PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM CỦA TẾ BÀO GỐC UNG THƯ VÚ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ THỰC NGHIỆM - Pdf 22

9. Pham PV, Vu NB, Duong TT, Nguyen TT, Truong NH,
Phan NLC, Vuong TG, Pham VQ, Nguyen HM, Nguyen KT,
Nguyen NT, Nguyen KG, Khat LT, Le DV, Truong KD, Phan NK
(2012) “Suppression of human breast tumors in NOD/SCID mice by
CD44 shRNA gene therapy combined with doxorubicin treatment”.
OncoTargets and Therapy 2012(5), pp.77-84.
!
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

PHẠM VĂN PHÚC

PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM CỦA TẾ BÀO
GỐC UNG THƯ VÚ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ BƯỚC
ĐẦU ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ THỰC NGHIỆM



Phản biện 1: GS.TS. Trần Linh Thước
Phản biện 2: GS.TS. Nguyễn Sào Trung
Phản biện 3: TS. Huỳnh Nghĩa
Phản biện độc lập 1: PGS.TS. Trần Cát Đông
Phản biện độc lập 2: TS. Nguyễn Đăng Quân
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào
tạo họp tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Tp.HCM vào hồi 14 giờ 00 ngày 16 tháng 11 năm 2012.

Có thể tìm hiểu luận án này tại thư viện:
1. Thư viện Khoa học Tổ ng hợp Tp.HCM
2. Thư viện Trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia
Tp.HCM DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
1. Phạm Vă n Phúc, Lê Thành Trung, Trương Hải Nhung,
Vương Gia Tuệ, Dương Thanh Thủy, Phan Kim Ngọc (2010) “Thu
nhận tế bào ung thư từ khối u vú”, Tạp chí Công nghệ sinh học, 8(4),
tr.1775-1783.
2. Phạm Văn Phúc, Chi Jee Hou, Lê Văn Đông, Trương Đình
Kiệt, Phan Kim Ngọc (2010) “Biệt hóa in vitro tế bào đơn nhân từ
máu cuống rốn người thành tế bào tua”, Tạp chí Công nghệ sinh học,

Phan (2011) “Differentiation of breast cancer stem cells by
knockdown of CD44: promising differentiation therapy”, Journal of
Translational Medicine, 9(1), p.209. 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là một bệnh phức tạp. Nhiều nghiên cứ u đã
tiến hành để tìm ra nguyên nhân và phương pháp điều trị că n bệ nh
này. Trong 20 năm qua, tỉ lệ tử vong do UTV đã giảm nhiều. Sự giảm
này là do sự phát triển các kĩ thuật chẩn đoán sớm và các liệu pháp trị
liệu hiệu quả, kể cả các liệu pháp bổ trợ . Tuy nhiên, vẫn có đến 50%
khối u vú không đáp ứng thuốc, cũng như kháng với các liệu pháp này
và có hơn 70% bệ nh nhân sẽ tái phát sau 5 năm điều trị. Nguyên nhân
của tình trạng này là sự tồn tại của tế bào gốc ung thư vú (TBGUTV)
trong tất cả các khối u vú. Những TBGUTV được cho là nguồn gốc
của các khối u và đóng góp vào sự di căn và tái phát trong bệnh nhân
UTV. Do đó, liệu pháp tấn công vào TBGUTV được xem là liệu pháp
mới và hứa hẹn.
Trong 5-10 năm qua, nhiều đặc điểm của tế bào gốc ung thư
(TBGUT) đã được xác định và sử dụng như đích tấn công trong một
số chiến lược trị liệu. Vài đích tấn công trên TBGUTV đã được sử
dụng thử nghiệm lâm sàng; trong số đó đã có một số đã được phát
triển trở thành thuốc điều trị thường quy cho UTV. Tuy nhiên, vì sự
phức tạp trong kiểu hình của UTV giữ a các chủng tộc và vùng địa lý,
mà hiệu quả điều trị UTV bằng các liệu pháp này vẫn còn thấp. Mặc
dù chưa có số liệu về hiệu quả của các liệu pháp này trong điều trị
UTV trên bệnh nhân Việt Nam, các nhà nghiên cứu trên nhiều quốc
gia đều cho thấy có đến hơn 50% khối u không đáp ứng với các liệu
pháp này cũng như kháng thuốc. Vì thế, các nghiên cứu về đặc điểm
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Sự tồn tạ i TBGUT có thể giúp giải thích tại sao và làm thế
nào sự thay đổi trong hóa mô của mô phản ánh các cấp độ ác tính của
khối u. Với các đặc điểm tương tự tế bào gốc (TBG), TBGUT có thể
gây xâm lấn mạnh (bởi vì tính tự làm mới) và gây dị hợp kiểu hình
biệt hóa mạnh trong khối u (bởi vì khả năng biệt hóa) (Kakarala &
Wicha, 2008; Shay & Wright, 2010).
TBG trưởng thành thường tăng sinh chậm hơn các tế bào đã
biệt hóa, do đó chúng có thể gia tăng tuổi thọ. Vì nguyên nhân này,
chúng có thể tiếp xúc với nhiều tác nhân gây đột biến hơn các tế bào
biệt hóa, do đó chúng có thể tích lũy nhiều đột biến hơn. Và những đột
biến này có thể truyền sang các thế hệ con cháu (gọi là các tế bào tăng
sinh nhanh hay các tế bào khuếch đại chuyển tạ m thời) (Dontu et al.,
2003). Điều này có nghĩa là các con cháu của những TBG trưởng
thành bình thường có thể là các TBGUT. Nghĩa là trong cùng một
khối u nếu chúng ta có thể thu nhận cả TBG bình thường và TBGUT
thì các TBGUT sẽ thừa hưởng nhiều đặc đ iểm của TBG bình thường.
Thật vậy, một số nhà nghiên cứu cho thấy rằ ng các TBGUT có thể

