i
BỘ GIÁO VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ NGỌC TRÂM NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT
OLIGOCHITOSAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SỬ
DỤNG ENZYME CHITINASE
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM CÁN BỘ HƯƠNG DẪN: TS. Vũ Ngọc Bội KHÁNH HÒA – 2013
ii
BỘ GIÁO VÀ ĐÀO TẠO
Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang,
Ban Chủ nhiệm khoa Công nghệ Thực phẩm, Phòng Đào tạo niềm kính trọng,
sự tự hào được học tập tại Trường trong những năm qua.
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho thầy: TS. Vũ Ngọc Bội -
Trưởng khoa Công nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang đã tài trợ
kinh phí, tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
đồ án tốt nghiệp này.
Xin cám ơn: ThS. Thái Văn Đức - Trưởng Bộ môn Công nghệ Thực
phẩm và các thầy cô phản biện đã cho tôi những lời khuyên quí báu để công
trình nghiên cứu được hoàn thành có chất lượng.
Đặc biệt, xin được ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: các thầy cô giáo
trong Bộ môn Công nghệ Thực phẩm và tập thể cán bộ trong Các phòng thí
nghiệm - Trung tâm Thực hành Thí nghiệm - Trường Đại học Nha Trang đã
giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi
thực hiện đồ án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn bè đã tạo
điều kiện, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình
học tập vừa qua.
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vi
2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1. Phương pháp phân tích 26
2.2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.2.2.1. Quy trình dự kiến 28
2.2.2.2. Bố trí thí nghiệm xác định các thông số của quy trình 29
2.3. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu 31
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ THÍCH HỢP CHO QUY TRÌNH SẢN
XUẤT OLIGOCHITOSAN 32
3.1.1. Xác định nồng độ, thời gian thích hợp 32
3.1.2. Xác định nhiệt độ thủy phân chitosan 34
3.2. Đề xuất quy trình thủy phân chitosan bằng enzyme chitinase 37
3.3. Sơ bộ tính toán chi phí nguyên vật liệu 39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 40
4.1. KẾT LUẬN 40
4.2. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 40
iv
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỒ ÁN
BSA Bovine serum albumin
COS Oligochitosan
ĐVHĐ Đơn vị hoạt độ
GlcNAc N-acetyl glucosamine
đđ
đậm đặc
HPLC High Pressure Liquid Chromatography
pp Phương pháp
cứu thủy phân chitosan thành oligochitosan (COS) nhằm mở rộng khả năng ứng
dụng. COS có đặc tính hòa tan tốt hơn chitosan, có tính kháng khuẩn, có hoạt tính
chống oxy hóa… nên có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống. Hiện
nay việc lạm dụng các hóa chất bảo độc hại như hàn the, urea… trong quản thực
phẩm đang ở mức báo động. Vì vậy việc nghiên cứu tìm kiếm các chất bảo quản
thực phẩm không độc dại cho con người và có nguồn gốc tự nhiên nhằm thay thế
cho các chất cấm trong bảo quản thực phẩm và nguyên liệu thủy sản là cần thiết. Vì
thế, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất oligochitosan
bằng phương pháp sử dụng enzyme chitinase “.
Nội dung đồ án:
1) Xác định các thông số thích hợp cho quy trình sản xuất oligochitosan
bằng phương pháp sử dụng enzyme chitinase: tỷ lệ enzyme, nhiệt độ thủy phân, pH,
thời gian thủy phân, …
2) Đề xuất quy trình sản xuất và sản xuất thử sản phẩm.
Ý nghĩa khoa học đồ án
Đề tài lần đầu sử dụng chitinase thương mại trong thủy phân chitosan. Do
vậy kết quả nghiên cứu của đề tài là số liệu thực tế bổ sung làm phong phú lý thuyết
về enzyme. 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về Chitin, Chitosan và Oligochitosan.
