẩm vi sinh
được sử dụng nhiều trong chăn nuôi vì nó khá thân thiện với môi
trường.
Bảng 2.5. Các loại chế phẩm khử mùi hôi trong chăn nuôi
TT
1
2
3
Tên sản
phẩm
Deodrase
Desarsaponi
30
EM
Bản chất sản phẩm
Tác dụng
Chất trích từ cây Yucca
Tế bào nấm men Saccharomyces
8
Lavedoe
Hóa chất
9
Manure
management
nhiên
Xuất xứ
Tăng hấp thu thức ăn, giảm
bài tiết dưỡng chất
Giảm sainh NH3, H2S, SO2
giải độc trong ống tiêu hóa
Tăng hấp thu thức ăn, giảm
bài tiết dưỡng chất
Giảm khả năng sinh NH3
Tăng hấp thu thức ăn, giảm
bài tiết dưỡng chất
Diệt dòi phân
Thái Lan,
Đức
các loại khí H2S, SO2, NH3…) nên khi phun EM vào rác thải, cống rãnh,
toilet, chuồng trại chăn nuôi… sẽ khử mùi hôi một cách nhanh chóng. Đồng
thời số lượng ruồi, muỗi, ve, các loại côn trùng bay khác giảm hẳn số lượng.
Rác hữu cơ được xử lý EM chỉ sau một ngày có thể hết mùi hôi và tốc độ
mùn hóa diễn ra rất nhanh. Trong các kho bảo quản nông sản, sử dụng EM
có tác dụng ngăn chặn được quá trình gây thối, mốc. Các nghiên cứu cho
thấy chế phẩm EM có thể giúp cho hệ vi sinh vật tiết ra các Enzyme phân
hủy như lignin peroxidase. Các Enzyme này có khả năng phân hủy các hóa
chất nông nghiệp tồn dư, thậm chí cả dioxin. Ở Belarus, việc sử dụng EM
liên tục có thể loại trừ ô nhiễm phóng xạ.
Công thức EM áp dụng cho một khối phân: 0,5 lit EM (nguyên
chất) + 0,5 lít rỉ mật đường.
2.4.4. Xử lý bằng hệ thống Biogas.
Nhằm xử lý tốt nguồn nước thải trong chăn nuôi, cung cấp nước tưới
sạch và phân bón tốt cho trồng trọt bên cạnh đó tận dụng nguồn khí Metan
làm khí đốt cho gia đình, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho nhà nông.
Giới thiệu về Biogas
Ở Việt Nam đến cuối thập niên 70 thì khí sinh học mới được chú ý, do
tình hình thiếu hụt năng lượng và xu hướng đi tìm nguồn năng lượng mới,
trong đó có sự phát triển khí sinh học từ hầm ủ được đặc biệt chú ý. Tuy
nhiên những năm gần đây túi ủ khí làm bằng nilon mới thực sự phát triển và
được áp dụng rộng rãi trong cả nước ưu điểm là giá thành rẻ dễ lắp đặt và
phù hợp với mô hình chăn nuôi hộ gia đình. Quá trình sản xuất Biogas là
một loạt quá trình phân hủy các chất hữu cơ phức tạp trong điều kiện môi
trường không có Oxy thành các chất hữu cơ đơn giản hơn dưới tác dụng của
các vi khuẩn kỵ khí.
5,8.103 – 6,6.103
BOD (mg/l)
10,6.103
3,4.103 – 3,9. 103
E.coli (MPN/l)
15,76. 103
12 – 15. 103
Coliform (MPN/l)
18,97. 103
12,3. 103 – 25,74. 103
Streptococcus
54,5. 103
0,31 – 2,7. 103
Trứng ký sinh trùng (trứng/g)
2,750
nhiều công trình nghiên cứu về quá trình ủ Compost và nhiều mô hình công
nghệ ủ Compost quy mô lớn được phát triển trên thế giới.
Tại Việt Nam, Compost vẫn được coi là một phương pháp mới ít
người biết đến và chưa được phổ biến rộng rãi đặc biệt là dùng để xử lý
phân gia súc, gia cầm. Trong thời gian vài năm gần đây đã có một vài nhà
máy và các cơ sở sản xuất đã bước đầu ứng dụng phương pháp này vào xử
lý rác thải trong sản xuất.
Sản phẩm của quá trình Compost là những chất hữu cơ và hệ vi sinh
vật dị dưỡng phong phú, ngoài ra còn chứa các nguyên tố vi lượng có lợi cho
đất và cây trồng. Sản phẩm Compost được sử dụng chủ yếu làm phân bón
hữu cơ trong nông nghiệp hay các mục đích cải tạo đất và cung cấp dinh
dưỡng cây trồng. Ngoài ra, Compost còn được biết đến trong nhiều ứng
dụng, như là các sản phẩm sinh học trong việc xử lý ô nhiễm môi trường,
hay các sản phẩm dinh dưỡng, chữa bệnh cho vật nuôi và cây trồng.
