4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di sản văn hóa (DSVH) nói chung và di sản văn hóa làng nói riêng là đề tài
nghiên cứu của văn hóa học và các khoa học liên ngành. Cùng với việc tiếp cận
nghiên cứu giá trị các di sản văn hóa từ nhiều hƣớng khác nhau, vấn đề quản lý
DSVH từ lâu đã đƣợc đ t ra nhƣ một đối tƣợng nghiên cứu đa dạng, phong ph và
phức tạp, thậm chí có không ít khía cạnh chƣa đƣợc phân định rõ ràng trong giới
nghiên cứu lý luận trong và ngoài nƣớc. Ch ng hạn, hoạt động bảo tồn DSVH,
trong đó, nhà quản lý văn hóa các cấp s lựa chọn cấp độ nào khi đứng trƣớc các
vấn đề bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục dựng đối với hệ
thống DSVH ho c một di tích văn hóa cụ thể, tại địa phƣơng mình quản lý Điều đó
lại càng phức tạp và nan giải khi, hiện tại, không ít làng truyền thống của ngƣời Việt
đã và đang vận động, h a nhập vào bối cảnh CNH, HĐH, chuyển làng lên phố,
chuyển xã thành phƣờng với các chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu hƣớng theo lối sống
và cung cách quản lý của chính quyền đô thị.
Và, cũng bởi có sự biến đổi thực trạng đó, quá trình ứng xử với DSVH của
con ngƣời (từ các cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn đến cộng đồng cƣ dân sở tại)
tất yếu s bị tác động từ nhiều m t (từ nhận thức đến nhu cầu hƣởng thụ văn hóa).
Thực trạng đó chắc chắn s dẫn đến việc nhiều DSVH vốn đã và đang hiện diện trong
không gian văn hóa cộng đồng d có nguy cơ bị xâm hại, biến tƣớng ho c lâm vào
tình trạng bị hủy hoại, cần đƣợc bảo vệ kh n cấp (nếu không, s vĩnh vi n biến mất).
Thị xã Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) đƣợc đề tài luận án này chọn làm điểm
nghiên cứu nằm trên trục giao thoa giữa không gian văn hóa Thăng Long với không
gian văn hóa Kinh Bắc, là một vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa hàng nghìn
năm, nơi hiện tồn đậm đ c hàng loạt hệ thống DSVH (cả văn hóa vật thể lẫn văn
hóa phi vật thể). Trong quá trình CNH đất nƣớc, vấn đề bảo tồn và phát huy DSVH
nơi đây đã và đang đ t ra nhiều vấn đề cấp thiết, đ c biệt là đối với các làng quê
đang chịu tác động mạnh của quá trình ĐTH, đ t ra nhiều trọng trách đối với sự
nghiệp bảo vệ, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống một cách bền
đại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tuy nhiên, nhìn nhận từ
6
khối lƣợng các công trình khoa học đã công bố, không khó để nhận diện có khá
nhiều vấn đề đã đƣợc đ t ra và nghiên cứu một cách kỹ lƣỡng, với những phƣơng
pháp tiếp cận khoa học hiện đại, có giá trị tích cực đối với sự nghiệp xây dựng đời
sống văn hóa xã hội nói chung ở Việt Nam, nhƣng vẫn c n không ít những vấn đề
cần đƣợc quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống trong mối quan hệ biện chứng
với sự vận động của môi trƣờng kinh tế, văn hóa xã hội hiện nay.
Vấn đề quản lý văn hóa trong không gian di n tiến của quá trình đô thị hóa
hiện vẫn đang đ t ra một số “thách đố” đối với không chỉ giới nghiên cứu khoa học
thuần t y, mà c n nhƣ câu hỏi thƣờng trực đ t ra đối với các nhà quản lý văn hóa,
với bộ máy chính quyền các cấp, đ c biệt là bộ phận chính quyền cấp xã/phƣờng lực lƣợng quản lý trực tiếp các sinh hoạt văn hóa sôi động ở các làng quê. Mong
muốn đóng góp phần nhỏ cho những câu trả lời trƣớc thực ti n và một số giải pháp
mang tính ứng dụng cho sự nghiệp quản lý văn hóa ở Việt Nam - hiện tại và lâu dài,
ch ng tôi tự chọn cho mình một vấn đề khoa học không d nhƣng hấp dẫn để làm
đề tài luận án Tiến sĩ, đó là đi sâu khảo sát, nghiên cứu vấn đề quản lý di sản văn
hóa (giới hạn ở phạm vi quản lý di tích và l hội ở làng) - trong quá trình đô thị hóa,
tại một địa bàn lâu nay vốn đã quen thuộc với cá nhân mình là thị xã Từ Sơn, tỉnh
Bắc Ninh.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
- Làm rõ thực trạng công tác quản lý DSVH trên địa bàn thị xã Từ Sơn; đánh
giá những m t đƣợc và chƣa đƣợc của việc quản lý DSVH (tập trung vào hai đối
tƣợng là di tích lịch sử - văn hóa và l hội ở làng) trong quá trình đô thị hóa; chỉ ra
nguyên nhân của ch ng.
