Câu hỏi ôn thi lịch sử việt nam lớp 12 - Pdf 35

LỚP 12 - CÂU HỎI LỊCH SỬ VIỆT NAM
Câu 1:
Tóm tắt sự chuyển biến của kinh tế Việt Nam dưới tác động của những cuộc khai thác thuộc địa
do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương.
Sau khi dập tắt phong trào phong trào Cần Vương, thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc
bình định nước Việt Nam và tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất do Pôn
Đume phụ trách. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành chương trình khai thác lần
thứ hai do Anbe Xarô phụ trách. Dưới tác động của các chương trình này, nền kinh tế Việt Nam
có sự biến chuyển.
a) Về tính chất của nền kinh tế
- Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tính chất nền kinh tế Việt Nam ít
nhiều có sự biến đổi. Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, gắn liền với sự ra đời những đô thị
mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành và
có sự phát triển.
- Tuy nhiên, sự chuyển biến trên chỉ có tính chất cục bộ ở một số vùng, còn phổ biến vẫn trong
tình trạng lạc hậu, nghèo nàn và bị cột chặt và nền kinh tế Pháp. Đông Dương vẫn là thị trường
độc chiếm của tư bản Pháp.
b) Và cơ cấu kinh tế
- Và cơ cấu ngành kinh tế
+ Từ một nền kinh tế thuần nông, đã xuất hiện những ngành kinh tế mới như công nghiệp, giao
thông vận tải, tài chính ngân hàng,…
+ Trong nông nghiệp : diện tích đồn điền cao su đặt mở rộng, nhiều công ty cao su đặt thành lập.
(Công ty Đất Đỏ, Công ty Misơlanh…)
+ Trong công nghiệp: việc khai thác mỏ, trước hết là khai thác than đặt chú trọng. Nhiều công ty
khai thác than đặt thành lập. (Công ty than Hạ Long, Đông Triều…) Các cơ sở khai thác kẽm,
thiếc, sắt đều đặt bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác.
+ Thương nghiệp, ngoại thương có bước phát triển mới. Giao lưu hàng hóa nội địa đặt đẩy mạnh.


+ Trog ngành tài chính – ngân hàng: Ngân hàng Đông Dương nắm quyền kinh tế Đông Dương.
Năm 1930, ngân sách tăng 3 lần so với 1912.

bước lên địa vị người làm chủ đất nước. Đảng Cộng sản từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp
pháp, trở thành một Đảng cầm quyền. Dân tộc Việt Nam tiến lên hàng các dân tộc tiên phong
trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới của dân
tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do; kỉ nguyên nhân dân lao động năm chính quyền; kỉ nguyên giải
phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội.
- Góp phần vào chiến thắng của phe Đồng minh chống phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ
hai, đột phá một khâu trọng yếu trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; cổ vũ mạnh mẽ
các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh giành độc lập ở Á, Phi, Mĩ Latinh, “có ảnh hưởng trực tiếp
và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào”.
b) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp gần
một thế kỉ trên đất nước Việt Nam.
- Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cm xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho cuộc đấu
tranh thống nhất đất nước, trở thành căn cứ địa của cuộc cách mạng cả nước, thành hậu phương
lớ của tiền tuyến lớn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước sau này.
- Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần
làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng
dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mĩ Latinh.
c) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975)
- Kết thúc thắng lợi 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở Việt
Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước, thống nhất
Tổ quốc.
- Mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỉ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ
nghĩa xã hội.
- Tác động mạnh đến tình hình nước Mĩ và thế giới, là nguồn cổ vũ lớn đối với phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới.





- Hai là, xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đoàn kết mọi lực lượng chống đế
quốc. Đó là bài học về xây dựng lực lượng cách mạng.
Trong xã hội Việt Nam thuộc địa có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau. Trừ bộ phận đại địa
chủ phong kiến phản động và tư sản mại bản làm tay sai cho đế quốc, những giai cấp và tầng lớp
còn lại (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ) đều chung số phận
đất nước và đều có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, nền đều có thể tham gia cách
mạng giải phóng dân tộc.
Để chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo xây dựng Mặt
trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên “Cứu quốc”, đoàn kết mọi người Việt Nam
có lòng yêu nước thương nòi, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,
tạo ra sức mạnh toàn dân tộc, đồng thời phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù là đế quốc xâm lược và
tay sai để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng.
Mặt trận Việt Minh đã huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận tuyến đấu tranh cách mạng, tan
rã sức mạnh áp đảo, đưa Tổng khởi nghĩa tháng Tám đến thành công. Thực tiễn đó để lại bài
học, để xây dựng một mặt trận thống nhất dân tộc rộng rãi, dựa trên cơ sở khối liên minh công
nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh và độc
lập tự do.
- Ba là, phải kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, tiến lên chớp đúng thời cơ tổng khởi
nghĩa ở cả nông thôn và thành thị. Đây là bài học về phương pháp, cách mạng, về nghệ thuật chỉ
đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Trong điều kiện một nước thuộc địa, kẻ thù luôn dùng bạo lực đặt thống trị và bóc lột quần
chúng, thì con đường đã tự giải phóng, dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay
sai, thiết lập chính quyền cách mạng.
Bạo lực của Cách mạng tháng Tám năm 1945 dựa trên cơ sở hai lực lượng: lực lượng chính trị
và lực lượng vũ trang; biểu hiện ở sự kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu
tranh vũ trang trong một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân; đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến
tranh du kích cục bộ ở vùng nông thôn, tiến lên chớp thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và

