PHÂN TÍCH NHỮNG ĐÁNH GIÁ của các NHÀ NHÀ đầu tư về GIÁ TRỊ sản PHẨM HIỆN có TRONG MARKETING LÃNH THỔ ở TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING

NCS. Phạm Công Toàn

CHUYÊN ĐỀ 2:
PHÂN TÍCH NHỮNG ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ NHÀ ĐẦU TƯ
VỀ GIÁ TRỊ SẢN PHẨM HIỆN CÓ TRONG MARKETING LÃNH THỔ
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VÀ KẾ HOẠCH HOÁ KINH TẾ QUỐC DÂN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH (MARKETING)
MÃ CHUYÊN NGÀNH: 62.34.05.01

Hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: GS, TS. Trần Minh Đạo
Hướng dẫn 2: PGS, TS. Vũ Trí Dũng

Hà Nội, tháng 11/2007


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KẾT
QUẢ THU HÚT ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH
THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 1996 - 2005
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG ĐÁNH GIÁ CỦA
CÁC NHÀ ĐẦU TƯ VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN

được từ việc đầu tư vào lãnh thổ đó.
Nằm ở vị trí chiến lược của khu vực miền núi phía Bắc Việt
Nam, phía trên của thủ đô Hà Nội, tỉnh Thái Nguyên được xem là khu
vực lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phát triển toàn diện cả về mặt kinh tế
và mặt xã hội. Tuy nhiên, thực tế đánh giá của nhiều nhà quản lý cho
thấy, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong
nhiều năm qua chưa tương xứng với tiềm năng, vị trí và nhiệm vụ mà
Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Nguyên nhân chính được đề cập đến
chính là khả năng thu hút đầu tư phát triển, xét trên cả hai phương
diện phát huy nội lực và ngoại lực.
Tìm hiểu và phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá
trị sản phẩm địa phương của tỉnh Thái Nguyên là việc làm cần thiết để
giúp các nhà quản lý có được những quyết định đúng đắn hơn trong

3


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

việc tạo ra sản phẩm địa phương của tỉnh nhà ngày càng hoàn thiện và
phù hợp với nhu cầu cũng như những đòi hỏi của các nhà đầu tư.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Những kết quả đánh giá sản phẩm lãnh thổ cấp địa phương cho
trường hợp của tỉnh Thái Nguyên qua kết quả của một số cuộc điều tra
nghiên cứu chính thức.
- Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3. Phương pháp nghiên cứu
Chủ yếu sử dụng các phương pháp: thống kê, phân tích, so sánh

5


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

PHẦN 1
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KẾT QUẢ THU HÚT
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI
ĐOẠN 1996 - 2005
1.1 Một số nét cơ bản về tỉnh Thái Nguyên
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Thái Nguyên có diện tích đất tự nhiên không lớn với 3.541,1
km2, chiếm 1,13% diện tích cả nước. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía
tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn,
Bắc Giang, phía Nam giáp thủ đô Hà Nội.
1.1.1.2 Địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc - Nam,
thấp dần xuống phía Nam và chấm dứt ở đèo Khế. Cấu trúc vùng núi
phía Bắc chủ yếu là đá phong hoá mạnh (castơ) tạo thành nhiều hang
động, thung lũng nhỏ. Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao
nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam. Ngoài hai dãy núi kể trên, tỉnh còn có dãy Ngân Sơn (bắt
đầu từ Bắc Kạn chạy theo theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến
huyện Võ Nhai) và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam.
Là tỉnh trung du, miền núi, nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên
không phức tạp lắm nếu so với các tỉnh trung du, miền núi khác trong
vùng. Đây là điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong quá trình phát triển sản
6

năm, vì vậy thường gây ra những trận lũ lớn. Vào mùa khô, đặc biệt là
tháng 12, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% lượng mưa cả năm.
7


