ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------

Ngô Thị Hằng

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG DU LỊCH
VƢỜN QUỐC GIA CÁT BÀ

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Ngô Thị Hằng

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG DU LỊCH
VƢỜN QUỐC GIA CÁT BÀ
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số:

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Đình Hòe

Hà Nội - 2015



Một vấn đề nóng bỏng hiện nay là nguồn tài nguyên động vật rừng nói chung và
nguồn tài nguyên ếch, bò sát nói riêng đang bị suy giảm mạnh. Nguyên nhân chính là do
các hoạt động nhân tác mà cụ thể là do sự phát triển chóng mặt của hoạt động du lịch trên
đảo Cát Bà trong những năm gầnđây. [34].
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả tiến hành thực hiện đề tài: ‘‘Đánh giá hiệu quả
Quản lý môi trƣờng du lịch vƣờn quốc gia Cát Bà” nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế
và bảo tồnĐDSH.
Mục tiêu nghiên cứu


Góp phần nâng cao hiệu quả QL MTDL tại VQG CátBà.
Nội dung nghiên cứu



Mức độ và tầm quan trọng của du lịch tại các VQG nói chung và VQG Cát Bà nóiriêng.



Tài nguyên Du lịch VQG CátBà.



Ảnh hưởng của các hoạt động phát triển du lịch đối với VQG CátBà.

1






Lịch sử nghiên cứu về MTDL tại VQG Cát Bà
Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.4.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
b. Khí hậu thuỷ văn
c. Địa hình, địa thế
d. Địa chất đất đai
e. Đa dạng sinh học VQG Cát Bà

1.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa
a. Dân số và nguồn dân cư
b. Các hoạt động kinh tế - xãhội

3


CHƢƠNG II: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1.
Đối tƣợng nghiên cứu:
- MTDL tại VQG Cát Bà;
- Các hoạt động phát triển du lịch tại đảo Cát Bà;
- Các chính sách QL MTDL hiện có tại đảo Cát Bà.
2.1.2.

O (Oppotunities)

Điểm mạnh

Cơ hội

W (Weaknesses)

T (Threats)

Điểm yếu)

Thách thức

Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích SWOT để phân tích các
điểm mạnh, điểm yếu của MTDL VQG Cát Bà, những cơ hội có thể đến với hệ sản xuất này
và thách thức hệ sản xuất có thể gặp phải trong quá trình phát triển.

2.3.4.

Quy trình DPSIR (Driver – Pressure – State – impact – Response) (Động
lực chi phối – áp lực – hiện trạng – tác động - ứng phó) trong đánh giá hiện
trạng MTDL

Phương pháp Đánh giá Tổng hợp DPSIR do Tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây

4


dựng vào năm 1999 là một mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các


5


CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1.

Tài nguyên du lịch VQG Cát Bà

3.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Nhờ sự giàu có về cảnh quan thiên nhiên và ĐDSH như đã phân tích ở trên, VQG Cát
Bà có rất nhiều tuyến, điểm tham quan, du lịch đặc sắc có thể kể đến như:
 Tuyến rừng kim giao – đỉnh Ngự Lâm;
 Tuyến ao ếch;
 Tuyến giáo dục môi trường;
 Tuyến Mây bầu – Khe Sâu;
 Tuyến Ao Ếch – Việt Hải;
 Tuyến du lịch mạo hiểm Tiền Đức – Mây Bầu;
 Tuyến VQG – Khu du lịch sinh thái cộng đồng Phù Long.
 Tuyến Hang Ủy Ban – Liên Minh – Suối Gôi;
 ...
Đây chính là một trong những nguồn khai thác tiềm năng giúp VQG Cát Bà có thể khai
thác và phát triển mạnh mẽ hoạt động du lịch.
3.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

a. Lễhội
Lễ hội đua thuyền rồng trên biển là một nét văn hoá riêng có tại đảo Cát Bà. Dân đi
biển Cát Bà thường tổ chức đua thuyền rồng khi kết thúc vụ cá Bắc, mở đầu vụ các Nam vào
ngày ¼ dương lịch (ngày Bác Hồ về thăm Cát Bà năm 1959).[6].