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý di tích lịch sử - văn hóa và l hội ở làng, góp phần vào phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội tại địa phƣơng; r t ra bài học kinh nghiệm, đề xuất mô hình quản lý phù hợp
đối với di tích lịch sử - văn hóa và l hội ở làng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong bối
văn hóa cho một địa phƣơng đã và đang trên đƣờng phát triển đô thị và CNH.
Những kết quả thu đƣợc của luận án là tài liệu tham khảo mang tính ứng
dụng tốt đối với các nhà quản lý di sản văn hóa ở các địa phƣơng trên phạm vi cả
8
nƣớc, đ c biệt là các địa phƣơng có những nét tƣơng đồng về địa lý, kinh tế và văn
hóa với thị xã Từ Sơn hiện nay.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu (05 trang), Kết luận (04 trang), Tài liệu tham khảo (09
trang), Phụ lục (63 trang), nội dung luận án đƣợc cấu tr c thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu (31 trang).
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở thị xã Từ Sơn (50 trang).
Chƣơng 3: Bàn luận vấn đề nghiên cứu, kiến nghị và giải pháp (28 trang).
9
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quản lý di sản văn hóa hiện nay là hiện tƣợng mang tính toàn cầu. Đây là
chủ đề nhận đƣợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nƣớc, tập trung vào các khía cạnh xung quanh những vấn đề nhƣ di sản là gì, di sản
cho ai, quản lý di sản có từ khi nào, các biện pháp thực hành và quản lý di sản, mối
liên hệ giữa di sản và du lịch và vai tr đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, vai tr
của cộng đồng trong việc quản lý di sản, sự can thiệp của quản lý nhà nƣớc đối với
di sản văn hóa v.v… Chính vì vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình đề cập trực
tiếp về vấn đề này. Có thể phân định tạm thời các cuốn sách, luận án, luận văn, bài
hết các trƣờng hợp, cuộc hành trình này đƣợc thực hiện thông qua việc mở rộng
quan điểm phát triển từ bảo vệ (những nỗ lực ban đầu để giữ lại tài sản di sản) đến
bảo tồn (những nỗ lực quan tâm một cách có hệ thống đến di sản) và sau đó tích
hợp (những nỗ lực kết hợp với nhau) một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống.
Có thể xác định đƣợc năm tập hợp các hoạt động cụ thể, tƣơng ứng với năm nhóm
chỉ tiêu chính và đƣợc thực hiện ở nhiều nƣớc phát triển, gồm: (1) quá trình thực
hiện kiểm kê ban đầu; (2) những ban hành có tính pháp luật bảo vệ; (3) tăng tính
chuyên nghiệp, (4) tham khảo ý kiến và sự tham gia của các bên liên quan; và (5)
đánh giá trách nhiệm của các chuyên gia, các bên liên quan khác và nhà nƣớc
[102, tr.23].
Kinh nghiệm thu thập đƣợc từ các quốc gia này cho thấy, họ đã đạt đƣợc
năm tập hợp các hoạt động trƣớc khi đạt đƣợc mức độ trƣởng thành trong phƣơng
pháp quản lý di sản văn hóa. Các chỉ tiêu trong phạm vi năm giai đoạn này cũng có
thể đƣợc xem nhƣ là công cụ cơ bản ho c „hằng số‟ trong quá trình mà phƣơng
pháp quản lý di sản văn hóa thực sự có hệ thống, chiến lƣợc cần thực hiện. Đây
đƣợc coi là một phần của những gì mà các tổ chức liên chính phủ (ví dụ nhƣ
UNESCO) và các tổ chức phi chính phủ (ch ng hạn nhƣ ICOMOS) xem xét là
“phƣơng pháp quốc tế tốt nhất” trong quản lý di sản văn hóa [102, tr. 21].
