Kho tài liệu Ketnooi.com
1
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực không thể thiếu đối với sự phát triển
kinh tế- xã hội. Những năm qua kết quả từ hoạt động kinh doanh của ngành
Ngân hàng đã đóng góp một phần hết sức quan trọng vào sự nghiệp phát triển
chung của đất nước.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh
trong lĩnh vực Ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt cả về mức độ, phạm vi
và sản phẩm, dịch vụ cung ứng trên thị trường. Cùng với sự phát triển kinh tếxã hội, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao trong sử dụng sản phẩm, dịch
vụ hết sức đa dạng, phức tạp. Khách hàng đòi hỏi những sản phẩm chất lượng
cao với nhiều tiện ích, giá cả hợp lý từ phía Ngân hàng. Trong các dịch vụ của
Ngân hàng thì dịch vụ thẻ là một trong số dịch vụ được ưa chuộng nhất hiện
nay. Điều gì đã làm cho thẻ có tầm quan trọng như vây? Đó chính là những
tiện ích vượt trội hơn hẳn so với các phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt trước đó. Thể hiện sự thành công to lớn trong việc ứng dụng những tiến
bộ vượt bậc của ngành Công nghệ thông tin và điện tử viễn thông vào hoạt
động Ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Công Thuơng Việt Nam là một trong những ngân
hàng thương mại lớn tại Việt Nam, sau hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực
này NHCT Việt Nam đã thu được những thành công nhất định và cũng không
ít khó khăn và hạn chế để có thể phát triển dịch vụ thẻ trở nên phổ biến ở Việt
Nam. Sau quá trình tìm hiểu và thực tập tại ngân hàng Vietinbank Hải Dương
em xin chọn đề tài “ Giải pháp mở rộng và phát triển hoạt động dịch vụ
thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh
Hải Dương ” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2.Mục đích nghiên cứu của khoá luận :
Tổng hợp những lý luận cơ bản của thẻ thanh toán qua Ngân hàng. Từ
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN THẺ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẺ THANH TOÁN
1.1.1 Lịch sử phát triển thẻ thanh toán
Hiện nay phương tiện thanh toán hiện đại được ra đời và phát triển gắn
liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong ngành Ngân hàng đó là ThẻTiền điện tử.
Thẻ Ngân hàng được hình thành đầu tiên tại Mỹ, xuất phát từ thói quen
cho khách hàng mua chịu của các chủ tiện bán lẻ dựa trên uy tín của khách
hàng đối với các tiệm này. Năm 1914, tổ chức chuyển tiền của Mỹ Western
Union lần đầu tiên cung cấp cho khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh
toán trả chậm. Sau đó, các tổ chức khác dần nhận ra giá trị của các loại hình
dịch vụ nói trên của Western Union và chỉ vài năm sau rất nhiều các đơn vị
như nhà ga, khách sạn cũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn
cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình theo phương thức của
Western Union.
Hình thức sơ khai của thẻ là Charg-it, Charg-it là một hệ thống mua bán
chịu do John Biggins sáng lập ra năm 1946. Hệ thống này cho phép khách
hàng trả tiền cho các giao dịch mua bán lẻ tại địa phương. Các cơ sở chấp
nhận thẻ nộp biên lai bán hàng vào nhà băng của Biggins, nhà băng sẽ trả tiền
cho họ và thu lại từ khách hàng đã sử dụng Charg-it.
Năm 1949, ông Frank McNamara- một doanh nhân người Mỹ đã nảy ra ý
tưởng về một phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt, có thể sử dụng
mọi lúc mọi nơi. Năm 1950, Frank McNamara cùng một doanh nhân người
Mỹ khác là Ralph Schneider, đã đồng sáng lập ra thẻ tín dụng đầu tiên với tên
gọi là Diners Club. Ngân hàng Franklin National Bank ở Long Island
NewYork phát hành lần đầu tiên năm 1951. Thẻ này dùng cho các thương vụ
bán lẻ hàng hoá và dịch vụ, trong năm doanh số thanh toán thẻ này ở Mỹ là
Dịch vụ thẻ thanh toán của Ngân hàng đã phát triển ở khắp các quốc gia
trên thế giới. Với những tiện ích mang lại, thẻ thanh toán đã và đang trở thành
phương tiện thanh toán thu hút sự chú ý chủ yếu của mọi tầng lớp dân cư tại
các nước phát triển trong đó có Việt Nam.