- Từ năm 1974, Trung Quốc dùng lực lượng quân sự đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa
dưới sự quản lí của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến năm 1988m Trung Quốc chiếm một
số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ngày 1-5-2014, Trung Quốc cho giàn khoan
Hải Dương 981 và các tàu bảo vệ ngang nhiên hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, vi
phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC). Việt Nam có đầy đủ


cơ sở pháp lí, chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa; quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa ở Biển Đông.
- Trong tình hình trên, có thể và cần phải vận dụng bài học: “Tăng cường xây dựng mặt trận dân
tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp, tổ chức, đoàn kết mọi lực lượng trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam, tạo nên sức mạnh toàn dân, tạo cơ sở thực lực để đấu tranh bằng mọi biện pháp cần thiết
nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn dân, Việt Nam có điều kiện để đoàn kết với
các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước trong cộng đồng thế giới, tranh thủ sự đồng
tình ủng hộ của nhân dân thế giới, làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam, vạch trần hành động vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc, qua đó cô lập và làm
thất bại hành động của họ. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: tình hình biển Đông hiện đang diễn
biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo,
sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thỗ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát
triển đất nước.

Câu 4:
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các giai cấp trong xã hội Việt Nam có sự chuyển biến như thế
nào? Sự chuyển biến đó có tận dụng gì đối với phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong
những năm 1919-1930?

quốc và thực dân Pháp
- Từ tháng 9-1945 đến trước ngày 6-3-1946: thực hiện sách lược hòa hoãn với quân Trung Hoa
Dân quốc. Đó là việc làm cần thiết vì:
+ So sánh lực lượng chưa có lợi cho cách mạng, cần tránh trường hợp phải đánh nhiều kẻ thù
cùng một lúc.
+ Cần có thời gian hòa bình để củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng cách mạng về mọi
mặt.
+ Mặt khác, Trung Hoa Dân quốc đang phải lo đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc.
Nội bộ của Trung Hoa Dân quốc có mâu thuẫn, Việt Nam có thể lợi dụng những khó khăn đó để
hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc.


- Từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946: thực hiện sách lược "hòa để tiến", nhân nhượng
với Pháp. Đó là sự thay đổi sách lược phù hợp với tình hình đất nước lúc đó vì:
+ Hiệp ước Hoa - Pháp được kí kết (28-2-1946). Theo đó, quân Pháp được thay quân Trung Hoa
Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16. Tình hình đó đặt Việt Nam trước
hai khả năng: hoặc là phải đánh hai kẻ thù cùng lúc, hoặc là hòa hoãn với Pháp để đuổi quân
Trung Hoa Dân quốc về nước. Để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng lúc, Chính
phủ Việt Nam quyết định hòa hoãn với Pháp.
+ Hòa hoãn với Pháp có tác dụng đẩy quân Trung Hoa Dân quốc về nước, bớt cho nhân dân Việt
Nam một kẻ thù nguy hiểm.
+ Tạo ra thời gian hòa bình vô cùng quý báu để củng cố lực lượng kháng chiến Nam Bộ và Nam
Trung Bộ; tiếp tục củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho một cuộc kháng
chiến lâu dài.

Câu 7:
Nêu những điểm khác nhau giữa Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
(đầu năm 1930) và Luận cương chính trị (10-1930) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Vì sao có
sự khác nhau đó?
a) Những điểm khác nhau

năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc của tư sản dân tộc, khả năng phân hóa
và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ đi theo cách mạng.
b) Vì sao có sự khác biệt đó?
- Do nhận thức thực tiễn: Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại hội nghị tháng 10-1930 chưa
nhận thức được mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc bị
áp bức với đế quốc xâm lược, nên không nhận thức được nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là
giải phóng dân tộc. Từ đó, Trung ương Đảng không thấy được mặt tích cực của giai cấp và tầng
lớp trên, nên không coi họ là lực lượng cách mạng.
- Do ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, giáo điều, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp đang
tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản anh em lúc đó. Về sau này, trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đặt từng bước khắc phục những hạn chế của Luận cương chính
trị tháng 10-1930 và đưa cách mạng đến thành công.