nhận KDTSQ thế giới quần đảo Cát Bà với tổng diện tích là26.140ha.
Ngày 30/10/2006 dự án điều tra quy hoạch VQG Cát Bà thành phố Hải Phòng giai
đoạn 2006 – 2010, tầm nhìn 2020 được phê duyệt tại Quyết định 2355/QĐ-UBND với tổng
diện tích là16.196,8ha.[33].
VQG Cát Bà được phân chia thành 3 khu vực chức năng sau:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 4914,6ha.
Phân khu phục hồi sinh thái 1.1189,1ha.
Phân khu phục vụ hành chính 93,1ha.
3.2.1.2. Định hƣớng QL MTDL đến năm 2025, tầm nhìn 2050 của UBND thành
phố Hải Phòng
Với vai trò quan trọng trong việc bảo tồn ĐDSH và cảnh quan thiên nhiên, định hướng
QL MTDL tại Cát Bà trong những năm tới đã được thể hiện trong một vài giải pháp về quy
hoạch tại phê duyệt “Quy hoạch tổng thế phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát Bà đến
năm 2030, tầm nhìn 2050” của UBND thành phố Hải Phòng tháng 12, 2014. Định hướng QL
MTDL tại VQG Cát Bà được lồng ghép trong kế hoạch phát triển của ngành du lịch.[21].
Các giải pháp về quản lý:

-

Xem xét việc xây dựng Đề án thành lập Ban quản lý quần đảo Cát Bà trực thuộc
UBND thành phố với chức năng quản lý các hoạt động phát triển du lịch, đặc biệt là

7


du lịch trong mối quan hệ với bảo tồn giá trị sinh thái - đa dạng sinh học, cảnh quan
và môi trường quần đảo Cát Bà.

-


-

Chính sách thị trường khách: Tạo môi trường dịch vụ công tốt nhất (bảo hiểm, y tế,
ngân hàng, viễn thông...) và điều kiện đi lại thuận lợi nhất để khách du lịch tiếp cận
Cát Bà.

-

Chính sách về phát triển cộng đồng: Hỗ trợ nâng cao năng lực tham gia của cộng
đồng vào hoạt động du lịch; khuyến khích sử dụng nhân lực địa phương.

-

Chính sách về bảo vệ tài nguyên và môi trường: Miễn giảm hoặc không thu thuế trong
thời gian nhất định với các hình thức đầu tư thuần túy cho việc bảo vệ môi trường du
lịch hoặc đầu tư kinh doanh du lịch với các công nghệ đồng bộ về bảo vệ môi trường;
khuyến khích ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước sạch và tái sử dụng
chất thải trong các cơ sở dịch vụ du lịch, sử dụng phương tiện vận chuyển khách du
lịch thân thiện với môi trường.
Giải pháp ứng phó với BĐKH:

-

Nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và những tác động đến du lịch.

8


-


Dải ven bờ
Phù Long vịnh Cái
Giá

2015-

Tại vùng
nước quanh
các đảo lựa
chọn

2015-

VQG Cát


2015-

2016

Hỗ trợ
quốctế

- Hướng dẫn, sơ cứu du
khách khi bị sinh vật độc
hại cắn,đốt...

2

Phục hồi và phát

ÁngThảm.
Phát triển khu

Phục hồi hệ sinh thái rạn
san hô vùng biển CátBà
Hỗ trợ phát triển sản phẩm
du lịch sinh thái - lặnbiển.
Bảo tồn các loài động vật ở
VQG CátBà.

2017

Hỗ trợ
quốctế

Hỗ trợ
quốctế

nuôi động vật bán
2017
hoang dã trên
Góp phần tăng tính hấp dẫn
tuyến Vườn Quốc
tuyến du lịch sinhthái.
gia - Ao Ếch Nhận xét: Thông qua những giải pháp về quy hoạch, QL MTDL tại VQG Cát Bà có thể
ViệtHải.

9



một động lực chi phối quan trọng tới MTDL VQG Cát Bà. Chuỗi ảnh hưởng của phát triển
du lịch được phân tích và thể hiện tóm tắt như sau:

10





Áp lực số lượt khách du lịch ngày càng tăng qua các năm.
Xây dựng các cơ sở vật chất, hạ tầng (Nhà nghỉ, khách sạn, quán hàng,đường..)
c. Áp lực từ năng lực quản lý của cán bộ VQG Cát Bà

-

Gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc kiểm tra,
quan lý tại vườn.