11
Ở trong nƣớc, việc nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống về công tác
quản lý di sản văn hóa dƣờng nhƣ mới chỉ đƣợc tiến hành trong khoảng hai chục
năm trở lại đây. Trong công trình Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa dân tộc [98], Hoàng Vinh giới thiệu quan niệm về chính sách bảo tồn và phát
triển di sản văn hóa dân tộc, chính sách về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân
tộc của nƣớc ta thời gian qua cùng một số kiến nghị về chính sách bảo tồn, phát
triển di sản văn hóa dân tộc. Trong cuốn Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã
hội Việt Nam hiện nay [99], Hoàng Vinh đã coi di sản văn hóa dân tộc nhƣ là nguồn
lực phi vật thể của sự phát triển kinh tế xã hội ở nƣớc ta và đề ra các nguyên tắc,
xem xét những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam,
thể chế quản lý nhà nƣớc về văn hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuyển tập Một con đường tiếp cận di sản văn hóa do Cục Di sản Văn hóa
tập hợp, biên soạn và xuất bản từ năm 2005 đến năm 2012 gồm 6 tập, mỗi tập là
tuyển tập các bài viết của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu đăng trên Tạp chí Di sản
văn hóa. Đây là những công trình nghiên cứu từ nhiều góc độ tiếp cận, mang tính lý
luận, những đề tài khoa học, những trao đổi kinh nghiệm thực ti n rất có giá trị đối
với sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Vấn đề phƣơng
pháp tiếp cận, lý luận quản lý di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa làng nói
riêng đã đƣợc các nhà khoa học đ c biệt quan tâm, thể hiện trong các bài viết đăng
trong tập 1 [24] và tập 4 [25] của bộ sách này.
Cuốn Một số vấn đề về công tác quản lý lễ hội giai đoạn 2001-2006 [26]
cũng là tài liệu để tham khảo cho các địa phƣơng trong công tác quản lý và tổ chức
l hội trong cả nƣớc.
Năm 2005, Viện Văn hóa - Thông tin (nay là Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc
gia Việt Nam) xuất bản cuốn Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt
Nam [95]. Đây là tuyển chọn các công trình nghiên cứu lý luận và thực ti n về di sản
phi vật thể của nhiều nhà khoa học có uy tín ở trong và ngoài nƣớc. Ngoài ra, cuốn
sách c n giới thiệu cho độc giả những văn bản pháp lý của UNESCO và Việt Nam về
di sản văn hóa phi vật thể, về nhiệm vụ sƣu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
phi vật thể trong Chƣơng trình mục tiêu quốc gia. Các công trình nhƣ Hội Gióng ở
đền Phù Đổng và đền Sóc [12], Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân
13
loại: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên [96] cũng đƣa ra thực trạng, nguy
cơ mai một đối với các loại hình di sản phi vật thể, xem xét những việc đã làm đƣợc,
đề ra những biện pháp cấp bách cần làm để bảo vệ loại hình di sản này.
Trình bày những vấn đề liên quan đến quy hoạch và phát triển đô thị ở Việt
Nam nhằm bảo vệ di sản văn hóa, tập trung vào quan niệm quy hoạch, nhà quy
hƣớng tiếp cận khác, cũng chính ông đã công phu tích hợp tƣ liệu và xem xét, đánh
giá một cách khách quan vấn đề “Nhà nƣớc và công tác bảo tồn, phát huy di sản văn
hóa phi vật thể ở Việt Nam, những bài học từ lịch sử…”. Phân tích tổng quan mô
hình bảo tồn và phát huy giá trị di sản của nhà nƣớc từ 1945 trở về trƣớc và minh
giải bằng những công việc nhà nƣớc quân chủ thực hiện với di sản văn hóa phi vật
thể, tác giả đã r t ra hệ quả mang tính phƣơng pháp luận sâu sắc: Cần trả di sản văn
hóa về cho cộng đồng, nhƣng nêu cao vai tr của nhà nƣớc [14].