Câu 8:
Dựa vào những dữ liệu trong bảng dưới đây và những kiến thức đã được học, hãy xác định vai
trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.


Thời gian

Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc

Tháng 7-1920

Đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa của Lênin.

Tháng 12-1920

Dự Đại hội Tua, tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành


Năm 1927

Tác phẩm Đường Kách mệnh được xuất bản, cùng với báo Thanh niên
trang bị lí luận cách mạng giải phóng dân tộc cho cán bộ Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên để tuyên truyền cho nhân dân.

Năm 1930

Triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Soạn
thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

a) Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị những điều kiện về
tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam những năm 20 của thế kỉ
XX.
- Về tư tưởng chính trị: Sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con đường giải phóng
dân tộc theo khuynh hướng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động kiên trì, bền bỉ, xây dựng và
truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản vào Việt Nam. Lí luận
đó được trình bày qua nhiều bài báo, một số tham luận tại các Đại hội và hội nghị quốc tế và một
số Tác phẩm. Đó là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
và đặt nền móng để xây dựng nên Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng sau này.


- Về tổ chức: Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1926). Đây là
một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng
Cộng sản, một bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
Thông qua những lớp huấn luyện chính trị, Người trực tiếp đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách
mạng Việt Nam.
b) Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, gồm đại biểu hai

khi mới ra đời đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc và làm dấy lên phong trào
cách mạng trong những năm 1930-1931.
b) Luận cương chính trị tháng 10-1930
- Luận cương chính trị tháng 10-1930 xác định cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách
mạng tư sản dân quyền “có tính chất thổ địa và phản đế”; tiến hành cả hai nhiệm vụ cách mạng
ruộng đất và giành độc lập dân tộc. Hai nhiệm vụ này gắn bó khăng khít với nhau.
- Nhận xét:
Luận cương chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, không đưa vấn đề dân
tộc lên hàng đầu, mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất.
Đây là một hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, đồng thời cũng là điểm khác biệt so
với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Câu 10:
Giữa chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
(1969-1973) của Mĩ ở Việt Nam có những điểm giống nhau và khác nhau như thế nào?
a) Giống nhau
- Âm mưu và mục đích: chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Nam Á; làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn
chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á.
- Về bản chất: đều là những loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới; đều dựa vào bộ
mặt chính quyền và quân đội Sài Gòn do Mĩ trực tiếp viện trợ, huấn luyện, trang bị, tổ chức và
chỉ huy.
- Về thủ đoạn: đều ra sức thực hiện các kế hoạch bình định nhằm chiếm đất, giành dân; đều có
hoạt động phối hợp bằng chiến tranh phá hoại miền Bắc; phối hợp hoạt động quân sự với các
biện pháp chính trị và ngoại giao.
b) Khác nhau


- Về lực lượng: Trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” có quân Mĩ, quân đồng minh của Mĩ và
quân đội Sài Gòn, trong đó quân đội Mĩ giữ vai trò chủ yếu. Trong chiến lược “Việt Nam hóa


Câu 12:
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) của Đảng Cộng sản Đông Dương được
thể hiện trong các tài liệu cơ bản nào? Hãy nêu và giải thích nội dung của đường lối đó.
a) Tài liệu cơ bản
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được thể hiện trong Chỉ thị Toàn dân
kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946) và được giải thích cụ thể trong tác phẩm Kháng chiến nhất
định thắng lợi của Trường Chinh (9-1947).
b) Nêu và giải thích nội dung đường lối kháng chiến
- Xác định mục đích kháng chiến là giành độc lập và thống nhất hoàn toàn. Hồ Chí Minh kêu
gọi: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
- Xác định tính chất của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện.
+ Kháng chiến toàn dân
Kháng chiến toàn dân là huy động toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay;
thực hiện các khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến”, “Kháng chiến khắp nơi”, "Mỗi làng là một
pháo đài".
Phải kháng chiến toàn dân vì so sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch, nếu chỉ
dựa vào lực lượng quân đội thì sẽ không thể nào thắng được giặc. Đó là sự kế thừa và phát huy
truyền thống "cả nước chung sức đánh giặc" của dân tộc, thể hiện tư tưởng “chiến tranh nhân
dân” của Hồ Chí Minh.
+ Kháng chiến toàn diện
Kháng chiến toàn diện là kháng chiến trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã
hội và ngoại giao.
Phải kháng chiến toàn diện vì: 1- Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn để xâm lược nước Việt Nam
và thống trị nhân dân Việt Nam, nên phải làm thất bại mọi thủ đoạn của chúng. 2- Để kháng
chiến thắng lợi phải xây dựng một hậu phương vững mạnh và mọi mặt, đồng thời phải tranh thủ
sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế.
- Xác định phương châm chiến lược: trường kì và tự lực cánh sinh
+ Kháng chiến trường kì