Kho tài liệu Ketnooi.com
5
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán, phân loại thẻ
1.1.2.1 Khái niệm:
Thẻ Ngân hàng là một phương thức TTKDTM do Ngân hàng hoặc các
công ty lớn phát hành cho khách hàng, theo đó người sử dụng thẻ có thể dùng
để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ mà không dùng tiền mặt tại các đơn vị
chấp nhận thẻ hay rút tiền tại các Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ tại các máy
rút tiền tự động -ATM.
Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm của thẻ Ngân hàng
nói chung:
-Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi
Ngân hàng, các tổ chức tài chính hay các công ty. Thẻ thanh toán là phương
tiện TTKDTM, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát
triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính
Ngân hàng.
-Thẻ thanh toán là công cụ thanh toán do Ngân hàng phát hành thẻ cấp
cho khách hàng. Sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm cung
ứng hàng hoá dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với Ngân hàng, hoặc rút tiền
mặt tại các máy ATM hay các Ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi
của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
-Thẻ thanh toán còn được dùng để thực hiện nhiều chức năng khác như
Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống
nhất như: số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác
như bảng lý lịch ngân hàng,mã số bí mật, ngày giao dịch cuối cùng, mức rút
tối đa và số dư
Ô chữ ký dành cho chủ thẻ; Lời ghi chú bằng tiếng Việt và tiếng Anh;
Địa chỉ nơi phát hành thẻ
1.1.2.3 Phân loại thẻ thanh toán
Sơ đồ 1.1: Các loại thẻ thanh toán
Kho tài liệu Ketnooi.com
7
a. Phân loại theo đặc tính kỹ thuật:
Thẻ khắc chữ nổi: là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi.
Trên bề mặt những thông tin cần thiết được khắc nổi. Hiện nay người ta
không dùng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị làm giả.
Thẻ băng từ ( Magnetic stripe ): Được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ
tính với một dải băng từ chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau thẻ. Thẻ loại này
được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng đã bộc lộ một số
điểm yếu như là: dễ bị lợi dụng do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá
được; có thể đọc thẻ dễ dàng với thiết bị đọc gắn với máy tính; thẻ chỉ mang
thông tin cố định; khu vực chứa tin hẹp; không áp dụng được triệt để các biện
pháp an toàn.
Thẻ thông minh ( Smart Card) : Là thế hệ mới nhất của thẻ thanh
toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ
“Chip” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có
nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “Chip” điện tử khác nhau. Hiện nay, thẻ
và chi tiêu trong một thời gian nhất định tuỳ vào quy định của mỗi ngân hàng,
tức là hạn mức thẻ không có tính chất tuần hoàn.
Thẻ tín dụng ( Credit Card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến hiện
nay. Chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn không phải trả lãi
để mua hàng hoá và dịch vụ. Cuối tháng, khách hàng sẽ nhận được một bảng
sao kê do ngân hàng gửi tới. Nếu khách hàng thanh toán được hết số tiền nợ
thì sẽ không phải trả lãi, còn nếu trả được một phần thì chủ thẻ phải trả lãi, trả
Kho tài liệu Ketnooi.com
9
phí hoặc bị phạt theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ.
Thẻ rút tiền tự động ( Cash Card): Là loại thẻ ghi nợ cho phép chủ thẻ sử
dụng thẻ để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ tại các máy rút tiền tự động
(ATM) hoặc sử dụng các dịch vụ khác mà máy ATM cung ứng.
c.Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
Thẻ nội địa ( Local Card) : Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm
vi một Quốc gia, chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng do vậy đồng
tiền sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá hay rút tiền phải là đồng bản
tệ của Quốc gia đó.
