ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦN NHO ĐẠT ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, TỔ CHỨC DU LỊCH SINH
THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG VÀ XUÂN THỦY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn An Thịnh
Hà Nội - Năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học quốc gia HàNội,
dưới sự dạy dỗ và giúp đỡ hết sức nhiệt tình của các thầy cô giáo cũng như sự giúp
đỡ của Ban Lãnh đạo, cán bộ, nhân viên Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường, tôi đã được tiếp thu những kiến thức về một ngành khoa học mà tôi đã lựa
chọn và theo đuổi. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến sự giúp đỡ quý báu
và tận tình đó.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân,
tôinhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Tiến sỹ Nguyễn An Thịnh. Phong
cách nghiên cứu khoa học cẩn trọng, tỉ mỉ cùng với những lời động viên khích lệ
của thầy đã giúp tôi học hỏi được rất nhiều kiến thức về ngành khoa học mình yêu
thích. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý các Vườn quốc gia Xuân Thủy và
Cúc Phương; các bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo, cán bộ của Trung
tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC
TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, TỔ
CHỨC DU LỊCH SINH THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA 4
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 4
1.1.1. Các khái niệm về du lịch và du lịch sinh thái 4
1.1.2. Mối quan hệ của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác 7
1.1.3. Những đặc trưng của du lịch sinh thái 8
1.1.4. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái 9
1.1.5. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 10
1.1.6. Quan hệ du lịch sinh thái với cộng đồng địa phương 10
1.1.7. Tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái 11
1.1.8. Các kiểu du lịch sinh thái 13
1.2. Thực trạng nghiên cứu, tổ chức phát triển du lịch sinh thái trên thế giới và Việt
Nam 14
1.2.1. Trên thế giới 14
1.2.2. Tại Việt Nam 17
1.3. Quản lý, phát triển du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng 18
1.3.1. Khái quát về tổ chức phát triển du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91 v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái “Nguồn: Lê Văn Lanh, 1999” 7
Hình 1.2. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử, và
các loại hinh du lịch khác Lê Huy Bá, 2006” 8
Hình 1.3. Du lịch sinh thái được tạo thành bởi sự thống nhất và bổ sung của du lịch
học và sinh thái học “Nguồn: Lê Huy Bá, 2006” 8 vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các kiểu du lịch sinh thái 14
Bảng 3.1: Thống kê số lượng khách quốc tế đến Vườn quốc gia Xuân Thủy trong
giai đoạn từ năm 2003 – 6 tháng cuối năm 2010 44
Bảng 3.2: Thống kê số lượng khách quốc tế đến Vườn quốc gia Xuân Thủy trong
giai đoạn từ năm 2003 – 6 tháng đầu năm 2008 theo quốc tịch 45
Bảng 3.3: Thống kê số lượng khách du lịch nội địa đến Vườn quốc gia Xuân Thủy
trong giai đoạn từ năm 2003 – 6 tháng đầu năm 2010 45
Bảng 3.4: Thống kê số lượng khách nước ngoài đến Vườn quốc gia Xuân
Thủytrong giai đoạn từ năm 2003- 6 tháng đầu năm 2008 (tính theo quý) 46
Bảng 3.5: Bảng giá dịch vụ du lịch tại Vườn quốc gia Xuân Thủy 49
Bảng 3.6: Thống kê số lượng du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch
tại Vườn quốc gia Cúc Phương trong hai năm 2011-2012 54
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã coi trọng công tác bảo tồn
thiên nhiên rất sớm. Ngay từ năm 1962, khi đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh
và còn nhiều khó khăn, Chính phủ đã thành lập khu rừng cấm Cúc Phương nay là
Vườn quốc gia Cúc Phương - Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Từ khi đất
nước thống nhất cho đến nay, Chính phủ có quyết định thành lập thêm nhiều Vườn
quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên. Tính đến thời điểm rà soát, quy hoạch lại ba
loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống rừng
đặc dụng bao gồm 164 khu với tổng diện tích tự nhiên là 2.265.753,88ha,trong đó
có 30 Vườn quốc gia, diện tích 1.077.236,13 ha; 69 khu Khu Bảo tồn Thiên
nhiên,diện tích 1.099.736,11 ha; 45 khu bảo vệ cảnh quan, diện tích 78.129,39 ha và
20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học, diện tích 10.652,25 ha. Việc thành
lập hệ thống rừng đặc dụng là một thành tích quan trọng của Việt Nam trong công
cuộc bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đóng góp
tích cực đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu.
Với sự đa dạng về các hệ sinh thái, cảnh quan đẹp, rừng đặc dụng có một tiềm
năng rất lớn về du lịch mà hiện nay chúng ta đã và đang khai thác theo hướng phát
triển bền vững các khu rừng đặc dụng bằng việc tổ chức phát triển du lịch sinh thái.
Vườn quốc gia Cúc Phương và Vườn quốc gia Xuân Thủy là hai Vườn quốc gia có
tiềm năng, lợi thế lớn để phát triển du lịch sinh thái, đang là hướng phát triển ưu tiên,
cốt lõi của sự phát triển hướng tới cơ chế tài chính bền vững của các Vườn này. Một
vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý du lịch sinh thái tại hai Vườn quốc gia này là:
với nguồn kinh phí đầu tư từ Ngân sách Nhà nước cho công tác quản lý, cần xác định
lĩnh vực ưu tiên để phát triển nhằm nâng cao hiệu quả về giá trị nguồn vốn tài chính.