Tiếp cận từ góc độ khác, trong công trình Quản lý lễ hội truyền thống của
người Việt [71], Bùi Hoài Sơn lại xem xét các vấn đề quản lý di sản phi vật thể (l
hội truyền thống) từ các văn bản quản lý; những m t đã làm đƣợc, chƣa làm đƣợc,
những khó khăn trong công tác quản lý l hội truyền thống và đề xuất việc áp dụng
quan điểm quản lý di sản theo những quan điểm mới cho quản lý l hội truyền
thống. Tuy nhiên, đối tƣợng để tác giả tiếp cận, khảo sát nghiên cứu ở đây lại chủ
yếu là sản ph m văn hóa mang tính chất liên làng ho c tầm cỡ sản ph m văn hóa
của một vùng văn hóa.
Chủ đề quản lý di sản văn hóa c n đƣợc bàn luận trong nhiều hội thảo khoa
học quốc gia và quốc tế. Tiêu biểu trong số đó là hội thảo khoa học quốc tế Bảo tồn
và phát huy dân ca trong xã hội đương đại qua trường hợp quan họ Bắc Ninh ở Việt
Nam và đã đƣợc xuất bản thành sách năm 2006 với tiêu đề Không gian văn hóa
quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát huy [66]. Ở hội thảo này, vấn đề bảo tồn, phát
huy dân ca trong xã hội đƣơng đại đã đƣợc đ t ra một cách cấp thiết bởi sự tác động
đa chiều và ở những mức độ, cấp độ khác nhau của quá trình toàn cầu hóa. Với hơn
chục tham luận của các nhà khoa học đến từ các nƣớc và vùng lãnh thổ trên thế giới
nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, Hồng Kông, Lào, Malayxia… và hơn 50 tham luận
của các nhà khoa học và quản lý trong nƣớc đến từ các viện nghiên cứu, trƣờng đại
học, các ph ng nghiệp vụ thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Bắc Ninh
15
và Bắc Giang đã chứng tỏ sự quan tâm đ c biệt tới vấn đề bảo tồn và phát huy giá
16
trình này tập hợp nhiều bài viết bàn về giá trị l hội trong đời sống xã hội đƣơng
đại, về chính sách quản lý đối với di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi
vật thể nói riêng bởi các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế, xem xét quá trình toàn
cầu hóa các di sản văn hóa phi vật thể.
Hội thảo Hoạt động quản lý, tổ chức lễ hội cổ truyền ở các tỉnh phía Nam
(nghiên cứu lễ hội Bà ch a ứ n i Sam) do Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, Bộ
Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức năm 2012 tại An Giang [41]. Đây là
hội thảo quốc gia, đã có hơn 50 tham luận của các nhà khoa học, quản lý đến từ các
viện nghiên cứu, trƣờng đại học, bảo tàng của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
các tỉnh nhƣ Nam Định, Ph Thọ, Bến Tre, An Giang…. Các tham luận tập trung
vào vấn đề nhƣ xây dựng các mô hình quản lý, tổ chức l hội, kết hợp quản lý nhà
nƣớc và quản lý tự quản của cộng đồng.
Tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay không chỉ gây nên những tác động trầm
trọng lên môi trƣờng, kinh tế, an sinh xã hội..., mà c n hủy hoại ho c làm mất đi
vĩnh vi n một loạt di sản văn hóa, đ c biệt là di sản văn hóa phi vật thể - những thứ
mà nhiều thế hệ loài ngƣời đã dày công xây đắp từ hàng nghìn năm nay. Nhằm duy
trì sự đa dạng văn hóa, bảo tồn các di sản văn hóa ở các cấp độ cộng đồng địa
phƣơng, quốc gia, quốc tế, cùng các thể chế xã hội nghề nghiệp có sứ mệnh trực
tiếp trong việc bảo tồn di sản văn hóa nhƣ ngành bảo tàng, cần phải làm gì và làm
nhƣ thế nào để ứng phó... và cả những nội dung khác nữa s đƣợc các nhà nghiên
cứu (về biến đổi khí hậu, về văn hóa, về bảo tàng), các nhà thiết lập chính sách (ở
các cấp độ cộng đồng địa phƣơng, quốc gia và quốc tế) và đ c biệt là một số đại
diện đến từ các cộng đồng cƣ dân đang trực tiếp phải ứng phó với biến đổi khí hậu
để mƣu sinh và để bảo tồn di sản văn hóa.... Chính vì thế, hội thảo Bảo tàng với di
sản văn hóa ở lưu vực sông Mê Kông và sông Hằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu
toàn cầu, đã đƣợc Bảo tàng Dân tộc học, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối
hợp tổ chức năm 2012 tại Huế [42]. Hội thảo đã thảo luận và đề cập những vấn đề
nhƣ xác định nguy cơ từ biến đổi khí hậu toàn cầu tới sự đa dạng văn hóa và di sản
văn hóa, các tri thức, kinh nghiệm, tính d bị tổn thƣơng … của các di sản văn hóa
pháp quản lý tốt các di tích, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát
triển, tiếp cận vấn đề quản lý phát triển văn hóa trên cơ sở quản lý văn hóa nói
18
chung là những vấn đề đƣợc các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa thảo luận tại hội
nghị trực tuyến này.
Gần đây nhất, Hội thảo khoa học quốc tế 10 năm thực hiện Công ước
UNESCO về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể - những bài học, kinh nghiệm và
định hướng tương lai [44] do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp
cùng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Uỷ ban quốc gia UNESCO Việt Nam tổ
chức ngày 23-24/6/2013 tại thành phố Hội An. Trong hội thảo này, các nhà khoa
học tập trung làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
với bảo vệ di sản văn hóa vật thể, với đa dạng văn hóa, với sự tham gia của xã hội
(cộng đồng địa phƣơng, các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp…) vào công
cuộc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa.
Nhƣ vậy là, vấn đề quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam cho đến nay đã đƣợc
quan tâm khảo sát, nghiên cứu một cách đa diện, có hệ thống ở những cấp độ, phạm
vi và mức độ khác nhau và thực tế đã đạt đƣợc những thành tựu khoa học nhất định.
Điều đó đã thể hiện ở sự chuyển biến trong nhận thức của các nhà quản lý văn hóa
nói riêng và các bộ máy quản lý di tích ở hầu khắp các địa phƣơng trên cả nƣớc nói
chung. Tuy nhiên, với sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội
nói chung, việc quản lý di sản văn hóa cũng luôn luôn phải thƣờng trực với những
vấn đề mới phát sinh trong thực ti n môi trƣờng văn hóa sống động ở mỗi làng quê.
Không ít vấn đề, dù đã đƣợc quan tâm nghiên cứu, nhƣng vẫn chƣa đem lại những
hiệu quản bền vững, có giá trị lâu dài đối với một đất nƣớc vốn có nhiều hệ thống di
sản mang bản sắc văn hóa vùng miền, thậm chí bản sắc văn hóa của từng cộng đồng
dân cƣ - chủ thể của các hệ thống di sản phong phú và giàu giá trị đó.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa làng
Văn hóa làng, trong đó có lĩnh vực quản lý di sản văn hóa đã đƣợc giới khoa
Tác ph m Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ [77] của Trần Từ
với mục đích chính là xây dựng một bức tranh toàn cảnh về làng Việt cổ truyền,
trong đó ông coi mảng cơ cấu tổ chức là quan trọng nhất trong một cơ cấu xã hội chính trị. Bởi l theo ông, một cơ cấu tổ chức khi đã định hình thành những cơ chế,
thiết chế, nó s có tác động trở lại cơ sở kinh tế và các bộ phận khác của cơ cấu xã
hội - chính trị. Kết quả nghiên cứu của Trần Từ, nhiều chục năm qua đã và đang là
20
những cơ sở phƣơng pháp luận mang tính nền tảng, là bài học về phƣơng pháp tiếp
cận đối tƣợng cho nhiều công trình sau đó của các ngành khoa học xã hội khác
nhau, mỗi khi quan tâm đi sâu nghiên cứu văn hóa và cơ cấu văn hóa làng Việt
truyền thống. Phan Đại Doãn với Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội
[28] và Mấy vấn đề về văn hóa làng xã trong lịch sử [29] lại xem xét văn hóa làng
dƣới góc độ dân tộc học, coi di sản văn hóa làng biểu hiện ở di sản văn hóa phi vật
thể nhƣ lối sống, phong tục tập quán, kho tàng văn hóa dân gian, tín ngƣỡng, tôn
giáo bên cạnh các di sản vật thể là đình, chùa, đền, miếu, lũy tre, bến nƣớc, cây
đa…. Những yếu tố đó không tách rời nhau mà h a quyện tích hợp lại, tạo nên bản
sắc văn hóa làng Việt tồn tại bao đời nay. Đ c biệt, tác giả cũng dành nhiều công
sức để nghiên cứu về truyền thống tự quản của làng xã trong lịch sử Việt Nam, về
thiết chế văn hóa làng và vấn đề sử dụng pháp luật để quản lý văn hóa làng xã. Theo
tác giả, quản lý làng xã là quá trình kết hợp hai hệ thống luật với lệ, là sự điều tiết
giữa lý và tình. Bùi Xuân Đính thông qua một loạt công trình Về một kiểu cơ cấu tổ
chức làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ [32], Hành trình về làng Việt cổ [35], Nhà nước
và pháp luật thời phong kiến Việt Nam - những suy ngẫm [34, tr. 77-89] đã từ nhiều
góc độ cụ thể, nghiên cứu một cách hệ thống về đ c trƣng các làng quê tiêu biểu ở
châu thổ Bắc Bộ, từ tên gọi, đ c điểm nổi bật về điều kiện địa lý, lịch sử phát triển
của làng, cơ cấu kinh tế xƣa và nay, đến các qui định của nhà nƣớc phong kiến, thiết
chế tổ chức của làng nhƣ xóm ngõ, d ng họ, phe giáp, phƣờng, hội, về hƣơng ƣớc
trong việc quản lý di sản văn hóa làng, về các di sản văn hóa cả vật thể và phi vật
thể của các làng quê đó. Tô Duy Hợp với Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày
Nguy n Thị Phƣơng Châm thực hiện đề tài cấp Bộ Biến đổi văn hóa ở một số
làng thuộc Bắc Ninh trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa hiện nay [20]. Ở
công trình này tác giả mong muốn tìm ra bản chất và cơ chế của sự biến đổi văn hóa
tại ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng của thị xã Từ Sơn trong bối cảnh đô thị
hóa, công nghiệp hóa hiện nay để từ đó đƣa ra những gợi ý khoa học về những giải
pháp, định hƣớng hợp lý cho chiến lƣợc phát triển xã hội ở ba làng nói riêng và
vùng châu thổ sông Hồng nói chung.
Bài viết của hai tác giả Trần Thị Hồng Yến, Thạch Thiết Hà [100] là nghiên
cứu trƣờng hợp làng Tình Quang, phƣờng Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội.
22
Các tác giả đƣa ra những đ c điểm biến đổi của đô thị hóa theo phƣơng thức chuyển
xã thành phƣờng. Những biến đổi này có ảnh hƣởng lớn đến việc tổ chức và quản lí
các hoạt động văn hóa. Nhìn nhận về vấn đề giữ gìn và phát huy vốn văn hóa làng ở
Tình Quang, Giang Biên, Long Biên trong đó có nhiều m t tích cực nhƣ các di tích
chung cùng đƣợc giữ gìn, truyền thống h a đồng vẫn duy trì trong cộng đồng làng,
các hoạt động văn hóa đƣợc duy trì tốt,… Lấy đây là một đối tƣợng nghiên cứu để
rút kinh nghiệm, làm gƣơng trong quá trình quản lý di sản tại các làng, cụ thể là các
làng của thị xã Từ Sơn đang chu n bị đƣợc chuyển thành phƣờng. Từ thực tế làng
Tình Quang, các tác giả đã chỉ ra 3 điều cơ bản trong công tác quản lý: Duy trì các
m t hợp lý và tích cực phù hợp với truyền thống có vai tr lớn trong ổn định và phát
triển đô thị; tạo lập và duy trì sự đồng thuận trong cộng đồng; tăng cƣờng quản lý
nhà nƣớc.
Cùng chủ đề này, Trần Thị Hồng Yến trong Biến đổi về văn hóa và xã hội ở
các làng quê trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội [101] đã nghiên cứu hai mô hình
quản lý di tích, l hội tiêu biểu do cộng đồng dân cƣ và do chính quyền quản lý tại
các làng xã đô thị hóa thành phƣờng của Hà Nội là làng Trung Kính Thƣợng và
làng Nhật Tân, đồng thời tác giả cũng làm rõ những vấn đề trong việc quản lý chùa
tại các làng này nhƣ việc quản lý việc tu bổ, sửa chữa, xây mới các hạng mục trong
hóa Thể thao và Du lịch Bắc Ninh phối hợp tổ chức vào năm 2010. Hội thảo tập
trung vào các vấn đề tìm hiểu giá trị lịch sử văn hóa của các di sản liên quan đến
triều Lý, nhân dân Bắc Ninh đã bảo tồn và phát huy di sản văn hóa thời Lý nhƣ thế
nào để từ đó đề ra những yêu cầu, kiến nghị bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nói
chung và di sản văn hóa thời Lý nói riêng.
Những năm gần đây, Trần Đình Luyện với các công trình Văn hiến Kinh Bắc
[52], Lễ hội Bắc Ninh [53], Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Kinh Bắc [54] cũng
bàn đến việc tu bổ tôn tạo, khai thác và phát huy các giá trị di tích trên bình diện di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Nguy n Duy Nhất với Di sản văn hóa thời Lý ở
Bắc Ninh [65] đã dành chƣơng 3 và 4 để tập trung đánh giá về các giá trị của di sản,
bàn về cách thức bảo tồn di sản văn hóa trên vùng đất văn hiến này. Trịnh Thị Minh
Đức với đề tài cấp Bộ Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử văn hóa có liên quan
đến triều Lý ở Bắc Ninh [36] đã nghiên cứu về giá trị các di tích lịch sử văn hóa có
24
liên quan đến triều Lý ở Bắc Ninh. Về phƣơng diện quản lý, trong công trình này,
tác giả đã phân tích các giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, th m mỹ
của các di tích để đƣa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích có liên
quan đến triều Lý, đề ra một số giải pháp khai thác hệ thống di tích đó để phục vụ
phát triển du lịch. Nguy n Thị Dậu với luận văn thạc sỹ Lễ hội truyền thống Đền
Đô, Đình Bảng, Bắc Ninh [27] đã khảo sát l hội Đền Đô rất kỹ lƣỡng trong bối
cảnh của làng Đình Bảng hiện nay. Tác giả không chỉ mô tả nghi l , các tr di n, tr
chơi trong l hội, mà c n quan tâm đến nguồn tài chính để tổ chức l hội, vị trí của
l hội đối với đời sống của dân cƣ sở tại. Nguy n Đức Thìn với Di tích lịch sử văn
hóa Đền Đô [75] là một đóng góp vào việc tìm hiểu lịch sử văn hóa của Kinh Bắc
bởi l cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống và đầy đủ về khu di tích đền Đô, các
di tích đền đài chùa tháp, lăng mộ thời Lý và các di tích lịch sử cách mạng của xã
Đình Bảng. Ngoài ra, tác giả cũng giới thiệu quá trình thực hiện và kết quả phục
dựng lại công trình khu di tích đền Đô, nơi trƣớc đây đã bị phá hủy hoàn toàn trong
hiện, khái niệm “quản lý di sản” đƣợc di n đạt theo nhiều cách hiểu khác nhau, thậm
chí đã có nhiều quan điểm, nhận thức về quản lý di sản đƣợc đƣa ra. Ashworth đã tổng
kết từ thực tế bảo tồn di sản từ nhiều nƣớc trên thế giới thành 3 quan điểm và tƣơng
ứng với nó là 3 mô hình bảo tồn di sản: quan điểm bảo tồn nguyên gốc, quan điểm bảo
tồn trên cơ sở kế thừa và quan điểm quản lý di sản (bảo tồn - phát triển) [71, tr. 42-53].
Quan điểm bảo tồn nguyên gốc (theo Ashworth quan điểm này đƣợc đề xuất
từ những năm 1850) cho rằng, các sản ph m của quá khứ cần đƣợc bảo tồn nguyên
vẹn nhƣ nó vốn có để tránh tình trạng làm méo mó, biến dạng di sản. Quan điểm
này cho rằng, cần giữ nguyên trạng di sản để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có
thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn. Quan
điểm này đƣợc khá nhiều học giả ủng hộ, đ c biệt là các nhà bảo tàng học, trong
lĩnh vực di sản văn hóa vật thể. Hạn chế của quan điểm này thể hiện ở chỗ đã g p
khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phái sinh và
giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào. Áp dụng quan điểm này dẫn đến sự
đóng băng di sản, không đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển, ít có lợi cho con ngƣời những chủ nhân hiện tại của di sản. Khái niệm nguyên gốc không vận dụng đƣợc
với việc nhận dạng di sản văn hóa phi vật thể bởi vì di sản văn hóa phi vật thể là
26
một thực thể sống luôn vận động, tái sáng tạo từ thế hệ này qua thế hệ khác, không
thể xác định đƣợc yếu tố nguyên gốc.
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa (theo Ashworth quan điểm này đƣợc
đề xuất từ những năm 1960) là xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay dựa
trên cơ sở mỗi di sản cần phải đ t trong một không gian và thời gian cụ thể. Khi đ t
trong không gian và thời gian hiện tại thì di sản cần phải phát huy giá trị văn hóa xã
hội phù hợp với xã hội hiện tại và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã
hội ấy. Vấn đề đ t ra với quan điểm này là, trong quá trình bảo tồn và quản lý để
khai thác giá trị di sản, tất yếu s g p khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào cộng
đồng và các nhà quản lý thực sự cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không c n
phù hợp, cần phải loại bỏ. Yếu tố chủ quan và chính trị của ngƣời đƣợc quyền quyết
đủ dài (200 năm) của ngành di sản văn hóa đã cho thấy những nhận định mới hoàn
toàn có cơ sở. Trong đó, những chu n mực, cách nhìn của những ngƣời có th m
quyền quyết định các vấn đề di sản văn hóa đóng vai tr quyết định. Hiển nhiên khi
xã hội và vai tr những ngƣời có th m quyền thay đổi, thì sự lý giải về di sản văn
hóa, hay giá trị di sản văn hóa cũng vì thế mà thay đổi theo và đƣơng nhiên, những
quan điểm về nhận thức và cách thức vận hành của quá trình quản lý di sản văn hóa
cũng không đóng khuôn một cách cố định.
Laurajane Smith - giảng viên chuyên ngành nghiên cứu di sản văn hóa và khảo
cổ của trƣờng Đại học York, Anh quốc và nhiều năm làm chuyên gia tƣ vấn về di sản
văn hóa cho rằng, những nhận thức về giá trị và nguyên tắc tiếp cận di sản văn hóa
hiện nay trên thế giới đang bị ảnh hƣởng n ng nề bởi tƣ tƣởng châu Âu, thông qua
các tổ chức chuyên môn và bộ máy kiểm soát văn hóa cấp nhà nƣớc ho c quốc tế
(nhƣ ICOMOS và UNESCO). Sự thống trị của tƣ tƣởng Âu châu, theo lý giải của bà,
mang tính lịch sử và chính trị, đồng thời đang hạn chế các hình thức sáng tạo di sản
văn hóa theo những cách khác, hình thành trong những bối cảnh có khác biệt. Vì vậy,
cần dựa vào thực ti n để đánh giá, nhìn nhận lại các nguyên tắc và nhận thức liên
quan đến di sản văn hóa và quản lý di sản văn hóa, mà trƣớc đến nay ch ng ta vẫn
tiếp nhận một cách tự nhiên, không phán xét. Mọi sự tồn tại của di sản văn hóa cùng
quá trình quản lý nó phải có mục đích và phải tạo ra những đóng góp tích cực cho sự
phát triển xã hội và văn hóa nói chung. Thực ti n tồn tại của các nền văn hóa những
28
chục năm gần đây cho thấy, vấn đề quản lý di sản văn hóa không c n nằm ở công
thức ứng xử với những sản ph m đƣợc coi là "di sản" - mà chủ yếu nằm ở nhận thức
về giá trị di sản và cách thức duy trì các giá trị đó - nhƣ những nền tảng cơ bản của xã
hội, cần thiết cho cuộc sống hôm nay và ngày mai [16].
Hƣớng theo quan niệm và nhận thức đã nêu trên đây, di sản đƣợc coi nhƣ sản
ph m của các quá trình văn hóa, nhƣ cách thức lựa chọn và sử dụng quá khứ của
ngày hôm nay, cho hôm nay và ngày mai. Quan điểm mới về di sản có thể dẫn đến