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

1.1.1.5 Hệ thống sông
Thái Nguyên có 2 sông chính là sông Công và sông Cầu, trong
đó:
Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, có lưu vực 3.480
km2, bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), chảy theo hướng Bắc Đông Nam. Hệ thống thuỷ nông sông Cầu (trong đó có đập dâng Thác
Huống) đảm bảo nước tưới cho 24 nghìn ha lúa 2 vụ của các huyện
Phú Bình (Thái Nguyên) và Hiệp Hoà, Tân Yên (Bắc Giang).
Sông Công có lưu vực 951 km2, bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá
(huyện Định Hoá), chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng
mưa lớn nhất của tỉnh. Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ, tạo
thành Hồ Núi Cốc, có mặt nước rộng khoảng 25km2, dung lượng 175
triệu m3 nước, có tác dụng điều hoà dòng chảy và chủ động tưới tiêu
nước cho hơn 10 nghìn ha lúa 2 vụ, hoa màu, cây công nghiệp và cung
cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều sông nhỏ thuộc hệ thống sông Kỳ
Cùng và sông Lô. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, trên
các con sông chảy qua tỉnh có thể xây dựng nhiều công trình thuỷ điện
kết hợp với thuỷ lợi quy mô nhỏ. Việc xây dựng các công trình này sẽ
góp phần thay đổi diện mạo nông thôn vùng cao.
1.1.1.6 Tài nguyên đất
Đất núi: chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, nằm ở độ cao trên
200m so với mực nước biển, hình thành do sự phong hoá trên đá mắcma, đá biến chất và đá trầm tích. Đất núi thích hợp cho việc phát triển
lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh doanh và

Nguyên nhiệm vụ rất nặng nề trong việc bảo vệ, trồng mới rừng.
1.1.1.8 Tài nguyên khoáng sản

9


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

Trong lòng đất Thái Nguyên chứa đựng những nguồn tài nguyên
khoáng sản phong phú, đa dạng. Theo tài liệu điều tra của Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh, Thái Nguyên có tiềm năng rất lớn về
khoáng sản, phân bố tập trung tại các huyện Đại Từ, Phú Yên, Đồng
Hỷ và Võ Nhai.
Khoáng sản nhiên liệu: sau Quảng Ninh, Thái Nguyên được
đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong cả nước, đáp ứng
nhu cầu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện và các nhu
cầu khác không chỉ trong tỉnh Thái Nguyên.
Đến năm 2004, tỉnh đã thăm dò và đăng ký 10 mỏ và
điểm than đá, tổng trữ lượng đã được thăm dò là 71,9
triệu tấn. Trong đó, đáng kể nhất là than antraxit với các
mỏ Núi Hồng (sản lượng khai thác khoảng 300 nghìn
tấn/năm), Khánh Hoà (khoảng 180 nghìn tấn/năm), Bá
Sơn (35 nghìn tấn/năm). Trữ lượng than mỡ chiếm số
lượng lớn với mỏ Phấn Mễ (100 nghìn tấn/năm) và mỏ
Làng Cẩm (25 nghìn tấn/năm).
Khoáng sản kim loại: Thái Nguyên là tỉnh giàu tài nguyên kim
loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm. Đến năm 2004, toàn tỉnh
đã đăng ký 39 mỏ và điểm quặng sắt, với tổng trữ lượng trên 50 triệu
tấn, trong đó nhiều mỏ có trữ lượng 1 - 5 triệu tấn. Hàm lượng Fe đạt
58,8 - 62,8%, được xếp vào loại có chất lượng tốt. Riêng mỏ Tiến Bộ

có nhiều điểm quặng ở Định Hoá. Bên cạnh đó, đôlômít có 3 mỏ đã
được thăm dò ở Đồng Hỷ, Võ Nhai với trữ lượng trên 100 triệu tấn.
Sét (xi măng), tổng trữ lượng đã thăm dò hơn 60 triệu tấn, tập trung ở
các vùng Cúc Đường (La Hiên) và Khe Mo (Đồng Hỷ). Sét cao lanh
có ở nhiều nơi, trữ lượng đã thăm dò 356.937 tấn, trong đó có một mỏ
sét (cao lanh) trữ lượng lớn, chất lượng cao được phát hiện ở Đại Từ,
dự đoán trữ lượng trên 20 triệu tấn. Loại sét này có thể phục vụ cho
11


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

sản xuất gốm sứ, gạch chịu lửa, ... Sét (gạch ngói) đã đăng ký 12 mỏ
và điểm, trong đó đa số đã được thăm dò, tổng trữ lượng trên 30 triệu
m3. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có trữ lượng cát, cuội, sỏi khá lớn,
phân bổ chủ yếu ở trên sông Cầu và sông Công.
1.1.1.9 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch của Thái Nguyên rất đa dạng. Trong đó, hồ
Núi Cốc với diện tích 25km2 cùng nhiều đảo lớn nhỏ trong lòng hồ đã
mở ra tiềm năng du lịch lớn nhất tỉnh. Khu du lịch hồ Núi Cốc cách
thành phố Thái Nguyên 20km về phía Tây, với phong cảnh sơn thuỷ
hữu tình đã trở thành khu du lịch lớn nhất của tỉnh, thu hút đông đảo
du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng, kéo theo sự phát triển của các
loại hình du lịch, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương,
đồng thời mang lại cho tỉnh khoản thu không nhỏ. Ngoài ra, Thái
Nguyên còn có bãi đá cổ Thần Sa, Mái Đá Ngườm, nơi được coi là cái
nôi của người tiền cổ. Cùng với đó, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà,
thác Mưa Roi (huyện Võ Nhai), thác Bảy Tầng, cây đa nghìn tuổi
(huyện Định Hoá),... là những tiềm năng du lịch lớn của tỉnh.
Thái Nguyên còn có tài nguyên du lịch nhân văn khá lớn với