(không biểu hiện CD2, CD3, CD10, CD16, CD18, CD31, CD64 và
CD140b). Chỉ với 200 tế bào này, chúng có thể gây ra khối u khi tiêm
vào chuột NOD/SCID trong khi đó 10
4
tế bào không biểu hiện marker
này thì không thể gây khối u (Al-Hajj et al., 2003). Khối u này có kiểu
hình dị hợp, chứa một quần thể tế bào có kiểu hình TBG ban đầu
CD44
+
CD24
-/dim
Lin
-
và có thể tiếp tục gây u khi cấy vào chuột liên tục
nhiều lần (Al-Hajj et al., 2003).
Sau đó kiểu hình CD44
+
CD24
-
được sử dụng để xác định và
tách TBGUT với khả năng gây u tăng cao. Thật vậy, các khối cầu
(mammosphere) thu từ việc nuôi TBUTV có kiểu hình CD44
+
CD24
-
/dim
có thể gây u mạnh khi tiêm vào chuột NOD/SCID. Tuy nhiên, chỉ
cần một ít tế bào CD44
+
CD24

nghiên cứu cải tiến để làm giảm độc tính nếu có thể hay
thay thế bằng hệ vector khác hoặc phương pháp khác để
điều hòa giảm biểu hiện CD44 với hiệu quả tương tự.
2. Đánh giá các tác động phụ của liệu pháp tế bào tua, đặc
biệt đáp ứng miễn dịch mà có thể gây bệnh tự miễn.
3. Đánh giá liều vector lentivirut hay liều tế bào tua có thể
sử dụng hiệu quả trên người.
4. Nghiên cứu các biến đổi trong nhiều con đường truyền tín
hiệu liên quan đến sự điều hòa giảm biểu hiện CD44 trong
TBGUTV.
5. Tối ưu hóa việc đánh giá hiệu quả điều trị UTV bằng tế
bào tua trên mô hình chuột nhân hóa hệ miễn dịch; sử
dụng hệ thống quét tín hiệu để đo sự di căn và kích thích
khối u thay vì quan sát khối u bằng mắt thường.