Thẻ quốc tế ( International Card): Là loại thẻ có thể thanh toán tại bất cứ
quốc gia nào trên thế giới có cơ sở chấp nhận loại thẻ đó. Thẻ Quốc tế được
hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi những tổ chức thẻ Quốc tế như:
Master card, VISA… hoặc các công ty điều hành như Amex, JBC, Diner
Club… hoạt động trong hệ thống thống nhất và đồng bộ, sử dụng ngoại tệ
mạnh để thanh toán. Thẻ này được khách hàng ưa chuộng do tính thuận lợi,
an toàn. Các ngân hàng cũng được lợi ích đáng kể với loại thẻ này như nhận
được nhiều sự giúp đỡ trong nghiên cứu thị trường, chi phí xây dựng cơ sở
f.Phân loại theo hạn mức sử dụng
Thẻ vàng (Gold Card): Được phát hành cho những đối tượng có uy tín,
khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những
điểm khác nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng,
nhưng chung vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
Thẻ chuẩn ( Standand Card): Là loại thẻ chung nhất mang tính phổ
biến đại chúng. Hạn mức tối thiểu phụ thuộc vào từng ngân hàng phát hành
quy định
1.1.3 Lợi ích của sử dụng thẻ thanh toán
1.1.3.1 Đối với chủ thẻ ( Cardholder)
Tiện lợi: chủ thẻ không phải mang theo một lượng tiền mặt lớn bên
mình kkhi đi mua hàng, đi công tác xa hay đi du lịch… Có thể sử dụng thẻ để
thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, để rút tiền hoặc tiếp nhận một số dịch vụ
ngân hàng tại các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ, máy ATM, các NHTT thẻ
trong và ngoài nước. Chủ thẻ có thể chi tiêu trả trước, trả tiền sau ( đối với thẻ
tín dụng), có thể chi tiêu đa ngoại tệ mà không bị lệ thuộc vào ngoại tệ của
nước nào ( đối với chủ thẻ tín dụng quốc tế). Đặc biệt có thể thực hiện mua
bán hàng hoá tại nhà ( thanh toán qua internet, SMS Banking)…
Kho tài liệu Ketnooi.com
11
An toàn: Các loại thẻ thanh toán làm bằng công nghệ cao, chủ thẻ
được cung cấp mã số cá nhân ( số PIN) nên đảm bảo bí mật tuyệt đối, các
khoản tiền được chuyển trực tiếp vào tài khoản cho nên tránh bị mất mát hoặc
trộm cắp. Trong trường hợp chủ thẻ bị mất, bị lộ số PIN thì chủ thẻ chỉ cần
thông báo ngay cho NHPH thẻ để kịp thời phong toả tài khoản thẻ khi đó
người nhặt được thẻ không thể sử dụng thẻ để rút tiền trong tài khoản của chủ
bán được nhiều hàng hoá hơn, doanh số bán hàng cao sẽ làm tăng nhanh vòng
quay vốn do đó lợi nhuận tăng. Tạo nên uy tín, vị thế không ngừng tăng lên
trong công việc kinh doanh.
ĐVCNT được hưởng sự ưu đãi của ngân hàng, được cung cấp các thiết
bị và phương tiện cần thiết cho dịch vụ thanh toán thẻ như máy đọc thẻ, thiết
bị công nghệ thông tin kết nối giữa ĐVCNT và NHPH, NHTT… và nhờ vào
đó ĐVCNT sẽ được ngân hàng quảng cáo cho công chúng khi giới thiệu các
sản phẩm dịch vụ của mình. Ngoài ra, khi có nhu cầu về vốn hay sử dụng dịch
vụ của ngân hàng, ĐVCNT sẽ được ưu đãi về khối lượng cũng như lãi suất.