-

Đội ngũ quản lý mỏng, trình độ cán bộ, kiểm lâm còn hạn chế. Các lớp đào tạo cho
cán bộ quản lý vườn còn rất ít.

-

Hiện tại vườn có 11 trạm kiểm lâm tuy nhiên thực tế cho thấy rằng con số này là chưa
đủ đối với 1 VQG rộng lớn như Cát Bà. Tình trạng săn bắt, bẫy chim, thú rằng vẫn
diễn ra mà không có sự can thiệp của chính quyền địa phương.

-

khoán.[17].
3.2.3.2.

Hiện trạng phát triển du lịch tại VQG Cát Bà

Trong những năm trở lại đây VQG Cát Bà là một điểm đến du lịch hấp dẫn và thu hút
trên 1 triệu lượt khách đến tham quan, nghiên cứu hàng năm. Các hoạt động du lịch tại VQG
Cát Bà cũng rất phong phú, đa dạng với nhiều loại hình và tuyến điểm khác nhau.
c.

Sức hút khách du lịch của VQG Cát Bà

Theo thống kê năm 2014, tổng số lượt khách du lịch đến Cát Bà đạt 1.513.000 lượt
khách, đạt 101% kế hoạch đề ra trong năm 2014, tăng 14% so với năm 2013. Doanh thu từ

12


dịch vụ lưu trú và ăn uống là 671,2 tỷ đồng.[19].
Theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, tổng số lượt khách du lịch đến Cát
Bà ước tính đạt 1.600.000 lượt khách.[19].
Như vậy, số khách bình quân một ngày gần 4400 lượt. Đây là một con số đáng mơ ước
của bất kỳ một địa điểm tham quan, du lịch nào.
Bảng 2: Số lƣợt khách du lịch đến Cát Bà (2009–2015)
Năm

2009

2010





Du lịch mang tính mùa vụ

Lượng khách du lịch đến Cát Bà không cân đối, ít về mùa đông nhưng lại quá tải về
mùa hè.
Số lượng khách du lịch đến Cát Bà vào các dịp cuối tuần trong mùa du lịch cao điểm
(từ thàng 5 đến tháng 9) tính trong 6 tháng năm 2015 dao động từ 2500 đến 5000 lượt
khách/ngày. (Nguồn: Sở văn hóa, thể thao và du lịch Hải Phòng).[19].
Vào các tháng mùa đông, hoạt động du lịch gần như đóng băng. Chỉ có một số ít các
nhóm nghiên cứu, sinh viên đến học tập, nghiên cứu tại vườn.


Cơ sở hạ tầng

Ở Cát Bà hiện nay có khoảng 150 khách sạn nhà nghỉ nằm rải rác trong thị trấn, nhiều
nhất là ngay khu đường 1/4 ven biển. Tổng số phòng nghỉ của các khách sạn, nhà nghỉ tại cát
Bà khoảng 2500 phòng, đáp ứng cho khoảng 5000 du khách.[17].
Nhận xét: Vùng đệm VQG Cát Bà có rất nhiều khách sạn, nhà nghỉ lớn, nhỏ. Tuy nhiên
trong đó chỉ có 1 khách sạn nhà nước (Nhà khách Cát Bà) còn lại là các khách sạn tư nhân
được xây dựng manh mún, chấp vá, tự phát của tư nhân hoặc cổ phần.
Có thể nói Cát Bà vẫn còn nhiều khó khăn trong việc đi lại, giá điện và nước sạch. Vấn
đề này không những chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Cát Bà mà còn

13


gây ra những trở ngại cho việc đầu tư, phát triển các hoạt động du lịch.


c. Hiện trạng môi trƣờng nƣớc
Hiện trạng môi trường nước khu du lịch Cát Bà sẽ được thể hiện qua 3 nguồn: nước
mặt, nước ngầm, nước biển ven bờ.
Các thông số trong môi trường nước mặt, nước ngầm và nước biển ven bờ trong
ngưỡng cho phép theo quy chuẩn Việt Nam.