sống xã hội ở nông thôn, làm chức năng, nhiệm vụ của một chính quyền nhà nước dưới hình thức
các Ủy ban tự quản theo kiểu Xô viết.
b) Chính sách và biện pháp


- Về chính trị, thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Thành lập đội tự vệ đỏ, tòa án
nhân dân.
- Về kinh tế, thi hành các biện pháp như: chia lại ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế
thân, thuế chợ; xóa nợ cho người nghèo; tu sửa cầu cống, đường giao thông, lập các tổ chức để
nông dân giúp đỡ nhau sản xuất…
- Về văn hóa – xã hội, mở lớp dạy chữ Quốc ngữ cho các tầng lớp nhân dân, xóa bỏ tệ nạn mê tín
dị đoan, xây dựng nếp sống mới.
c) Xô viết Nghệ - Tĩnh thực sự là chính quyền cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của
Đảng
- Về tổ chức : Chính quyền Xô viết được hình thành từ các Ban Chấp hành Nông hội do các Chi
bộ Đảng ở địa phương lãnh đạo.
- Về hoạt động: Các chính sách và biện pháp của Xô viết Nghệ - Tĩnh để đem lại nhiều lợi ích
cho nhân dân, tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của chính quyền cách mạng; là chính
quyền của dân, do dân và vì dân.
- Xô viết Nghệ - Tĩnh là mẫu hình chính quyền cách mạng đầu tiên ở Việt Nam. Các xô viết
được thành lập và thực thi những chính sách tiến bộ chứng tỏ rằng Xô viết Nghệ - Tĩnh là đỉnh
cao của phong trào cách mạng 1930-1931.

Câu 14:
Tóm tắt diễn biến của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam. Vì
sao nói những cuộc khởi nghĩa ở thành thị có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa?
a) Tóm tắt diễn biến (Như trong chuẩn)
b) Những cuộc khởi nghĩa ở thành thị có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa
- Thành thị, nhất là những thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn là nơi tập trung các cơ quan
đầu não của kẻ thù. Những cuộc khởi nghĩa ở thành thị, nhằm vào các cơ quan đó, làm cho chính

- Thắng lợi của cách mạng Việt Nam buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari (1973), sau đó các phái ở
Lào thỏa thuận kí Hiệp định Viêng Chăn (21-2-1973), lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân
tộc ở Lào.
- Chiến thắng 30-4-1975 của Việt Nam đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mĩ
ở Lào giành thắng lợi hoàn toàn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời (2-12-1975).
- Tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào là một trong những nhân
tố chiến lược đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước.

Câu 16:


Trong hơn một năm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chính phủ Việt Nam
đã giải quyết những khó khăn về chính trị, quân sự như thế nào? Nêu ý nghĩa của việc giải quyết
đó.
a) Giải quyết khó khăn về chính trị - quân sự
- Một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 8-9-1945, Chính phủ lâm thời
công bố lệnh tổng tuyển cử trong cả nước.
- Ngày 6-1-1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu
Quốc hội trong cả nước. Hơn 90% cử tri đi bỏ phiếu và bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử
Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Ủy ban hành chính các cấp.
- Ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên đầu tiên, thông
qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và lập ra Ban Dự
thảo Hiến pháp.
- Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội
thông qua.
- Đẩy mạnh xây dựng lực lượng bán vũ trang. Cuối năm 1945, lực lượng dân quân tự vệ tăng lên
hàng chục vạn người, có mặt ở hầu hết các thôn, xã, đường phố, xí nghiệp trong cả nước.
b) Ý nghĩa

phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Tiếp đó, tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp (12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia
nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
b) Tóm tắt những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái
Quốc
- Yếu tố thời đại
+ Chủ nghĩa tư bản đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Những mâu thuẫn nội tại
của nó đang phát triển gay gắt; mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc dẫn tới chiến tranh đế quốc;
mâu thuẫn giữa đế quốc với thuộc địa dẫn tới sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc;
mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản dẫn tới sự phát triển của phong trào công nhân và cách mạng xã
hội.
+ Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công, mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời
đại giải phóng dân tộc”. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rõ ràng
khắp nơi, dẫn đến sự ra đời các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Quốc tế Cộng sản


được thành lập (3-1919). Đại hội II của Quốc tế Cộng sản thông qua Luận cương về vấn đề dân
tộc và các vấn đề về thuộc địa của Lê nin, chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc
bị áp bức.
+ Thời đại dầy biến động trên giúp cho Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn
để xác định một con đường cứu nước đúng đắn.
- Yếu tố dân tộc:
+ Phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước chống Pháp của
nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng theo những con đường khác nhau, nhưng đều bị
thực dân Pháp dập tắt.
+ Thất bại của phong trào Cần vương cuối thế kỉ XIX khẳng định con đường cứu nước theo
khuynh hướng phong kiến là không thành công, độc lập dân tộc không thể gắn với chủ nghĩa
phong kiến.
+ Thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX khẳng định con đường giải phóng dân tộc
theo khuynh hướng tư sản không thacong, độc lập dân tộc không thể giành thắng lợi, độc lập dân

- Nhiệm vụ trước măt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống
nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
- thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận dân chủ
Đông Dương), tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân chủ chống phát xít.
- Tận dụng mọi hình thức tổ chức và đấu tranh : công khai, hợp pháp, bán công khai, bán hợp
pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp.
b) Những chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1939-1945
- Chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939 và hoàn chỉnh tại Hội nghị tháng
5-1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”; tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc trong Mặt trận
thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11-1939), Mặt trận Việt Minh (5-1941); đồng thời đề
ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang; thành lập chính quyền nhà nước với hình thức cộng hòa dân
chủ.
- Chủ trương khởi nghĩa từng phần, được đề ra tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng
ngày 9-3-1945: xác định kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít
Nhật, thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”; quyết
định phát động một “cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi
nghĩa”.


- Chủ trương tổng khởi nghĩa, được đề ra tại Hội nghị toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 15-81945): quyết định phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít
Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.

Câu 20:
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam (1945-1954) đã kết thúc như thế
nào?
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúc bằng sự kết hợp giành thắng lợi quyết định
trên mặt trận quân sự với một giải pháp ngoại giao.
- Từ thu- đông năm 1953, Pháp thực hiện kế hoạch Nava. Tháng 9-1953, Bộ Chính trị Trung
ương Đảng đề ra kế hoạch tác chiến Đông – Xuân 1953-1954 với phương hướng chiến lược: Tập

Hội nghị diễn ra trong sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và sự dàn
xếp của các nước lớn. Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, công nhận các quyền
dân tộc cơ bản của các nước Việt - Lào – Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thỗ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
- Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đặt kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài
và anh dũng của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược.

Câu 21:
Trình bày và nhận xét về phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt Nam trong nửa đầu những
năm 20 của thế kỉ XX.
a) Phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt Nam
- Nhiều thanh niên trí thức sang Quảng Châu (Trung Quốc) tìm đường cứu nước. Năm 1923, họ
lập ra tổ chức Tâm tâm xã. Hoạt động tiêu biểu của tổ chức này là cử Phạm Hồng Thái thực hiện
mưu sát Toàn quyền Đông Dương Méclanh (6-1924). Tuy không thành công nhưng sự kiện này
đã khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là thanh niên, “như chim én nhỏ báo
hiệu mùa xuân”.
- Thành lập nhiều tổ chức chính trị như Việt Nam nghĩa đoàn, Hội Phục Việt (sau đổi thành
Hưng Nam), Đảng Thanh niên,… với nhiều hoạt động sôi nổi như mít tinh, biểu tình, bãi
khóa,…
- Ra nhiều tờ báo tiến bộ như An Nam trẻ, Người nhà quê, Chuông rè, … (tiếng Pháp), Hữu
Thanh, Tiếng dân, Đông Pháp thời báo, Thực nghiệp dân báo …( tiếng Việt).


- Lập một số nhà xuất bản tiến bộ như Nam đồng thư xã ở Hà Nội, Cường học thư xã ở Sài Gòn,
Quan hải tùng thư ở Huế…
- Một số hoạt động nổi bật là cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925),
các cuộc truy điệu và để tang Phan Châu Trinh (1926).
b) Nhận xét
- Mục tiêu đấu tranh: đòi các quyền tự do, dân chủ, khích lệ lòng yêu nước và ý thức dân tộc.
- Lực lượng nòng cốt của phong trào là tài liệu tiểu tư sản trí thức, dễ dàng tiếp thu những tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status