Bá Sơn (35 nghìn tấn/năm). Trữ lượng than mỡ chiếm số lượng lớn
với mỏ Phấn Mễ (100 nghìn tấn/năm) và mỏ Làng Cẩm (25 nghìn
tấn/năm).
1.1.2 Đặc điểm xã hội
1.1.2.1 Cơ cấu hành chính
Tỉnh Thái Nguyên bao gồm 7 huyện (Phổ Yên, Phú Bình, Đại
Từ, Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai và Đồng Hỷ), 1 thành phố trực
thuộc tỉnh (thành phố Thái Nguyên) và 1 thị xã (thị xã Sông Công).
1.1.2.2 Dân số
Thái Nguyên có khoảng 1,1 triệu dân, gồm 8 dân tộc, chủ yếu là
người Kinh (chiếm khoảng 75%). Mật độ dân số trung bình 260
13


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

người/km2, cao nhất trong các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, dân
cư phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt.
Trong khi đó, ở vùng thành thị cà đồng bằng dân cư rất dày đặc. Nơi
có mật độ dân cư cao nhất là thành phố Thái Nguyên (1.300
người/km2), nơi có mật độ dân cư thấp nhất là huyện Võ Nhai (khoảng
80 người/km2).
1.1.2.3 Hạ tầng giao thông
Hệ thống giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho Thái Nguyên
đẩy mạnh giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội với các địa phương khác
trong vùng và cả nước. Hệ thống đường bộ của tỉnh có tổng chiều dài
2.753km. Quốc lộ 3 từ Hà Nội đi Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc tỉnh
Thái Nguyên, chạy qua thành phố Thái Nguyên - cửa ngõ phía Nam
nối Thái Nguyên với Hà Nội, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và cá tỉnh,
thành phố trong cả nước. Các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) của
tỉnh năm 2005 đạt gần 3.757 tỷ đồng tính theo giá so sánh 1994 (gần
6.459 tỷ đồng theo giá hiện hành). GDP bình quân đầu người theo giá
hiện hành của tỉnh đạt 5,83 triệu đồng, cao hơn nhiều mức trung bình
của vùng (4,51 triệu đồng) nhưng thấp hơn nhiều so với mức bình
quân của cả nước (10,08 triệu đồng). Như vậy, tỉnh có điểm xuất phát
thuận lợi hơn nhiều tỉnh khác trong vùng nhưng lại không thuận lợi
bằng hầu hết các địa phương khác trong cả nước.
1.2.1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của tỉnh
trong cả thời kỳ 1997-2005 cao hơn mức bình quân của toàn vùng,
nhưng trong giai đoạn 2001-2005 lại thấp hơn mức bình quân của
vùng (9,05% so với 10,33%).
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của tỉnh đạt 8,69%
cả thời kỳ 1997-2005, trong đó giai đoạn 1997-2000 là 8,25% và giai
đoạn 2001-2005 là 9,05%. Năm 2005 tốc độ tăng GDP của tỉnh dự
15


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

kiến đạt 8,9%. Các tốc độ trên đều cao hơn mức tăng chung của cả
nước nhưng thấp hơn mức tăng của một số tỉnh khác trong vùng và
nhiều địa phương khác trong cả nước.
Vai trò của tỉnh trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ ngày càng
được tăng cường, thể hiện rõ qua một số chỉ tiêu quan trọng: Tỷ trọng
GDP (theo giá hiện hành) của tỉnh trong vùng ngày càng tăng lên (từ
12,13% năm 2000 lêm 13,2% năm 2005); GDP bình quân đầu người
tính theo giá hiện hành của tỉnh đạt 111,9% mức bình quân của vùng
năm 2000 và tăng lên 129,2% năm 2005.
Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh năm 2005 đạt trên 31,6 triệu