1.1.1 Cấu tạo và tính chất của Chitin, Chitosan và Oligochitosan.
1.1.1.1 Chitin. [9]
Chitin theo tiếng Hy Lạp nghĩa là vỏ trong hay lớp bọc ngoài được ODIER
đặt cho mà ông chiết ra được từ cánh cứng của những con bọ da vào những năm
1823. Nó cũng chính là chất mà BRACONNOT tìm ra từ nấm mốc bậc cao. Tên gọi
Chitin được dùng cho đến ngày nay cho cả chitin có nguồn gốc động vật và thực vật.
Chitin là polymer hữu cơ phổ biến trong tự nhiên sau cellulose. Chitin ít khi
Hình 1.1: Cấu tạo Chitin
3
Tính chất của chitin:
Chitin là một polysaccharide có tính kiềm trong môi trường kiềm nhưng kém
bền trong môi trường acid. Nó kết tinh ở dạng tinh thể màu trắng không định hình,
không tan trong nước, trong môi trường kiềm, acid loãng và các dung môi hữu cơ
như ete, rượu… Khi bị thủy phân tại liên kết amit do kiềm hoặc acid tạo ra amin và
cacbonyl chitin khó hòa tan trong dung dịch amoniac, khó hòa tan trong thuốc thử
schweizeisapramona. Điều này có thể là do nhóm acetamit (-NHCOCH
3
) ngăn cản
sự tạo thành các phức chất cần thiết. Chitin có thể hòa tan trong dung dịch đặc nóng
của muối thioxianat Liti (LiSCN) và thioxianat canxi Ca(SCN)
2
tạo thành dung dịch
keo. Độ phân tán của dung dịch keo này được xếp theo mức độ sau:
LiSCN > Ca(SCN)
2
> CaI
2
> CaBr
2
> CaCl
2
LiSCN > LiI > LiBr > LiCl
Tính ổn định hóa học đáng kể của chitin được kết hợp với đặc tính hấp thụ
đối với nước và chất béo. Chitin vi tinh thể (có trọng lượng phân tử nhỏ) dễ phân
tán được tạo thành do thủy phân trong hỗn hợp acid photphoride / 2propanol cũng
có đặc tính nhũ tương hóa hơn cả cellulose vi tinh thể.
(C
28
H
50
N
4
O
19
)
x
+ 2(CH
3
-COOH)
x
Khi đun nóng chitin trong môi trường kiềm đặc chitin bị khử gốc acetyl tạo
thành chitosan.
Chitin + nNaOH(đậm đặc) Chitosan + nCH
3
COONa
Chitin có khả năng hấp thụ tia hồng ngoại ở bước sóng: λ = 884 ÷ 890 µm
1.1.1.2 Chitosan. [9]
Chitosan là sản phẩm biến tính của chitin khi xử lý chitin với kiềm đặc nóng.
Đun nóng
4
Chitosan là một polymer hữu cơ có cấu trúc tuyến tính từ các đơn vị β-D
Glucosamin liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4 glucoside.
Công thức cấu tạo của chitosan được biễu diễn như sau:
Hình 1.2. Cấu tạo Chitosan
keo dương nhờ đó mà keo chitosan không bị kết tủa khi có mặt của một số ion kim
loại nặng như Pb
3+
, Hg
+
.
Chitosan kết hợp với aldehyt trong điều kiện thích hợp để hình thành gel, đây
là cơ sở để bẫy tế bào enzyme.
Chitosan phản ứng với acid đậm đặc tạo muối khó tan.
Chitosan kết hợp với iot trong môi trường H
2
SO
4
cho phản ứng lên màu tím.
Đây là phản ứng dùng trong phân tích định tính chitosan.
Keo chitosan là một keo dương nên có tính chất kháng khuẩn, kháng nấm.
Loại chitosan có trọng lượng phân tử trung bình (M) từ 200.000 đến 400.000
hay được dung nhiều nhất trong y tế và thực phẩm.