1.1.3.3 Đối với Ngân hàng
-Ngân hàng phát hành thẻ ( NHPHT):
Đa dạng hoá các dịch vụ, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng thu hút
thêm nhiều khách hàng, các khoản thu phí tăng góp phần tăng doanh thu và
lợi nhuận
Thu hút một nguồn vốn lớn để bổ sung vào nguồn vốn ngắn hạn cho
ngân hàng: vì khách hàng phải thường xuyên duy trì một số lượng tiền nhất
định trên tài khoản tại ngân hàng hoặc thực hiện các nghiệp vụ cầm cố, ký
quỹ, thế chấp… mới đủ điều kiện mở thẻ.
Tiết kiệm chi phí và hỗ trợ cho các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng
khác: chi phí giao dịch tại quầy, các chi phí khấu hao khác sẽ được giảm
đáng kể. Đồng thời thông qua các hình thức ký quỹ, thế chấp, tín chấp… Để
mở thẻ của khách hàng giúp ngân hàng đánh giá được khách hàng trong các
hoạt động tín dụng khác, tiết kiệm chi phí và đảm bảo chất lượng tín dụng.
Thông qua đó, thẻ của ngân hàng có nhiều tiện ích sẽ làm tăng uy tín và danh
tiếng của ngân hàng,
-Ngân hàng thanh toán thẻ ( NHTTT):
Thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng mình sử dụng các
sản phẩm, dịch vụ do ngân hàng cung cấp.
Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận thông qua hoạt động thu phí chiết khấu
đại lý từ hoạt động thanh toán đại lý. Thông qua hoạt động thanh toán thẻ,
ty thẻ JCB, công ty thẻ Dinners Club…
1.2.1.2 Ngân hàng phát hành
Là ngân hàng được tổ chức thẻ quốc tế, công ty thẻ trao quyền phát
hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức và công ty này (đối với thẻ
quốc tế), được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ (thẻ nội
địa).
-NHPH là ngân hàng thực hiện việc:
Kho tài liệu Ketnooi.com
14
Thẩm định tính năng pháp lý và khả năng tài chính của khách hàng.
Phát hành thẻ cho các khách hàng có kết quả thẩm định đạt yêu cầu.
Tạo sao kê cho chủ thẻ và quyết toán với chủ thẻ.
1.2.1.3 Ngân hàng thanh toán
NHTT là ngân hàng được NHPH thẻ uỷ quyền thực hiện dịch vụ thẻ
thanh toán theo hợp đồng, hoặc là thành viên chính thức hoặc là thành viên
liên kết của một tổ chức thẻ quốc tế, thực hiện dịch vụ thanh toán theo thoả
ước kí kết với tổ chức thẻ quốc tế đó. NHTT thẻ trực tiếp ký hợp đồng với
ĐVCNT để tiếp nhận và xử lý các giao dịch thẻ tại ĐVCNT, cung cấp các
dịch vụ hỗ trợ hướng dẫn cho ĐVCNT. Thông thường NHTT thu từ các đơn
vị cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng thẻ với họ một mức phí
chiết khấu cho việc xử lý các giao dịch có sử dụng thẻ tại đây. Mức phí này
cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược
đối với các đơn vị khác. Một ngân hàng vừa có thể đóng vai trò là NHTT vừa
đóng vai trò là NHPH.
1.2.1.4 Chủ Thẻ
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền ( nếu là thẻ do công
1.2.2 Quy trỡnh nghip v th
1.2.2.1 Quy trỡnh nghip v phỏt hnh th
S 1.2: Nghip v phỏt hnh th:
Ngân hàng
phát hành
3 Tại chi nhánh
4 Tại TT thẻ
Chuyển về TT thẻ
Nhận yêu cầu
2
5
Thẩm định/quyết
Nhập DL PH
định phát hành
1
Tiếp nhận yêu cầu
6
Chạy Batch
9
tới TTT
TTT tiến hành mở tài khoản thẻ cho khách hàng cập nhật hồ sơ và tiến
hành in thẻ. Sau khi xác định số PIN, thẻ được giao lại bộ phận phát hành
Theo giấy hẹn khách hàng trực tiếp đến lấy chi nhánh phát hành lấy thẻ;
hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho người khác đến nhận thẻ. Chi nhánh phát
hành thẻ kiểm tra chứng minh thư và giấy hẹn nếu khớp đúng thì giao thẻ; có
thể gửi thẻ qua đường bưu điện theo yêu cầu của chủ thẻ.