tăng 13%); dịch vụ vận tải kho bãi và thông tin liên lạc tăng tương
ứng 12,5% và 9,8% trong hai giai đoạn này.
Một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như thép (cán), xi măng, giấy
có tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị tăng thêm và giá trị xuất khẩu của
sản phẩm chè chế biến (một trong những sản phẩm xuất khẩu quan
trọng của tỉnh) tăng nhanh.
Tuy nhiên, có thể thấy tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ tỉnh nói
chung và ngành du lịch - khách sạn - nhà hàng tỉnh nói riêng chưa
tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
1.2.1.4 Hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh đã được
nâng lên theo thời gian nhưng mức cải thiện chưa lớn
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế tỉnh tính theo GDP giá
so sánh 1994 tăng tương đối nhanh: bình quân cả thời kỳ 1992-2005
tăng 6,62%/năm. Năng suất lao động trong khu vực nông - lâm - thủy
sản tăng nhanh nhất (bình quân 4,85%/năm) nhưng con số tuyệt đối
rất nhỏ, tiếp đó là khu vực công nghiệp - xây dựng (bình quân 3,2%/
năm). Năng suất lao động trong ngành dịch vụ tăng chậm nhất ( bình
quân 1,98%/năm) và có những năm còn bị giảm đi (năm 2002 và 2003
giảm so với năm 2001). Mức năng suất chung của toàn nền kinh tế
17


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

tỉnh năm 2005 tính theo GDP giá so sánh 1994 đạt 6,27 triệu đồng
(giá hiện hành đạt 10,78 triệu đồng), cao hơn nhiều so với mức trung
bình của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ (tương ứng là 4,3 triệu đồng
và 7,6 triệu đồng) nhưng thấp hơn nhiều so với mức bình quân trong
cả nước (tương ứng là 9,2 triệu đồng và 19,62 triệu đồng). Ngành
công nghiệp - xây dựng tỉnh hiện có mức năng suất lao động cao nhất

thị trường...).
Phần đóng góp của ngành nông - lâm - thủy sản cho GDP tỉnh
giảm nhanh qua các năm (mặc dù vẫn tăng lên về giá trị tuyệt đối),
phù hợp với đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Tỷ trọng của ngành này giảm từ
36,9% năm 1996 xuống 33,7% năm 2000 và tiếp đó xuống 26,9%
năm 2004 và 26,5% năm 2005.
Cơ cấu theo thành phần kinh tế đang chuyển dịch theo đúng quy
luật của nền kinh tế thị trường với sự tăng trưởng rất nhanh và gia tăng
dần tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, nhất là trong các
lĩnh vực thương mại, du lịch, khách sạn - nhà hàng, giao thông vận tải.
Tuy nhiên, nhìn chung hoạt động của các loại hình kinh tế tư nhân vẫn
mang tính tự phát, quy mô còn nhỏ bé, vốn và lao động ít, doanh thu
thấp so với bình quân chung của cả nước, hiệu quả kinh doanh chưa
cao. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng có đóng
góp cho GDP của tỉnh và xuất khẩu nhưng tỷ trọng còn nhỏ và mới
chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp. Năm 2004, khu vực này đóng góp
6,2% cho giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh.
Chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của tỉnh đã
góp phần vào chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế phù hợp với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu thế phát triển
chung.

19


Phân tích những đánh giá của các nhà đầu tư về giá trị sản phẩm hiện có ....

Chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của tỉnh được
thực hiện có hiệu quả kể từ năm 1998 đến nay. Chương trình nhìn


Nguyên như mô hình kinh tế trang trại, kinh tế gò đồi ... Hệ thống kết
cấu hạ tầng nông thôn được cải thiện đáng kể trong những năm qua.
1.3 Thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực và sản phẩm
chủ lực
1.3.1 Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các sản
phẩm chủ lực
1.3.1.1 Tăng trưởng và cơ cấu
Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công
nghiệp. Trong thời kỳ 1996-2005, GDP ngành tăng bình quân hàng
năm 9,93% (trong đó giai đoạn 2001-2005 tăng nhanh hơn, đạt
12,45%/năm, riêng ngành công nghiệp tăng nhanh hơn với tốc độ
13,65%/năm).
Tỷ trọng của ngành trong GDP toàn tỉnh liên tục tăng lên qua
các năm và cho tới nay ngành này vẫn đóng góp nhiều nhất cho GDP
của tỉnh. Năm 2005, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 38,64%
GDP toàn tỉnh. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công
nghiệp hóa đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của
tỉnh, từng bước khẳng định xu thế đúng đắn trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của tỉnh.
Sau một số năm sản xuất công nghiệp sa sút (năm 1998, 1999
tăng trưởng âm), từ năm 2000 đến nay, sau khi Khu Gang thép được
phục hồi, sản xuất công nghiệp trên địa bàn được phục hồi nhanh với
tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức khá cao. Trừ năm 2003, giá trị sản
xuất công nghiệp tỉnh (theo giá so sánh năm 1994) hàng năm đều tăng
trên 13%, riêng năm 2001 tăng tới 30,1%, bình quân cả giai đoạn
2001-2005 tăng 17%. Năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp theo giá
21