d. Hiện trạng quản lý chất thái rắn
14


Cát Bà hiện có khoảng 120 khách sạn, nhà nghỉ, có thể đón tiếp được tối đa cùng lúc là
5.500 khách. Dân số huyện Cát Hải ~ 30451 người, nhưng thường xuyên có khoảng 40000
người người tập trung ở đây. Điều này đã làm cho môi trường Cát Bà hiện đang phải đối mặt
với hai nguồn rác, đó là rác thải sinh hoạt và rác từ hoạt động nuôi trồng – đánh bắt thủy sản.
Với số người tập trung lên tới 40.000 người thì số lượng rác thải phát sinh khoảng
80.000kg/ngày đêm. (Nguồn: Công ty môi trường đô thị Cát Hải).
Hiện nay thị trấn Cát Bà có khu vực xử lý rác thải do Công ty công trình công cộng và
dịch vụ đô thị Cát Hải, quản lý vận chuyển xử lý rác thải của thị trấn Cát Bà với khả năng xử
lý 50 tấn/ngày nên hoàn toàn có thể xử lý được lượng rác thải phát sinh hàng ngày.
Như vậy, với chất thải rắn vấn đề còn tồn tại ở đây không phải là năng lực xử lý mà là ý
thức thu gom rác của du khách, người dân. Trên khắp khu du lịch đều bố trí các thùng đựng
rác công cộng nhưng tại khu vực bãi tắm, bến tàu vẫn còn rác thải vứt bừa bãi, gây mất mỹ
quan, ảnh hưởng đến vệ sinh khu vực cũng như sức khỏe cộng đồng.

e. Hiện trạng các HST
VQG Cát Bà rộng 15.200 ha, bao gồm 9.800 ha rừng núi và 5.400 ha mặt nước biển,
chiếm trên 50% diện tích toàn đảo Cát Bà (28.500 ha). Trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt
với 800 ha là những khu rừng nguyên sinh, 14.000 ha còn lại là vùng phục hồi sinh thái.[33].
Nhìn chung các HST trong MTDL VQG Cát Bà đang được khai thác để phục vụ các
hoạt động du lịch, nghiên cứu. Vùng đệm đang được khai thác một cách mạnh mẽ để phục vụ


 Đời sống của cộng đồng dân cư tại các khu vùng đệm của VQG và trên đảo còn gặp
nhiều khó khăn. Tình trạng bẫy thú, chim của người dân để phục vụ khách du lịch
trong những năm trở lại đây vẫn xảy ra và chưa có giải pháp quản lý triệt để.

 Việc quản lý các khách sạn, nhà nghỉ, các dịch vụ tham quan, du lịch tại vùng đệm
VQG chưa được UBND huyện Cát Hải chú trọng: tình trạng sả chất thải từ các khách
sạn ra môi trường chưa được kiểm soát, giám sát chặt chẽ. [20].

 Ngoài ra, còn có việc tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch như phát triển cơ sở hạ
tầng như làm đường, xây dựng bến tàu làm phá vỡ cảnh quan, chiếm dụng các HST tự
nhiên. Việc quản lý vấn đề này chưa được UBND huyện Cát Hải quan tâm đúng mức.
[17].

 Các hoạt động vận chuyển, tham quan của khách du lịch gây tiếng ồn, bụi ảnh hưởng
đến đời sống của động, thực vật nơi đây.
Bên cạnh những thách thức kể trên, công tác QL MTDL của Vườn còn có nhiều khó
khăn như phương tiện, nhiên liệu, trang thiết bị, kinh phí phục vụ công tác quản lý còn thiếu
thốn rất nhiều.
3.2.5.

Đề xuất giải pháp (R – Response) QL MTDL tại VQG CátBà

3.2.5.1. Phân tích điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức của MTDL tại VQG
CátBà
MTDL VQG Cát Bà có rất nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất và
tiềm năng có thể khai thác phục vụ cho phát triển du lịch nâng cao đời sống của người dân và

16


nâng cấp.

-

MTDL trên đảo, tách rời với phần đất
liền khó khăn trong việc thông tin liên
lạc, vận chuyển.

-

Sức tải sinh thái, sức tải xã hội hạn
chế.

-

Ban quản lý MTDL tại VQG trình độ
còn thấp, thiếu thốn cơ sở vật chất,
trang thiết bị.