GDV kích hoạt thẻ sau khi nhận giấy xác nhận thẻ/ PIN có chữ ký của
chủ thẻ, hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ theo yêu cầu của ngân hàng. Sau
khi giao thẻ cho khách hàng thì coi như nghiệp vụ phát hành thẻ đã kết thúc.
-Gia hạn thẻ, đổi hạn thẻ:
Tại NHPH khi nhận được yêu cầu phát hành thẻ mới GDV tiếp nhận
“giấy yêu cầu phát hành lại”, thu phí, thu hồi và dừng hoạt động của thẻ cũ,
Kho tài liệu Ketnooi.com
17
thực hiện đăng ký lại thẻ mới cho khách hàng chuyển lên trung tâm để in thẻ.
Riêng trong trường hợp gia hạn thẻ một năm giao dịch viên có thể thực hiện
tại máy trạm Mosaic. Sau khi in xong chi nhánh phát hành giao nhận thẻ và
kiểm tra tình trạng thẻ, giao thẻ cho khách hàng như trong trường hợp phát
hành thẻ mới.
1.2.2.2 Quy trình thanh toán thẻ
Quy trình nghiệp vụ tổng quát thanh toán thẻ được xác định từ khi chủ
thẻ bắt đầu sử dụng thẻ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân hàng và
các bên liên quan, kể cả nghĩa vụ theo cam kết.
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ.
1) NHPHT cho khách hàng, khách hàng trở thành chủ thẻ.
2) Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hay rút tiền
mặt.
3) ĐVCNT kiểm tra thẻ và thông tin thẻ trước khi giao dịch, liên hệ với
NHPH để xin cấp phép giao dịch. Sau khi việc cấp phép hoàn thành ĐVCNT
in hoá đơn, lấy chữ ký của chủ thẻ ( phải khớp với chữ ký mẫu trên thẻ) và
cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay ứng tiền mặt cho khách hảng rồi trả lại thẻ.
Kho tài liệu Ketnooi.com
18
4) ĐVCNT đòi tiền hàng từ NHTT sau khi nộp lại hoá đơn, chứng từ cho
NHTT ( nếu là máy cà thẻ), hoặc sau khi tổng kết trên thiết bị đọc thẻ điện tử.
5) NHTT thực hiện ứng tiền trả trước cho ĐVCNT ( báo có)
6) NHTT gửi dữ liệu cần thiết cho TCTQT
7) TCTQT báo có cho NHTT
8) TCTQT gửi dữ liệu cần thiết cho NHPH
9) Đồng thời TCTQT báo nợ cho NHPH
10) NHPH gửi thông báo giao dịch cho chủ thẻ ( báo nợ
11) Chủ thẻ thanh toán cho NHPH
Đối với thanh toán thẻ nội địa thì thông qua TCQT mà NHTT gửi chứng
từ đến NHPH, NHPH kiểm tra sau đó gửi lệnh chuyển có cho NHTT riêng
thanh toán thẻ nội địa thì không có bước (11) vì NHPH trừ ngay lập tức vào
tài khoản của chủ thẻ.
1.2.3 Thu nhập, chi phí trong thanh toán thẻ
1.2.3.1 Thu nhập
Khoản thu nhập thứ nhất tương đối ổn định mà ngân hàng thu được đó là
thu từ các ĐVCNT. Đối với các cơ sở chấp nhận thẻ thì khoản phí này được
Các chi phí khác bao gồm: Chi phí bảo hiểm liên quan đến tài sản cố
định, các khoản trả lãi cho số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân
hàng và các chi phí liên quan khác, chi phí cho việc quảng cáo, Marketing sản
phẩm thẻ, ĐVCNT…
Có thể thấy chi phí cho hoạt động thanh toán thẻ là rất lớn, chính vì
vậy, quản lý các chi phí là một công việc không thể thiếu trong việc phát triển
dịch vụ thanh toán thẻ.