Tính chất sinh học:
Chitosan là một polymer mang điện tích dương nên được xem như là một
polycationic có khả năng bám dính vào bề mặt các điện tích âm. Chính vì vậy mà
chitosan có thể tương tác với các polymer có điện tích âm như alginic và tạo lưới
gel dẻo bền như lực liên kết tĩnh điện. Liên kết tạo gel giữa chitosan và alginic được
biểu diễn như sau:
Hình 1.3. Liên kết gel giữa chitosan và alginic.
6
Tuy nhiên gel này thuộc loại gel dẻo chảy không có độ đặc. Nếu trong môi
trường có thêm Ca
2+
Oligochitosan là sản phẩm của quá trình thủy phân chitin, chitosan bằng các
con đường hóa học hoặc sinh học. Tùy theo từng điều kiện, chế độ thủy phân mà
các Oligochitosan có khối lượng phân tử khác nhau.
Oligochitosan là một saccharide, được kết hợp bởi các monosaccharide từ 2
÷ 20 trong cấu trúc của chitin và chitosan.
Oligochitosan được xem như một thực phẩm chức năng. Ngoài việc COS có
khả năng chống vi khuẩn, nấm mốc, nấm men, COS còn có khả năng chống
cholesterol, chống ung thư, chống oxy hóa, chống bướu, chống bệnh tim mạch.
Công thức cấu tạo Oligochitosan:
Hình 1.4: Công thức cấu tạo của Oligochitosan
Công thức phân tử: (C
6
H
11
O
4
N)
n
; n= 0 ÷ 6
COS có dạng bột màu trắng hoặc hơi vàng, không mùi, vị đặc biệt. Chúng có
khả năng tan tốt trong nước, độ nhớt thấp, phân tử lượng nhỏ và dễ kết tinh, có tính
chất hoạt động sinh học cao như: tăng sức đề kháng, điều hòa lượng cholesterol, cải
thiện thiếu máu, bệnh gan, điều hòa huyết áp trong máu, làm tăng khả năng hấp thụ
canxi, thúc đẩy quá trình bài tiết acid Uric, chống ung thư máu… Ngoài ra, COS
còn tham gia điều trị các bênh: viêm loét dạ dày, bệnh tiêu chảy, bệnh táo bón,
chuột rút, đặc biệt có khả năng kết hợp với mangan tham gia vào quá trình hình
thành xương sụn rất tốt. COS còn có khả năng kháng bệnh cho cây trồng vật nuôi,
đồng thời cũng là chất kích thích sinh trưởng rất tốt.
Các phương pháp sản xuất COS: Hiện nay có nhiều phương pháp sản xuất
cho động vật thủy sản, giúp kích thích tăng trưởng tốt.[4]
Oligochitosan ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng của rau cải, đậu côve và
một số rau khác, có tác dụng tăng năng suất, tăng khả năng kháng bệnh, hạn chế
việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, góp phần bảo vệ môi trường và thực hiện
chương trình rau sạch, rau an toàn.
9
COS ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và năng suất của Ngô. Với nồng độ
phun thích hợp là 40ppm, số lần phun là 3 lần/vụ, liều lượng phun là 300l/ha, năng
suất sau khi sử dụng tăng 20% so với đối chứng ( theo nghiên cứu của Đại học
Nông nghiệp I Hà Nội).[1]