-

Nhận thức của người dân trong MTDL
VQG Cát Bà chưa cao.

-

Chính sách quản lý lỏng lẻo, chưa chặt
chẽ.

-

-

Nâng cao nhận thức của người dân địa
phương và khách dulịch.

3.2.5.2.

đồng,Homestay)

-

Có thể đầu tư phát triển mạnh về
mảnh nghiên cứu, học tập cho sinh
viên các trường đại học, viện nghiên
cứu phục vụ phát triển, bảo tồn
ĐDSHvườn.

Các mô hìnhquản lý áp dụng tri thức bản địa cộng đồng đang đƣợc áp

17


dụng hiệu quả để quản lý và bảo vệ môi trƣờng du lịch tại VQG Cát Bà
 Làng Việt Hải sống tại vùng lõi VQG Cát Bà:
Sơ lược về mô hình quản lý:
Làng Việt Hải nằm trong vùng lõi của VQG Cát Bà, cách trung tâm VQG 2 tiếng đi bộ,
có khoảng 80 hộ gia đình và 300 nhân khẩu sống trong thung lũng của VQG Cát Bà. Việt Hải
dù ít dân nhưng đã được lập là một xã trực thuộc đơn vị hành chính huyện Cát Hải. Nằm sâu
trong một “áng” thung lũng rộng được bao bọc xunh quanh toàn rừng. Là vị trí rất thuận lợi
cho loại hình du lịch khám phá, du lịch cộng đồng, du lịch mạo hiểm.

-

Ban quản lý VQG Cát Bà thu được nguồn kinh phí từ việc tham quan, du lịch tại đây
để có thêm chi phí phục vụ công tác tôn tạo, bảo tồn tại VQG.

-

Một mô hình quản lý hiệu quả giúp cho người dân bản địa ý thức được tiềm năng và

18


bảo vệ thiên nhiên, giúp du khách tham quan, học tập, nghiên cứu thiên nhiên, ĐDSH.
Nhận xét: Đây là một trong những mô hình quản lý hiệu quả áp dụng tri thức bản địa
cộng đồng xây dựng loại hình kinh tế phù hợp giúp người dân ứng phó với BĐKH, phục vụ
việc quản lý và bảo tồn tài nguyên, một điểm rất đặc sắc và đúng đắn của chính quyền quản
lý VQG Cát Bà.


Mô hình quản lý hệ sinh thái ao ếch, xã Việt Hải
Sơ lược về HST ao ếch và chính sách quản lý:

Nằm giữa VQG Cát Bà, trên tuyến đường bộ xuyên rừng từ trung tâm VQG đến xã Việt
Hải (huyện Cát Hải), Ao Ếch là điểm đến thú vị đối với nhiều du khách. Ao Ếch giữa rừng,
trên tuyến đường bộ đi xã Việt Hải có ếch cùng ễnh ương, chão chuộc sinh sống.
Ao Ếch nằm lưng chừng núi, ở độ cao 80 mét so với mực nước biển, nước ao trong
nhìn thấy đáy. Ao có diện tích 3,2 héc-ta và thay đổi theo mùa. Mùa khô, lòng ao thu hẹp lại,
nhưng chẳng bao giờ cạn nước. Còn mùa mưa, nước từ những khe đá chảy xuống làm ao
rộng hơn. Từ đáy ao, vươn lên hàng nghìn cây Và Nước - loài cây chỉ có ở Ao Ếch mà không
tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác. Ngoài ếch, ở Ao Ếch còn có loài cá dầm đất sinh sống. Đặc


19


giờ chỉ còn thấy ở Cát Bà.
Theo chính sách của ban quản lý VQG Cát Bà, rừng kim giao trên núi đá vôi thuộc
phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG và được ưu tiên bảo vệ hàng đầu trong chính sách
quản lý của vườn. Tại đây vẫn cho phép hoạt động tham quan, nghiên cứu của du khách tuy
nhiên vấn đề này được quản lý rất chặt chẽ để không làm ảnh hưởng tới đời sống của các loài
động vật nơi đây.
Ý nghĩa của chính sách:

-



Giúp bảo tồn các loài sinh vật sống trên núi đá vôi của VQG đặc biệt là loài Voọc đầu
trắng chỉ có tại VQG Cát Bà. Voọc đầu trắng là loài sinh vật đặc hữu là một trong các
điểm thu hút và hấp dẫn đặc biệt chỉ có tại VQG Cát Bà. Bảo vệ nơi cư trú của chúng
là một trong những vấn đề sống còn của VQG.