1.2.3.3 Rủi ro trong thanh toán thẻ
Đây là các khâu phát sinh rủi ro chính trong kinh doanh thẻ. Hàng loạt
thiệt hại của ngân hàng và các tổ chức thẻ quốc tế gần đây đều xảy ra trong
khâu thanh toán thẻ.
Thẻ mất cắp thất lạc ( Lost- Stolen Card): chủ thẻ bị mất cắp bị thất lạc
thẻ và thẻ được người khác sử dụng trước khi chủ thẻ kịp thông báo cho
NHPH biết để có biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ. Các tổ chức tội
phạm có thể in nổi mã hoá lại thẻ để thực hiện các giao dịch về thẻ giả mạo.
Rủi ro này xảy ra thì chủ thẻ phải hoàn toàn gánh chịu.
Tạo băng từ giả ( Skimming): Đây là loại giả mạo giao dịch thẻ sử
dụng công nghệ kỹ thuật cao trên cơ sở thu thập thông tin trên băng từ của
Kho tài liệu Ketnooi.com
20
chủ thẻ thanh toán tại các cơ sở chấp nhận thẻ. Các tổ chức tội phạm làm thẻ
giả sử dụng các phần mềm riêng rẽ để mã hoá và tạo các băng từ trên thẻ giả,
sau đó sẽ thực hiện giao dịch giả mạo. Trong tường hợp này dẫn đến các rủi
ro cho NHTT, NHPH và chủ thẻ. Loại giả mạo này đang có xu hướng gia
tăng ở các nước có hoạt động kinh doanh thẻ phát triển.
Rủi ro do nhân viên ĐVCNT in nhiều bộ hoá đơn thanh toán một thẻ:
1.3.1.1 Môi trường pháp lý
Bất kỳ hoạt động nào trong nền kinh tế cũng như các hoạt động khác đều
bị chi phối bởi các văn bản pháp luật.Và thẻ của Ngân hàng cũng không nằm
ngoài quy luật đó, hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của các Ngân hàng
phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý của mỗi Quốc gia. Do đó, nếu
môi trường pháp lý không thống nhất, đồng bộ sẽ không đảm bảo được lợi ích
của các bên tham gia, gây lên những khó khăn phiền hà thậm chí tạo khe hở
cho kẻ xấu lợi dụng và hơn nữa các Ngân hàng không chủ động trong chiến
lược phát triển kinh doanh của mình.
1.3.1.2 Sự phát triển của khoa học- công nghệ
Thẻ Ngân hàng được xây dựng và vận hành dựa trên sự tiến bộ của khoa
học công nghệ và chính những tiến bộ này đem lại nhiều tiện ích kỳ diệu. Từ
hình thức sơ khai ban đầu để thanh toán thay tiền mặt đến nay thẻ ngày càng
phát triển thêm nhiều tính năng mới đem lại an toàn, thuận tiện, nhanh chóng,
hiệu quả cho chủ thẻ. Một thực tế chứng minh rằng sự phát triển của khoa
học, công nghệ thông tin là tiền đề nâng cao tính hiệu quả và tiện ích của thẻ
cũng như phát triển số luợng thẻ trong thị trường.
1.3.1.3 Điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội
-Thói quen sử dụng tiền mặt của công chúng: Thẻ là một phương tiện
TTKDTM, khách hàng sử dụng thẻ phải mở tài khoản hay ký quỹ một tài
khoản nhất định tại Ngân hàng. Chính vì thế, thói quen và tâm lý ưa dùng tiền
mặt có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh thẻ. Vì bản chất của thanh
toán thẻ đó là TTKDTM, người dân có thói quen dùng tiền mặt lúc nào họ
cũng muốn sự tiêu dùng của mình được đảm bảo chắc chắn bằng một lượng
tiền ở bên mình, điều này rất khó khăn cho sự xuất hiện của thẻ.