1.1.2.2 Trong Y học.
Ở một số nước đã sản xuất chỉ khâu phẫu thuật từ Chitin nhờ việc phát hiện
ra một số dung môi đặc biệt có khả năng hòa tan Chitin ở nhiệt độ thường mà không
làm phá hủy cấu trúc polymer.[1]
Nhật Bản đã sản xuất ra “Da nhân tạo” có nguồn gốc từ Chitin được gọi là
Beschitin.W, nó giống như một tấm vải ( có kích thước 10x10cm) và được bọc ốp
lên vết thương chỉ một lần cho đến khi khỏi. Tấm Beschitin.W bị phân hủy sinh học
từ từ cho đến lúc hình thành lớp biểu bì mới. Nó có tác dụng giảm đau, giúp các vết
sẹo, bỏng phục hồi biểu bì nhanh chóng và chống nhiễm trùng.[4]
Ở Việt Nam, các ngành khoa học thuộc Viện Hóa học, Trung tâm Khoa học
tự nhiên và công nghệ quốc gia và bác sỹ Trường Đại học Y Hà Nội đã nghiên cứu
thành công Da nhân tạo có tên Vinachitin. Vinachitin dùng trong các trường hợp
bệnh nhân bị thương, bỏng trên diện tích rộng, bệnh nhân bị choáng do mất nước
dẫn đến nhiễm trùng. Có tác dụng chống mất nước, tăng khả năng tái tạo da và đặc
biệt khi vết thương lành không để lại sẹo.[3]
Chitin-Chitosan và các Oligomer của nó có đặc tính miễn dịch do nó kích
thích các tế bào giữ nhiệm vụ bảo vệ miễn dịch với các tế bào khối u và các tác
nhân gây bệnh, Chito-Oligosaccarid sản xuất từ Chitin được sử dụng làm thuốc
giảm đau Cholesterol trong máu.
Thời gian qua Khoa Dược của trườg Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí
Đồng thời COS còn được sử dụng làm thuốc để hạ Cholesterol trong máu.
1.1.2.3 Trong công nghiệp.
Trong công nghiệp thực phẩm:
Chitin, Chitosan là một polymer tự nhiên không độc và rất an toàn đối với
thực phẩm với tính chất khá đặc biệt kháng khuẩn, chống ẩm, tạo màng, có khả
năng hấp thụ màu tốt, hấp phụ một số kim loại nặng, nên Chitosan được nghiên cứu
ứng dụng trong ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm và bảo quản.
Sử dụng màng Chitosan bao bọc thực phẩm để kéo dài thời gian bảo quản và
cải thiện chất lượng thực phẩm tươi, thực phẩm cấp đông đã được thử nghiệm suốt
những năm qua. Những lớp màng ngoài này có thể cung cấp bổ sung và còn là công
11
cụ cần thiết để kiểm soát những sự thay đổi về sinh lý, hình thái, lý hóa ở các sản
phẩm thực phẩm.[4]
Chitosan có độ chống thấm cao đối với các chất như chất béo và dầu, kiểm
soát nhiệt độ, củng cố cấu trúc thực phẩm và giữ mùi. Màng Chitosan dai, bền , dẻo
và rất khó rách.
Chitosan dùng để lọc trong các loại nước ép hoa quả, rượu , bia, nước ngọt
và có thể lọc các nguồn nước thải công nghiệp từ các nhà máy chế biến thực phẩm
nhờ khả năng làm đông có thể lơ lửng, rắn giàu protein trong nước thải của quá
trình chế biến thịt, rau cải và công nghệ chế biến tôm, cá nhờ khả năng kết dính tốt
các ion kim loại nặng Hg, Pb… của keo dương Chitosan. Vì vậy các ion kim loại
trên bị giữ lại mà keo Chitosan không bị keo tụ.
Các sản phẩm thịt rất dễ bị mất mùi và ôi do sự oxy hóa của các thành phần
lipid không bão hòa. Hiệu quả xử lý của Chitosan để ổn định các chất oxy hóa trên
thịt bò đã được Darmadji và Izumimoto nghiên cứu, họ quan sát thấy rằng sử dụng
Chitosan nồng độ 1% dẫn đến giảm đến 70% giá trị 2-thiobarbi-turic acid (TBA)
sau 3 ngày bảo quản ở 4˚C.