20
doxorubicin, trọng lượng khối u giảm đ áng kể đến 4,38 lần so với
nhóm đối chứng.
4. Bước đầu thiết lập thành công liệu pháp miễn dịch sử dụng tế
bào tua nạp kháng nguyên TBGUTV trên mô hình chuột
Tế bào tua từ tủy xương chuột được sản xuất thành công và sử
dụng chúng trong liệu pháp tế bào tua. Nếu chuột được điều trị vào
ngày 10 sau khi tiêm TBGUTV, có đến 60,0 ± 20% chuột không hình
thành khối u sau khi tiêm tế bào tua đã nạp kháng nguyên TBGTV sau
18 ngày. Trong khi đó có đến 100% chuột mang khối ở chuột đối
chứng (tiêm PBS) sau 15 ngày. Có 0,095±0,018% tế bào tua tồn tại
trong tách vào ngày 3 sau khi ghép. Lượng tế bào CD8 và CD45 trong

chúng tôi sử dụng một loại môi trường khác, đó là M171 bổ sung với
yếu tố kích thích phát triển tế bào biểu mô tuyến vú MEGS của
Invitrogen Ltd.
Các tế bào thu nhậ n được đánh giá biể u hiện marker CD24
bằng hóa tế bào miễn dịch và phân tích phần trăm tế bào biểu hiện
CD24 và CD90 bằng kĩ thuật flow cytometry. Trong nghiên cứu này,
chúng tôi tiến hành loại bỏ các tế bào tạp nhiễm bằng kĩ thuật tách tế
bào âm tính với marker CD90. Sau khi thu nhận được quần thể
TBUTV, chúng tôi tiến hành xác định đặc điểm của tế bào này như:
khả năng gây u in vivo trên mô hình chuột, sự biểu hiện gen Brca1, sự
biểu hiện các gen liên quan đến sự hình thành khối u và di căn như
Cyclin D1, Cyclin E2, EGFR, Mucin 1 và Myc. Cuối cùng, dòng tế
bào thu nhận được được phát hiện sự nhiễm mycoplasma.
2.2. PHÂN LẬP TBGUTV
TBGUTV ứng viên được phân lập bằng tách quần thể
CD44
+
CD24
-
. Các TBGUTV ứng viên được nuôi cấy trong
DMEM/F12 bổ sung 10% FBS và 1% antibiotic-mycotic, ủ trong tủ
ấm 37
0
C, 5% CO
2
. Quần thể tế bào này được sử dụng để xác định đặc
điểm đặc trưng của TBGUTV như xét nghiệm hình thành
mammosphere, khả năng gây u in vivo trên mô hình chuột
NOD/SCID, khả năng kháng thuốc chống khối u (doxorubicin và


, CD44
-
CD24
+
. Ba quầ n thể này được trộn đều
với tỉ lệ 1:1:1 để hình thành quần thể mới được gọi là tế bào không có
kiểu hình TBGUTV và được gọi là chung là TBUTV.
Tiếp theo, TBGUTV được làm giảm biểu hiện CD44 bằng
việc chuyển CD44 shRNA trên vector lentivirut. Các tế bào được
chuyển nhiễm và chọn lọc các tế bào nhận vector chuyển bằng cách
chọn lọc trong môi trường bổ sung puromycin dihydrochloride theo
hướng dẫn của nhà sản xuất. Sự điều hòa giảm biểu hiện của CD44 19
- Trong điều kiện in vitro, các TBGUTV điều hòa giảm biểu hiện
CD44 biểu hiện một số đặc điểm:
+ tăng sinh chậm sau khi xử lí với doxorubicin.
+ tăng mức apoptosis và thay đổi chu kì tế bào. Tác động gây
apoptosis được quan sát rõ trong TBGUTV đã bị điều hòa giảm biểu
hiện CD44 có thể đạt đến 34,19% tế bào chết khi xử lí 1,0 µg/mL
doxorubicin và đạt đến 40.2% khi xử lí doxorubicin ở nồng độ 6,0
µg/mL.
+ Thay đổi biểu hiện của các gen quan trọng liên quan đến
tính gốc, tính kháng thuốc và di căn như Muc-1, MMP9 và Myc biểu
hiện giảm, sự biểu hiện của LEF1 liên quan đến tính gốc cũng giảm.
+ chu kì tế bào cũng bị tác động. Pha G2/M và pha S trong
TBGUTV bị điều hòa giảm CD44 tương tự với TBUTV. Pha G2/M
trong TBGUTV bị điều hòa giảm CD44 giảm tương tự với TBUTV
(24,23±0,34% so với 23,41±0,50%) trong khi đó pha S thì tăng từ