Xây dựng đường đi ven rìa xunh quanh đảo, chỉ giữ một lối đi hẹp trong vùng lõi VQG
để dân bản địa di chuyển, khách du lịch, tham quan, nghiên cứu có thể đi bộ lên tham
quan
Sơ lược về chính sách:

UBND huyện Cát Hải xây dựng tuyến đường nhựa để phục vụ việc lưu thông trên đảo
Cát Bà tại phần rìa các xã vùng đệm của đảo, không xây dựng lấn qua vùng lõi VQG.
Vùng lõi VQG Cát Bà chỉ để một lối đi hẹp rộng tầm 1 mét để người dân, khách tham
quan, du lịch có thể đi lại, đảm bảo các cành cây giao nhau.

hội của địa phƣơng và kế hoạch phát triển của ngành du lịch

c. QL MTDL dựa vào cộng đồng
-

Phương thức quản lý dựa vào cộngđồng:[3, 28]

Phương thức quản lý dựa vào cộng đồng là một tập hợp mô hình quản lý có sự tham
gia của cộng đồng, trong đó cộng đồng là người đưa ra quyết định cuối cùng về tất cả các
vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thựchiện.
Phương thức quản lý dựa vào cộng đồng là một trong ba phương thức quản lý: Nhà
nước quản lý tập trung; quản lý dựa vào cộng đồng; cộng đồng tự quản lý. Trong phương
thức quản lý dựa vào cộng đồng có 5 cấpđộ:
Cấp độ thông báo: Nhà nước ra quyết định, thông báo và hướng dẫn cộng đồng tham
gia quảnlý.
Cấp độ tham vấn: Cộng đồng cung cấp thông tin, Nhà nước tham khảo ý kiến của cộng
đồng để đưa ra quyết định, thông báo và hướng dẫn cộng đồng tham gia quảnlý.
Cấp độ cùng thực hiện: Cộng đồng có cơ hội và được phép tham gia thảo luận, góp ý
kiến để đưa ra quyết định và được tham gia quảnlý.
Cấp độ đối tác: Nhà nước và cộng đồng cùng quảnlý.
Cấp độ ch trì: Cộng đồng được Nhà nước trao quyền quản lý, Nhà nước chỉ thực hiện
việc kiểmsoát.

-

Áp dụng QL MTDL VQG Cát Bà:

VQG Cát Bà có 5 xã vùng đệm, 1 thị trấn với dân số khoảng 10500 người. Cộng đồng
địa phương là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của MTDL tại
VQG Cát Bà.[17].

-

Nâng cao nhận thức khách du lịch bằng các biện pháp truyền thông (poster, loa đài, báo,
...) về các nội quy cần thực hiện khi đến tham quan, học tập, nghiên cứu tại vườn.

e. Truyền thông:
-

Thiết kế Poster tuyên truyền mang tính chất giáo dục môi trường, thực hiện các nội quy,
định hướng, chính sách QL MTDL VQG Cát Bà. Poster có thể treo tại các vị trí dễ nhìn
đối với khách du lịch và người dân như tại cổng VQG hay sử dụng xe truyền thông.

-

Tổ chức các chương trình truyền thông, hành động về môi trường nhằm nâng cao nhận
thức của người dân trong việc quản lý môi trường nói chung vàmôi trường du lịch nói
riêng.

-

Truyền thông cho người dân các xã tại VQG bằng loa phát thanh tại thôn, phường để
các định hướng, chính sách QL MTDL của chính quyền đến gần hơn với người dân.

-

Truyền thông qua mạng Internet: Cập nhật rõ các chính sách quản lý và tầm quan trọng
của MTDL VQG Cát Bà tại trang Web chính thức của VQG Cát Bà
(http://www.vuonquocgiacatba.com.vn/vi/) nhằm tăng cường nhận thức cho người dân.
Hiện tại trang Web của VQG Cát Bà chưa có hạng mục đề cập đến các chính sách quản
lý, định hướng phát triển của vườn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status