Năm 1983, thực phẩm Mỹ (USFDA) đã chấp nhận Chitosan được dùng làm
chất phụ gia trong thực phẩm và dược phẩm. Chitosan tạo màng mỏng bao gói bảo
quản thực phẩm, ngoài ra chúng còn dùng để khử màu các sản phẩm thẫm màu như
enzyme bị vùi trong lớp lưới gel tạo thành liên kết ngang giữa Chitosan và
glutaradehyd.
Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, Chitosan có các đặc điểm sau:
Chitosan là nguyên liệu linh hoạt, dẻo. Nó có thể dùng để cố định enzyme
bằng liên kết phụ đơn giản, bằng cách hấp thụ dạng lưới hay bằng liên kết ion qua
nhân tố chức năng trung gian hoặc ở dạng thể vùi.
Sự liên kết ion NH
3
+
của Chitosan với các ion âm tự do trên enzyme là
các nhân tố hình thành liên kết hấp phụ và liên kết ion.
Hiệu suất cố định theo phương pháp hấp phụ có khuynh hướng cao hơn
so với phương pháp ion, cho phép thực hiện trong điều kiện nhẹ nhàng.
13
Khi so sánh với các chất mang khác thì Chitosan có khả năng chứa đựng
lượng protein 10÷30mg/gram Chitosan.
Trong công nghiệp giấy:
Chỉ cần bỏ ra 1% Chitin tính theo trọng lượng vào bột giấy cũng đủ làm tăng
sức dẻo dai của giấy, cắt giảm thời gian cần thiết để rút nước ra khỏi bột, để gia
tăng số lượng chất sợi trong giấy. Theo ước tính các nhà sản xuất giấy có thể tiết
kiệm được 90% năng lượng tiêu thụ vì bây giờ họ không cần đánh bột giấy để rút
nước ra nữa. Loại giấy được chế tạo bằng chất Chitin dễ in hơn loại giấy bình
thường và khó rách hơn khi bị ướt. Với đặc tính này Chitin có thể được dùng trong
việc chế tạo tã lót thay cho trẻ em, khăn giấy và bao giấy gói hàng.[7]
Do cấu trúc của Chitosan tương tự cellulose nên người ta bổ sung Chitosan
vào nguyên liệu lằm giấy, chúng giúp giấy có độ bền dai, đồng thời chất lượng in
trên giấy cũng tốt hơn. Ngoài ra, còn ứng dụng Chitosan để sản xuất giấy chịu nhiệt,
giấy hoa dán tường.[4]
Trong công nghiệp dệt:
Chitosan được dùng để hồ vải, cố định hình in hoa, màu sắc. Ưu điểm là làm
Nhiều cuộc hội nghị quốc tế về Chitosan đã khẳng định tác dụng điều trị
và tính an toàn của Chitosan. Chitosan đã được tổ chức y tế thế giới (WHO) đánh
giá cao và được gọi là “yếu tố thứ sáu của sự sống con người” và đã chính thức
được WHO cho phép dùng trong y học và thực phẩm.
Chitin, Chitosan được ứng dụng khá phổ biến trong xử lý môi trường nhờ
khả năng hấp phụ, tạo phức với các ion kim loại (Pb, Hg, Cd, Fe, Cu…) các chất
màu, khả năng keo tụ, tạo bông rất tốt với các chất hữu cơ. Do đó, Chitin, Chitosan
được sử dụng như là một trong các nhóm tác nhân chính để xử lý nước thải như
dùng Chitin, Chitosan làm chất hấp phụ, tạo phức trong việc xử lý kim loại trong
nước thải; thu hồi protein trong nước thải; trong xử lý chất màu của nước thải từ
nhà máy dệt nhuộm.[8]
Dùng trong phim ảnh và một số ngành công nghệ khác.
Phim Chitosan có độ nét cao, không tan trong nước, axit nhưng tan trong axit
loãng như axit axetic.
Chitosan được làm mực in cao cấp trong công nghệ in.
15
Chitin, Chitosan làm tăng độ bền của gỗ trong công nghệ chế biến gỗ.
Chitosan dùng để cố định enzyme và các tế bào vi sinh vật, làm chất mang
trong sắc ký chọn lọc, trong công nghệ sinh học.
Hãng kỹ thuật Matsushita còn dùng Chitosan trong việc chế tạo máy phát nhanh.
Chitosan còn dùng để xử lý nước thải công nghiệp, có khả năng tạo phức với
kim loại nặng độc hại, dùng để lọc trong nước sạch tiêu dùng, thanh lọc nước nhiễm
chất độc hại và chất phóng xạ do Chitosan khóa chặt các ion kim loại như Hg, Pb và
Uranium.[1]
1.1.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất Chitin-Chitosan-Oligochitosan ở Việt
Nam và trên thế giới. [6]
Trữ lượng chitin phần lớn có nguồn gốc từ vỏ tôm, cua. Trong một thời gian,
các chất phế thải này không được thu hồi mà lại thải ra ngoài gây ô nhiễm môi
trường.
Thế giới đã biết đến Chitin-Chitosan từ những năm 60 của thế kỉ XIX nhờ
số chỉ tiêu sinh hóa của mạ lúa ở nhiệt độ thấp thì kết quả nghiên cứu cho thấy
chitosan vi lượng làm tăng hàm lượng diệp lục và hàm lượng nito; đồng thời hàm
lượng các enzyme như amylaza, catalaza hay peroxidaza cũng tăng lên.
Ngày nay chitosan còn được dùng làm nguyên liệu bổ sung vào thức ăn cho
tôm, cua, cá để kích thích sự sinh trưởng.
Những ứng dụng của chitin-chitosan và những dẫn xuất của chúng ngày càng
phát triển. Một số đã đưa vào ứng dụng như là: chỉ khâu tự hủy, da nhân tạo, thấu
kính chiết xuất, và một số ứng dụng khác còn đang nghiên cứu như: tác động kích
thích miễn dịch, chống sự phát triển của khối u, đặc tính làm giảm cholesterol máu;
trị bỏng nhiệt.
Da nhân tạo có nguồn gốc từ chitin, nó giống như một tấm vải và được bọc
ốp lên vết thương chỉ một lần cho đến khi khỏi. Da nhân tạo bị phân hủy sinh học từ
từ cho đến lúc hình thành lớp biểu bì mới. Nó có tác dụng làm giảm đau, giúp cho
các vết sẹo bỏng phục hồi biểu bì mới. Nó có tác dụng làm giảm đau, giúp cho các
17
vết sẹo bỏng phục hồi biểu bì một cách nhanh chóng. Trường Đại học Dược Hà
Nội, Đại học Y Hà Nội, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia cũng
đã chế tạo thành công loại da nhân tạo này và bước đầu ứng dụng có hiệu quả.
Chitin-chitosan và các oligomer của nó có đặc tính miễn dịch do nó kích thích các
tế bào có tác dụng bảo vệ miễn dịch với các tế bào khối u và các tác nhân gây bệnh.
Những nghiên cứu gần đây có hướng vào các oligomer, N-acetyl-glucosamin
và glucosamine, các chất này có tính chất của polymer tương ứng nhưng lại có ưu
thế là tan tốt trong nước do đó dễ dàng được hấp thụ.
Hiện nay trên thế giới thành công việc sử dụng chitosan làm chất tan để cố
định enzyme và tế bào. Enzyme cố định đã cho phép mở ra việc sử dụng enzyme
trong công nghiệp, y học và khoa học phân tích. Enzyme cố định được sử dụng lâu
dài, không cần thay đổi chất xúc tác. Nhất là trong công nghệ làm sạch nước, làm
trong nước hoa quả, sử dụng enzyme cố định rất thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
Chitosan thõa mãn yêu cầu đối với một chất mang có phân tử lượng lớn, bền vững,
không tan và ổn định với các yếu tố hóa học.