NCS. Phạm Công Toàn

Khoá 26 (2005 - 2008)

loại quặng khai thác sau khi khai thác đều được bán thô. Các thiết bị
phân tích kiểm tra tiên tiến, hiện đại không có.
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Gồm cát, sỏi, xi măng,
sét, đá xẻ, gạch xây..., tập trung ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, thành phố Thái
Nguyên, Phú Lương, Phổ Yên. Ngành khai thác cát sỏi xây dựng tập
trung ở khu vực sông Cầu, sông Công. Có 9 doanh nghiệp và 4 nhà
máy xi măng lò đứng với công suất nhỏ. Có hai nhà máy sản xuất
gạch tuy-nen: Nhà máy gạch Cao Ngạn có công suất 20 triệu viên/năm
và nhà máy gạch Phổ Yên mới đưa vào vận hành với công suất thiết
kế 50 triệu viên/năm.
- Công nghiệp nhẹ: Các sản phẩm chủ yếu là hàng may mặc, da
giày, giấy, tơ tằm, bao bì, thực phẩm tươi sống, bia, nước giải khát,
lắp ráp, kinh doanh xe máy...
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm: Các sản phẩm
chủ yếu của ngành là chè, trái cây, bia hơi, thực phẩm đông lạnh, nước
khoáng,...
- Công nghiệp điện tử tin học: Gồm lắp ráp điện tử, ứng dụng
công nghệ thông tin, dịch vụ cung cấp, sửa chữa lắp đặt, bảo trì các
thiết bị điện tử tin học.
Từ năm 2000 đến 2005, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu
truyền thống của tỉnh phát triển khá. Năm 2005 sản lượng khai thác
than sạch đạt 753,7 nghìn tấn, thiếc thỏi 340 nghìn tấn, xi măng 492,1
nghìn tấn, thép cán kéo 564,7 nghìn tấn. Nhiều sản phẩm hàng hóa
mới như giấy, đồ uống, hàng may mặc, vật liệu xây dựng đã được thị
trường chấp nhận, sản lượng tăng khá nhanh qua các năm.

Trong những năm qua, tuy các thành phần kinh tế đã đầu tư
nhiều cho cải tạo nhà xưởng, nâng cấp máy móc, trang thiết bị, ... để
24


NCS. Phạm Công Toàn

Khoá 26 (2005 - 2008)

tăng năng lực sản xuất nhưng trình độ công nghệ của các ngành công
nghiệp tỉnh nhìn chung chưa cao, trang thiết bị sử dụng trong chế biến,
chế tạo còn đơn giản, lao động thủ công còn chiếm tỷ lệ tương đối lớn
trong hoạt động sản xuất công nghiệp.
Trang bị trong ngành công nghiệp có tới trên 60% là thiết bị,
công nghệ cũ, lạc hậu. Tốc độ đổi mới công nghệ thấp chỉ ở mức
3%/năm. Tính chung năng lực sản xuất công nghiệp chưa vượt quá
50% công suất thiết kế với mức cơ giới hóa 45%. Mức tiêu hao năng
lượng, nguyên liệu cao hơn gấp nhiều lần mức trung bình tiên tiến của
thế giới. Sản phẩm đạt chất lượng thấp, chỉ đạt khoảng 70% tiêu chuẩn
nội địa, 15% tiêu chuẩn xuất khẩu.
Các cơ sở sản xuất cơ khí trong tỉnh được đầu tư xây dựng từ
thập kỷ 70, trang thiết bị lạc hậu. Ngành chế biến khoáng sản của tỉnh
sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.
Một số cơ sở chế biến sử dụng công nghệ nhập khẩu, ví dụ chế
biến chè khô (công nghệ Nhật Bản), chế biến lợn sữa đông lạnh (công
nghệ Đài Loan), nhưng trình độ công nghệ mới chỉ ở mức trung bình.
Nguồn vốn đầu tư có hạn là lý do chủ yếu khiến cho trình độ công
nghệ của ngành công nghiệp tỉnh thấp hơn so với địa phương khác
trong cả nước.
1.3.2.4 Thực trạng lao động, năng suất lao động công nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status