nhận được biểu hiện các đặc điểm chính sau:
- chứa 0,11% tế bào dương tính CD90, 96,45±1,76% tế bào dương
tính với CD24
- biểu hiện rất thấp gen Brca1, trong khi đó biểu hiện mạnh các gen
cyclin D1, cyclin E2, EGFR và Mucin 1 so với dòng tế bào ung thư vú
thương mại MCF-7.
- hình thành khối u trong chuột NOD/SCID khi tiêm 2.10
6
tế
bào/chuột.
- âm tính với các mycoplasma chính M. arginini, M. faucium, M.
fermentans, M. hyorhinis, M. orale) và Acholeplasma laidlawii.
2. Thiết lập thành công hai dòng tế bào gốc ung thư vú (BCSC1 và
BCSC2). Các TBGUTV biểu hiện các đặc điểm đặc trưng sau:
- biểu hiện mạnh protein CD44, không biểu hiện hay biểu hiện rất yếu
protein CD24 trên bề mặt tế bào
- có khả năng tự làm mới in vitro và hình các khối cầu trong môi
trường không huyết thanh
- có khả năng gây u trên chuột NOD/SCID với liều 10
3
TBGUTV khi
tiêm dưới da
- kháng mạnh với verapamil ở nồng độ cao (50 µg/mL) so với tế bào
ung thư vú
- âm tính với các mycoplasma chính M. arginini, M. faucium, M.
fermentans, M. hyorhinis, M. orale) và Acholeplasma laidlawii.
3. Liệu pháp gen điều hòa giảm biểu hiện CD44 được thiết lập
thành công trên mô hình chuộ t.
khối u. Các tỉ lệ được khảo sát bao gồm 2:1, 1:1 và 1:2 tương ứng với 8
tỉ lệ giữa TBGUTV và hạt lentivirut mang shRNA CD44 với lô đối
chứng không bổ sung hạt lentivirut. Các tế bào được nuôi tiếp tục 5
ngày sau khi nhiễm với lentivirut và sử dụng để phân tích tỉ lệ phần
trăm tế bào biểu hiện CD44 bằng kĩ thuật flow cytometry.
Sau đó, chuột NOD/SCID được tiêm TBGUTV để gây tạo
khối u dưới da. Sau 2 tuần, khối u hình thành và đủ lớn, chúng được
chia thành 4 nhóm. Nhóm 1 (đối chứng, 4 con), các chuột mang u
không được điều trị. Nhóm 2 (Doxorubicin –Dox), chuột được tiêm
vào khối u doxorubicin với liều 2mg/kg hàng tuần trong 4 tuần. Nhóm
3 (shRNA), chuột được tiêm với CD44 shRNA lentivirut với liều
được xác định trong thí nghiệm trên. Nhóm 4 (CD44 shRNA kết hợp
với doxorubicin, shRNA+Dox), chuột được tiêm CD44 shRNA
lentivirut với lượng tương đương nhóm 3 cùng với doxorubicin với
lượng và chế độ tiêm cùng với nhóm 2. Kích thước và trọng lượng
khối u được ghi nhận.
2.6. TÁC ĐỘNG CỦA TẾ BÀO TUA ĐƯỢC NẠP DỊCH CHIẾT
TBGUTV LÊN MÔ HÌNH CHUỘT MANG KHỐI U VÚ
Trong thí nghiệm này, dịch chiết TBGUTV được tạo ra như
sau 5.10
6
TBGUTV được thu nhận cho vào ống li tâm 1.5 mL. Tế bào
được xử lí với 400µl Pro-PREP và trộn kĩ. Huyền phù này được làm
lạnh nhanh trong -20
0
C trong 10-20 phút. Dịch nổi tế bào được
chuyển sang ống li tâm mới và bảo quản để sử dụng trong các thí

nhiên, tỉ lệ này tương đối thấp so với chuộ t bình thường. Điều này là
vì tác động của chất ức chế miễn dịch.

16
shRNA riêng rẽ là như nhau; nhưng khi kết hợp, chúng có thể gây tác
động ức chế mạnh với sự thay đổi kích thước, trọng lượng có ý nghĩa
thống kê so với các lô điều trị riêng rẽ.
So với chuột đối chứng, kích thước khối u giảm đi 1,74; 3,04
và 12,47 lần tương ứng trong trong nhóm Doxorubicin, CD44 shRNA,
và CD44 shRNA kết hợp doxorubicin. Trong nhóm kết hợp CD44
shRNA và doxorubicin, trọng lượng khối u giảm đáng kể đến 4,38 lần
so với nhóm đối chứng.
Như vậy, sự biểu hiện mạnh CD44 trong TBGUTV có ý nghĩa
quan trọng trong sự tăng sinh, sự kháng thuốc của các tế bào này. Từ
kết quả nghiên cứu, chúng tôi cho rằng liệu pháp kết hợp giữ a điều
hòa giảm biểu hiện CD44 và doxorubicin có thể ức chế mạnh sự phát
triển của khối u so với đối chứng. Kết quả này hứa hẹn cho một liệu
pháp mới sử dụng kết hợp liệu pháp gen và hóa trị liệu để tấn công

vào chuột.
Phác đồ điều trị trên chuột: sau 10 ngày chuột được tiêm với
TBGUTV được tiêm chế phẩm tế bào tua vào tĩnh mạch với liều là
10
6
tế bào chứa trong 0,2 mL PBS; trong khi đó, chuộ t trong lô đối
chứng chỉ được tiêm 0,2 mL PBS. Chuột đư ợc theo dõi sự hình thành
khối u có thể nhận thấy được bằng mắt thường. Để theo dõi sự di cư
của tế bào ghép, một số chuột được giết vào ngày 3 sau khi ghép, lách
của chuột được thu nhận để đánh giá sự tồn tại tế bào ghép. Sự kích
hoạt hệ miễn dịch của chuột ghép tế bào tua cũng được khảo sát thông
qua sự thay đổi thành phần tế bào CD45 và tế bào lympho T CD8
trong lách.
DNA, điều hòa sự phiên mã gen cũng như nhiều chức năng khác. Gen
này biểu hiện rất thấp trong một số ung thư, đặc biệt UTV. VNBRC1 15
Sự thay đổi biểu hiện các gen quan trọng đã kéo theo sự thay
đổi trong chu kì TBGUTV bị làm giảm biểu hiện CD44 theo kiểu của
tế bào không phải TBGUTV. Pha S của tế bào tăng và pha G2/M lại
giảm trong TBGUTV bị làm giảm biểu hiệ n CD44 và tương tự ở tế
bào không có kiểu hình TBGUTV.
Sự khác biệt chính được khảo sát tiếp theo là khả năng gây u
khi tiêm chúng vào chuột. Tiềm năng sinh u là tiêu chuẩn vàng để
đánh giá một tế bào có phải là TBGUT. Kết quả cho thấy, khi tiêm 10
3

TBGUTV có khả năng gây u trong chuột NOD/SCID, trong khi đó
TBGUTV đã bị làm giảm biểu hiện CD44 cần đến 10
6
tế bào để gây u,
tương tự quần thể tế bào không có kiểu hình TBGUTV.
Như vậy, việc điều hòa giảm biểu hiện CD44 đã gây biệt hóa
TBGUTV thành kiể u hình tế bào không mang tính gốc.
3.3.3. Liệu pháp gen điều hòa giảm biểu hiện CD44 ức chế khối u
vú trên mô hình chuột NOD/SCID
Từ kết quả của các thí nghiệm trên, chúng tôi nhận thấy rằng
việc kết hợp liệu pháp biệt hóa bằng điều hòa giảm biểu hiện CD44
với hóa trị liệu có thể ức chế và tiêu diệt khối u. Trong thí nghiệm này,
chúng tôi tiến hành thử nghiệm cận lâm sàng điều trị khối u vú trên
mô hình chuột bằng liệu pháp kết hợp giữa liệu pháp gen đ iều hòa
giảm CD44 và hóa trị liệu với thuốc chống khối u doxorubicin.

động của việc làm giảm biểu hiện của CD44 lên tính kháng thuốc điều
trị ung thư. Chúng tôi tiến hành làm giảm biểu hiện CD44 bằng vector
lentivirut shRNA và chọn lọc puromycin để tạo quần thể tế bào giảm
biểu hiện CD44 ổn định.
Sau đó, tính gốc của 3 quần thể tế bào, bao gồm: TBGUTV,
TBGUTV đã làm giảm biểu hiện gen CD44 và tế bào không phải
TBGUTV (tế bào không biểu hiện kiểu hình CD44
+
CD24
-
thu nhận từ
quần thể TBUTV) được so sánh với nhau. Các chỉ tiêu so sánh bao
gồm: sự biểu hiện các gen liên quan đến TBG và di căn, sự kháng
thuốc, sự thay đổi chu kì tế bào, khả năng hình thành khối u in vivo
trong chuộ t NOD/SCID.
Kết quả cho thấy TBGUTV bị làm giảm biểu hiện gen có sự
biểu hiện giảm rõ rệt các gen khảo sát và tương tự mức biểu hiện ở tế
bào không phải TBGUTV. Đặc biệt các gen liên quan đến khả năng di
căn như Muc-1, MMP9, Myc giảm biểu hiện mạnh ở TBGUTV bị
điều hòa giảm CD44 và tương tự ở tế bào không có kiểu hình TBG. 11
biểu hiện gen này rất thấp và thấp hơn trên dòng TBUTV thương mại
MCF-7.
Tiêu chuẩn vàng để khẳng định liệu một quần thể tế bào có
phải là TBUT là khả năng gây u của chúng khi tiêm vào chuột suy
giảm miễn dịch hay chuột NOD/SCID. Trong nghiên cứu này,
VNBRC1 có thể gây u trên chuột suy giảm miễn dịch và chuột
NOD/SCID khi tiêm 2.10

CD24
-
trong khối u vú. 12
Quần thể tế bào thu nhận được biểu hiện mạnh protein CD44,
nhưng không biểu hiện hay biểu hiện yếu protein CD24 trên bề mặt tế
bào. Kết quả này được khẳng định bởi kĩ thuật flow cytometry và hóa
tế bào miễn dịch. Theo kết quả của Clarke và cs (2006), cấy ghép dị
loại sử dụng để tách quần thể tế bào CD44
+
CD24
-
có tiềm năng gây u
trong mô hình chuột NOD/SCID. Họ cho thấy rằng 200 tế bào với
kiểu hình này có thể gây u khi tiêm vào chuột NOD/SCID trong khi
đó khi tiêm 20.000 tế bào không biểu hiện kiểu hình trên vẫn không
có khả năng gây u in vivo. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiêm
1000 TBGUTV mà chúng tôi thu nhận được thì cũng có khả năng gây
u.
Trong xét nghiệm tiếp theo, chúng tôi kiểm tra đặc tính tiếp
theo của TBGUTV là khả năng tự làm mới bằng kĩ thuật nuôi cấy tạo
mammosphere. Kết quả cho thấy các TBGUTV thu nhận được có khả
năng tạo mammosphere manh.
Đặc tính kháng thuốc của TBGUT cũng được khảo sát trong
nghiên cứu này. Các TBGUT với kiểu hình CD44
+
CD24
-

tăng trưởng như EGF receptor-2 (Her 2), EGF receptor 1 (Her1) và
yếu tố phát triển tế bào gan (Met). CD44 cũng được xem là các
marker hữu dụng để phát hiện và làm giàu TBGUT. Các tế bào dương
tính CD44 có khả năng di căn và gây u. Hơn nữa, marker CD44 được
sử dụng để tách TBGUT tuyến tiền liệt, tuyến tụy và đại tràng. Một
đặc điểm quan trọng của TBGUT trong khối u là sự biểu hiện cao của
các ABC transporter, đặc biệt ABCG2. Vì thế các TBGUT có khả
năng kháng thuốc, ngay cả hóa trị liệu. Về lâm sàng, hóa trị liệu có thể
tiêu diệt hầu hết các tế bào trong khối u rắn. Tuy nhiên, một quần thể
nhỏ các tế bào gọi là TBGUT có khả năng kháng thuốc, bởi vì sự hiện
diện của các kênh ABC transporter giúp đẩy các thuốc trị ung thư ra
ngoài. Sự biểu hiện gia tăng của ABC transporter trong TBGUT dẫn
đến sự đào thải Hoechst 33342 và Rhodamine 123 mà có thể phát hiện
bằng kĩ thuật flow cytometry. Những tế bào có khả năng này gọi là
quần thể phụ.
Trong nghiên cứu này, sự làm giảm biểu hiện của CD44 làm
giảm tính kháng thuốc của TBGUTV. Điều này cho thấy rằng sự
tương quan giữa tính kháng thuốc và sự biểu hiệ n của CD44 hay các
con đường truyền tín hiệu liên quan đến protein này. Sự điều hòa giảm
biểu hiện củ a CD44 có thể ức chế sự tăng sinh và gây nên apoptosis


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status