Kho tài liệu Ketnooi.com
22
Kho tài liệu Ketnooi.com
23
vốn là điều kiện đầu tiên mà bất kỳ Ngân hàng nào cũng phải xét đến khi hoạt
động kinh doanh thẻ.
1.3.2.2 Nguồn nhân lực
Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thẻ Ngân hàng đòi hỏi đội ngũ
cán bộ phải có khả năng, trình độ, kinh nghiệm cao để đáp ứng đầy đủ và
thông suốt quy trình hoạt động của nó. Chính vì vậy con người là nhân tố có
vai trò đảm bảo cho quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ một cách
hiệu quả giúp cho thẻ Ngân hàng phát huy được những tiện ích vốn có của nó.
1.3.2.3 Định hướng phát triển của Ngân hàng
Nếu một Ngân hàng có định hướng phát triển dịch vụ thẻ sẽ phải xây
dựng cho mình các kế hoạch phát triển phù hợp. Chiến lược đó được xây
dựng trên nền tảng điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, khảo
sát thị trường, đối thủ cạnh tranh...
1.3.2.4 Hoạt động Marketing
Thẻ thanh toán là một sản phẩm mới của Ngân hàng, còn mơ hồ với
nhiều người. Do vậy để giới thiệu nó ra công chúng là một điều hết sức quan
trọng và hết sức cần thiết. Hơn nữa, để hiểu được nhu cầu của thị trường, để
gắn chặt chẽ hoạt động của Ngân hàng với thị trường giúp cho hoạt động của
Ngân hàng hiệu quả hơn điều này sẽ được thực hiện tốt thông qua cầu nối
Marketing.
1.4 VAI TRÒ CỦA VIỆC THANH TOÁN BẰNG THẺ
1.4.1 Đối với nền kinh tế
TTKDTM góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội đây là một
vấn đề cốt lõi trong trong quá trình sản xuất trao đổi lưu thông hàng hoá. Nhờ
có phương tiện TTKDTM đã rút ngắn thời gian thanh toán, điều này giúp cho
chủ thể quay vòng vốn trong sản xuất nhanh hay nói cách khác là chu kỳ sản
1.4.4 Đối với khách hàng
TTKDTM là hình thức thanh toán an toàn, nhanh chóng, khối lượng
thanh toán lớn, phạm vi thanh toán rộng. Thay vì phải bảo quản, cất giữ, vận
chuyển, kiểm đếm tiền mặt vừa mất thời gian vừa không an toàn, khách hàng
chỉ cần gửi một số tiền vào ngân hàng và mở tài khoản tiền gửi thanh toán.
Kho tài liệu Ketnooi.com
25
Chỉ bằng một lệnh của chủ tài khoản một giao dịch có thể được thực hiện
ngay không kể thời gian và địa điểm giao dịch nhờ công nghệ mạng, công
nghệ chuyển tiền điện tử và công nghệ online. Đây là tiện ích từ dịch vụ thanh
toán nói chung và TTKDTM nói riêng trong ứng dụng công nghệ thông tin
hiện nay.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Những cơ sở lý luận chung về quá trình hình thành và phát triển thẻ
thanh toán, nghiên cứu cụ thể thẻ thanh toán từ khái niệm đặc điểm, phân loại
và lợi ích khi sử dụng thẻ thanh toán đã được thể hiện trong chương 1. Từ đó
tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích sâu hơn về các nghiệp vụ thẻ như
phát hành, thanh toán thẻ, chi phí và thu nhập trong kinh doanh thẻ, các rủi ro
và nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển nghiệp vụ thanh toán thẻ tại
Vietinbank Hải Dương
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM- CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG
(VIETINBANK HẢI DƯƠNG)
2.1 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA