Hàn mặc tử là một trong những cây bút xuất sắc của dòng văn học thơ ca lãng mạn - Pdf 35

Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút xuất sắc của dòng văn học thơ ca lãng mạn. Thơ
của ông mang nhiều sắc thái khác nhau, có những vần thơ thấm đẫm nước mắt, nhưng
cũng có những vần thơ vô cùng trong trẻo tinh khiết. Bài thơ đây thôn vĩ dạ là một trong
những bài thơ hay nhất của Hàn về chủ đề tình yêu. Bài thơ được sáng tác khi ông mắc
bệnh nặng, vì thế mang một vẻ đượm buồn sâu sắc.
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ : sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Thôn Vĩ dạ nằm bên bờ sông hương thơ mộng, đã đi vào rất nhiều bài thơ bài văn . Câu
thơ vừa như lời trách cứ nhẹ nhàng, lời mời gọi tha thiết của người dân thôn Vĩ với nhà
thơ, vừa là lời tự vấn, thể hiện niềm ao ước thầm kín của nhà thơ được về chơi thôn vĩ.
Đó còn là câu thơ khơi gợi nguồn cảm xúc, gọi dậy trong tâm hồn nhà thơ bao kỉ niệm,
bào hình ảnh đẹp đẽ, đáng yêu của người dân thôn Vĩ. Trong dòng hồi tưởng của nhà thơ,
cảnh vườn tược thôn vĩ trong ánh bình minh được gợi tả thật đặc trưng và sống động :
Nhìn nắng hàng cau
…..
………….. mặt chữ điền”
“ nắng hàng cau” là ánh nắng chiếu trên những hàng cau. NHừng hàng cau thẳng tắp bao
quanh khuôn viên nhà- vườn thôn Vĩ đang vươn mình đón nắng mới lên- những tia nắng
đầu tiên tinh khôi ấm áp của một ngày. Nét vẽ đầu tiên trong bức tranh thôn vĩ đẹp trong
sắc náng thanh tân, trong sự hài hòa của ánh nắng vàng rực rỡ với hàng cau vun vút, xanh
tươi.

SPLUS - Học chủ động
Trang đã thích · Hôm qua ·
MB:
Nếu ai đã từng thưởng thức các sáng tác Huy Cận, ắt hẳn sẽ không thể không nhận ra
rằng: trước Cách mạng tháng Tám 1945, thơ ông thường mang nỗi sầu nhân thế và ca
ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên vũ trũ. Một trong những thi phẩm tiêu biểu cho hồn thơ ấy
của Huy Cận là bài “Tràng giang”. Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của
ông trước Cách mạng. Bài thơ được trích từ tập “Lửa thiêng”, mang tâm sự u hoài trước
kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời mênh mông, vô định. Bài thơ vừa có đượm nét
đẹp cổ điển lại vừa có nét hiện đại, đem đến nhiều yêu mến, say mê cùng những rung

nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của
Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về
những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi
nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng “điệp điệp”, nước “song song” ấy là
một “con thuyền xuôi mái”, lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng
sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng “tràng giang” dài và rộng
bao la không biết đến nhường nào.
Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong
lòng
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế
mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách“thuyền về nước lại”, nghe sao
đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Ta cảm


tưởng rằng thuyền về, con nước lại và một khoảng trống sẽ được mở ra, một khoảng
trống về một mối sầu lan toả, không chỉ được mở ra trên hai chiều trái ngược nhau mà là
mọi chiều trong không gian – “ sầu trăm ngả”. Nhà thơ viết “trăm ngả” dường như khiến
người đọc cảm nhận mối sầu ấy không có chỗ tận cùng, và nỗi buồn lại càng mênh mang
hơn nữa.
Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: “Củi một càng
khô lạc mấy dòng”. Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn
lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, “cành
khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, “lạc” mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh
trên “mấy dòng” nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi
nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy
trống vắng, đơn côi. Để từ đó, con người dường như đang lạc lối, bơ vơ , ngơ ngác trước
những dòng nước của con sông lớn ở trong hiện thực, cũng là trước con sông của nỗi
buồn ở lòng người. Nỗi buồn về sự nhỏ nhoi, cô đơn của một kiếp ngườởtớc dòng đời vô

giang.
Đến câu thơ thứ ba thì không gian được mở ra theo một chiều khác, chiều cao qua hình
ảnh của nắng và bầu trời :
“Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót.”
“Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa:
“lên” – “xuống”. Nắng xuống và trời lên, để lại một khoảng trống thăm thẳm mở ra, làm
nên cảm giác mà Huy Cận đã diễn tả bằng một sự kết hợp từ độc đáo – “ sâu chót vót ”.
“Sâu chót vót” là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp
hiện đại. Cụm từ này tạo cảm giác thăm thẳm về bầu trời và mặt nước. Không chỉ thế,
phải có chữ “sâu” để không gian được nhuộm trong gam màu, gam cảm xúc buồn, trầm
lắng.
Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả
vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với “sông dài,
trời rộng”, còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao:
“Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
Hình ảnh “bến cô liêu” với âm hưởng man mác của hai chữ “cô liêu” ấy, một lần nữa lại
gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu hạn trong thiên
nhiên, mà vụ trụ thì cứ mở ra mãi đến vô tận, vô cùng. Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra
qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người
thì buồn tẻ, chán chường với “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia lìa.
3/ Khổ 3:
Đến khổ thơ thứ ba, nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có
chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn.
Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu
hiu:
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cần gợi chút niềm thân mật,



“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước,


Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Có thể nói rằng đây là khổ thơ duy nhất mà mỗi câu thơ đều gợi ra liên tưởng về một câu
thơ Đường. Cũng không có khổ thơ nào trong “Tràng giang” lại vẽ ra trước mắt người
đọc hình ảnh trời chiều trên sông nước rõ ràng và gợi cảm như ở khổ bốn này.
Câu thơ thứ nhất đem đến cho ta cảm giác của một thiên nhiên vừa quen thuộc lại vừa lớn
lao, kì vĩ.
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”
Chỉ bảy chữ thôi mà câu thơ đã mở ra trước mắt người đọc một bức tranh mà ở đó những
làn mây dường như được đùn, đẩy từ nơi mà bầu trời tiếp liền cùng mặt nước, cứ chất
ngất mãi lên phía của trời cao thành hình giống như ngọn núi, nhưng lại là núi bạc.
Những đám mây kia đang phản quang những tia nắng của trời chiều, nhờ vậy mà ánh lên,
loá lên, hình thành một khoảng không gian lớn rộng, gợi nên cảm giác trong sáng hiếm
có ở bài thơ. Và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ
Đường cổ của Đỗ Phủ:
“Mặt đất mây đùn cửa ải xa”.
Vẫn nhìn lên bầu trời ấy, ở hai câu tiếp theo, nhà thơ điểm lên bức tranh bầu trời trên
dòng tràng giang hình ảnh một cánh chim, một hình ảnh rất đặc trưng cho buổi chiều tà.
“Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa”
Cánh chim ấy không khỏi làm cho những người yêu thơ nhớ đến một câu thơ của Vương
Bột :
“Lạc hà dữ cô lộ tề phi”
(Ráng chiều đang sa xuống với con cò lẻ loi cùng bay)
Song cánh chim chiều trong thơ Huy Cận không bình thản như thế thì nhà thơ nói đến
“chim nghiêng cánh nhỏ”. Chi tiết ấy đủ làm người đọc nhận ra bóng chiều đang buông
xuống. Bóng chiều vốn vô hình dường như giờ đây có thể được nhìn thấy như trong cảm

Đường.
Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như“sâu chót vót”,
dấu hai chấm thần tình. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương
ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng
góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.
KB:
Có thể nói “Tràng giang” đã, đang và sẽ mãi luôn đi sâu vào lòng người với phong cách
tiêu biểu rất Huy Cận, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang
nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Bài văn 9,5 điểm thi đại học của bạn Nguyễn Hồng Ngọc Lam
Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi
của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh,
sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi sầu về
kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như:


"Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ của
ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước
của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"... Vẻ
đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện
khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất
của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được
sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng
nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định.
Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện
đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc.
Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài
Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp
....

Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về
những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi
nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là
một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng
sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng
bao la không biết đến nhường nào.
Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong
lòng
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế
mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe
sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số
nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn.
Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng
khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn
lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành
khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh
trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi
nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy
trống vắng, đơn côi.
Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một
nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể
cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên
cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi
một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở
tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng.
Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển,
nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng
trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi
hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau
đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một
không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con
người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật.
Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những kết nối
của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo
mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông,


mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như
đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.
Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.
Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng
tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét
đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một
tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực
từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện
đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.
Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai
chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng
chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim

--------------------------------Câu III.a:
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915, mất năm 1951 một nhà văn hiện thực
xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Xuất thân từ tỉnh Hà Nam, nhà văn này đã từng
viết rất thành công về cuộc sống của người trí thức và người nông dân nghèo trước Cách
mạng tháng tám. Sau Cách mạng tháng tám, ông lại tự rèn luyện mình, dứt khoát từ bỏ lối
sống cũ để quyết tâm đi theo cách mạng. "Đôi mắt", được Nam Cao sáng tác tết 1948,
thời điểm nhận đường của giới văn nghệ sĩ, thể hiện đầy đủ phong cách của ông sau Cách
mạng tháng tám. Ban đầu Nam Cao đặt tựa là "Tiên sử thằng Tào Tháo", sau đổi là "Đôi
mắt" vì ông nhận thấy vấn đề quan trọng hơn hết lúc bấy giờ là cách nhìn của giới văn
nghệ sĩ. Trong tác phẩm hai nhân vật chính, Hoàng và Độ, có cách nhìn hoàn toàn trái
ngược nhau, mới nổi bật là cách nhìn về người nông dân, đã phần nào nói lên vấn đề
quan điểm, lập trường của Nam Cao.
Hoàng và Độ là hai nhà văn, Hoàng là nhà văn anh, còn Độ thuộc lớp đàn em. Cả hai có
cách sống, cách suy nghĩ và cách nhìn đời, nhìn người đối lập hẳn nhau, đặc biệt là khi
nhìn người nông dân.
Hoàng sống phong lưu, xa hoa, tách rời với quần chúng nhân dân nên anh có cách nhìn
lệch lạc, sai trái, phiến diện một chiều về người nông dân. Anh không thể nhìn ra được
nét đẹp bên trong tâm hồn họ, mà chỉ thấy cái ngố bề ngoài.
Trong mắt Hoàng những người nông dân nghèo khổ ấy đầy những tính xấu: "Toàn là
những người ngu đần, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam, bần tiện cả". Dường như với Hoàng mọi
sự xấu xa của con người đã tập trung về cả người nông dân. Anh nhìn thấy họ là một lũ lố
lăng: "Cái ông thanh niên, các bà phụ nữ lại còn nhố nhăng", anh phiền vì sự "nhăng xị"
của họ: "Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên.
Không chỉ nhố nhăng họ còn lại hay nói chữ mở miệng ra "đề nghị, yêu cầu, phê bình,
cảnh cáo". Hoàng cho đó là chuyện thật nực cười. Anh không thấy được sự cố gắng của
người nông dân kém hiểu biết nhưng lại rất đỗi yêu nước. Thấy người nông dân đọc
thuộc lòng bài "ba giai đoạn", anh cho đó là con vẹt biết nói, dây dưa, lôi thôi, mồm nói
vội lắm vậy mà đọc cho anh nghe "cả một bài dài đến năm trang giấy".



chán nản. Nhưng khi cách mạng mở ra, Độ đã "ngã ngữa người ra" vì thấy được sức
mạnh thật sự của quần chúng, vẻ đẹp tâm hồn người nông dân.
Độ nhận ra họ là những con người rất giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc:
"Vô số anh răng đen mắt toét, gọi lựu đạn là nựu đạn, hát "Tiến quân ca" như người buồn
ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm". Anh đã "đi khắp làng này đến
làng kia" để tìm hiểu ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn người nông dân, anh khao khát
thấu được nét đẹp của họ, vì với anh thì những người nông dân "vẫn còn là một bí mật".
"bí ẩn", bởi Độ đã thấy được sức mạnh tiềm ẩn của họ, chứ không như Hoàng, chỉ thấy
phơi bày trước mắt bao nhiêu là tính xấu.


Độ biết người nông dân yêu nước lắm, vì thế, cùng một sự việc anh thanh niên đọc thuộc
lòng bài "ba gia đoạn". Độ không cho anh ta là con vẹt biết nói, mà Độ thấy được bó tre
anh thanh niên vác đi để ngăn quân thù. Tấm lòng nhân hậu, đầy cảm thông của Độ đã
nhìn thấu một trái tim yêu nước bên trong "cái ngố bề ngoài".
Phải hòa nhập vào nông dân, phải trải qua những khó khăn, gian khổ mà người nông dân
chịu đựng, Độ mới cảm nhận và hiểu sâu sắc suy nghĩ, tâm hồn của họ đến thế. Dù chỉ là
một "anh tuyên truyền viên nhãi nhép" nhưng có thể nói Độ đã đóng góp được rất nhiều
cho đất nước. Anh đã có cái nhìn đúng đắn, chân thật mà cũng đầy cảm thông, cái nhìn
của một tấm lòng nhân ái, chứ không phải của tâm hồn hẹp hòi, ích kỉ như Độ.
Nếu như Hoàng chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài rồi từ đó thổi phồng, qui thành bản chất thì Độ
cũng thấy sự thật rành rành, nhưng không dừng lại ở đó, Độ nhìn thấu vào tận sâu thẳm
bên trong tâm hồn người nông dân. Nếu như cái nhìn của Hoàng là phiến diện, lệch lạc
một chiều, một phía thì Độ có cái nhìn tiến bộ, đúng đắn, đầy cảm thông.
Qua hai cái nhìn trái ngược, đối lập của hai nhân vật Hoàng và Độ. Nam Cao đã bộc lộ
quan điểm đầy tiến bộ về cái nhìn đời, nhìn người của văn nghệ sĩ kháng chiến. Nhà văn
phải "sống đã rồi hãy viết", phải nhìn ra thấu hiểu trái tim con người, mà muốn làm được
điều đó thì nhà văn cần có một trái tim nhân hậu, có cái tâm.
Nhan đề "Đôi mắt" giản dị nhưng rất gợi mở, rất đặc sắc đã thâu tóm được giá trị tư
tưởng của cả bài. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở cách nhìn về người nông dân của Hoàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status