2.4.6.2. Cơ chế của quá trình Compost
2.4.6.2.1. Quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí
Quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ là quá trình sinh hóa
phức tạp tạo ra hàng trăm sản phẩm trung gian và phản ứng trung gian. Tuy
nhiên, phương trình phản ứng sinh hóa trong điều kiện yếm khí có thể biểu
diễn đơn giản như sau:
Tạo khí: CH4, CO2, H2, NH3, H2S
Tế bào mới
Chất hữu cơ
Nhiệt lượng (Q)
VSV yếm khí
Một cách tổng quát, quá trình phân hủy yếm khí xảy ra theo 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thủy phân, cắt mạch các hợp chất cao phân tử
Giai đoạn 2: Acide hóa
thành phần khó bị phân hủy sinh học trong một khoảng thời gian ngắn. Ligin
có nhiều trong giấy in báo, là một hợp chất hữu cơ cao phân tử có trong
thành phần keo liên kết các sợi celluloses của các loại cây lấy gỗ và các loại
thực vật khác.
2.4.6.2.3. Vai trò của vi sinh vật
Các vi sinh vật phụ thuộc vào quá trình hô hấp hiếu khí để đạt được
nhu cầu năng lượng của mình đồng thời nó chỉ tồn tại được trong điều kiện
có Oxy gọi là vi sinh vật hiếu khí. Các vi sinh vật này vận chuyển điện tử
trung gian từ các Enzym của chất cho điện tử sang chất nhận điện tử (Oxy)
tạo ra quá trình hô hấp hiếu khí và sản sinh một nhiệt lượng lớn.
Các vi sinh vật tổng hợp năng lượng bằng cách lên men đồng thời chỉ
tồn tại được trong điều kiện không có Oxy gọi là các vi sinh vật yếm khí.
Nhiệt lượng chúng tạo ra từ quá trình lên men yếm khí thường thấp hơn
nhiều so với quá trình hô hấp hiếu khí.
Các vi sinh vật có thể tồn tại cả trong điều kiện có Oxy và không có
Oxy gọi là vi sinh vật yếm khí tùy tiện. Tùy theo điều kiện sống chúng có
thể chuyển hóa qua lại thành dạng hiếu khí hay yếm khí.
2.4.6.3 Phân loại ủ phân compost.
Dựa theo quá trình phân hủy tự nhiên người ta chia Compost thành hai
loại:
Ủ phân Compost yếm khí
Ủ phân Compost hiếu khí
2.4.6.3.1. Ủ phân Compost yếm khí
Quá trình phân hủy các chất diễn ra trong điều kiện thiếu Oxy hay
lượng Oxy cung cấp bị hạn chế. Ở phương pháp này thì lượng vi sinh vật
yếm khí chiếm ưu thế. Chúng sản sinh ra một lượng lớn các hợp chất trung
gian bao gồm: metan, các axit và các chất khác. Trong tình trạng thiếu Oxy
Pha 2: Pha nhiệt (nhiệt độ ổn định 70oC- 50oC)
Pha 3: Pha nguội (nhiệt độ giảm dần xuống xấp xỉ 40oC).
Pha 4: Pha chín (nhiệt độ ổn định xấp xỉ nhiệt độ môi trường).
Hình 2.2. Các pha nhiệt của quá trình Compost
Sau khi chúng ta tạo đống ủ thì trong nhiều trường hợp nhiệt độ có thể
tăng rất nhanh tới 70- 80oC trong một hai ngày đầu (pha sản nhiệt). Trước
tiên các vi sinh vật trung gian (khoảng chịu nhiệt lý tưởng nhất là 20- 45 oC)
sẽ nhân lên rất nhanh trong điều kiện có đường và amino axit. Chúng chuyển
hóa các chất và tạo ra nhiệt tới điểm nhiệt ức chế hoạt động của chính
chúng. Sau đó thì một số ít nấm chịu nhiệt và vi khuẩn chịu nhiệt (khoảng
chịu nhiệt là 50-70oC) tiếp tục quá trình và đưa nhiệt lên tới 70oC hoặc cao
hơn. Điểm nhiệt cao nhất đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiêu diệt các
tác nhân có hại và phân hủy vật chất.
Sau khi nhiệt độ lên tới đỉnh điểm thì nó bắt đầu giảm xuống dần dần.
Khi nhiệt độ giảm xuống gần 40oC (pha nguội) thì ta tiến hành đảo phân
nhằm cung cấp tiếp Oxy, độ ẩm, và điều chỉnh lại tỉ lệ cacbon và nito để thúc
đẩy nhiệt độ tăng trở lại. Quá trình Compost kết thúc (pha chín) khi sản
phẩm cuối cùng có cấu trúc đồng nhất, có màu nâu đen và lượng chất cũng
như kích thước đống phân sẽ giảm xuống đồng thời lượng mùn sẽ tăng lên,
tỉ lệ cacbon và nito giảm, pH trung tính.
Các yếu tố ảnh hưởng
Sự lưu thông khí
Quá trình ủ phân hiếu khí đòi hỏi một lượng khí lớn Oxy, đặc biệt là ở