Để trả lời được câu hỏi này, cần thực hiện những nghiên cứu cụ thể trên cơ sở kết quả
thực hiện và định hướng phát triển du lịch sinh thái tại hai Vườn quốc gia này.
Nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả
- Thời gian nghiên cứu: đánh giá hoạt động quản lý, tổ chức du lịch sinh thái
của hai Vườn quốc gia được nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2012.
3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
-Ý nghĩa khoa học: Luận văn bước đầu đưa ra được thực trạng về phát triển
du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia Cúc Phương và Xuân Thủy, phát triển du
lịch sinh thái là vấn đề mới và đang được các cấp, ngành quan tâm; phân tích những
ưu điểm và tồn tại trong việc phát triển du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia được
lựa chọn nghiên cứu, đặc biệt là quản lý, tổ chức.
-Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý tổ chức du lịch sinh thái, góp phần vào công tác bảo tồn và
phát triển bền vững các Vườn quốc gia Cúc Phương và Xuân Thủy.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày tại 3
chương sau:
- Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương 2. Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3. Kết quả nghiên cứu.
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ
THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ, TỔ CHỨC DU LỊCH SINH THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái
1.1.1. Các khái niệm về du lịch và du lịch sinh thái
Từ xa xưa du lịch đã được bàn đến rất nhiều với các quan niệm khác nhau.
Những định nghĩa truyền thống chỉ quan niệm du lịch đơn giản chỉ là một kỳ nghỉ
hoặc một chuyến đi giải trí. Ngày nay, có những công trình nghiên cứu chính thức
về du lịch với các định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung các định nghĩa này đều
hữu nghị với dân tc mình; về mặt kinh tế du lịch l lĩnh vực kinh doanh mang lại
hiệu quả rất lớn; có thể coi l hình thức xuất khẩu hng ho v dịch vụ tại chỗ”.
Theo thời gian cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội thì các chuyến du lịch
trở nên dài hơn, số người có nhu cầu đi du lịch không ngừng gia tăng. Việc gia tăng
đó đã ảnh hưởng rất lớn về mặt môi trường cũng như các tài nguyên du lịch ở
những vùng mà khách đến thăm quan. Theo đó một loại hình du lịch mới đã xuất
hiện có thể khắc phục được những vấn đề trên đó chính là du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời.
Những du khách tấp nập kéo đếnVườn quốc gia Yellowstone và Yosemit hàng thế
kỉ trước đây là những nhà du lịch sinh thái đầu tiên. Những khách lữ hành đến
Serengeti từ khoảng nửa thế kỉ trước, những nhà mạo hiểm Hymalaya đã cắm trại
trên Annapurna 25 năm sau, hàng ngàn người đến chụp ảnh chim cánh cụt ở Nam
Cực , được coi là những khách du lịch sinh thái. Những khách thăm quan, ngày
càng nhận thấy được những tác động về mặt sinh thái mà họ có thể gây ra cho giá trị
tự nhiên và cho những mối quan tâm của dân địa phương. Các tua du lịch được tổ
chức chuyên hóa - săn chim, bộ hành thiên nhiên, thám hiểm có hướng dẫn đang
tăng lên đó chính là du lịch sinh thái (David Western, 1999).
Ngày nay, xu hướng của toàn thế giới coi du lịch sinh thái là nguồn tài
nguyên quý giá, Du lịch sinh thái đã và đang trở nên phổ biến đối với những người
yêu thiên nhiên, cũng được xem là một cách trả nợ tự nhiên, làm tăng giá trị của tự
nhiên. Về nội dung du lịch sinh thái là loại hình thăm quan, thám hiểm, đưa du
khách đến với môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang
dã, đặc sắc để tìm hiểu nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc
đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự
nhiên và cộng đồng địa phương.
6
Tuy nhiên định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái đến năm 1987 mới được
Hector Ceballos - Lascurain đưa ra: ''Du lịch sinh thi l du lịch đến những khu vực
tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng v hưởng
cảnh đẹp của Quốc gia cũng như gio dục, tuyên truyền v bảo vệ, pht triển môi
trường v ti nguyên thiên nhiên mt cch bền vững” (Lê Huy Bá, 2000) [3].
Như vậy từ định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái năm 1987, cho tới nay
nhận thức về du lịch sinh thái có sự thay đổi: từ chỗ đơn thuần coi du lịch sinh thái
là hoạt động du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực
hơn, theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có
tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và
đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
Tóm lại, trên thế giới cũng như Việt Nam, khái niệm du lịch sinh thái được
nhìn nhận như là du lịch lựa chọn những mặt tích cực của một số loại du lịch, và có
thể biểu diễn bằng sơ đồ kết hợp giữa các thành phần du lịch thiên nhiên và văn hóa
bản địa, du lịch ủng hộ bảo tồn, du lịch có giáo dục môi trường, du lịch hỗ trợ cộng
đồng. Trong đó, du lịch sinh thái dù hiểu theo định nghĩa nào đi nữa thì nó cũng hội
tụ các yếu tố cơ bản: (1) sự quan tâm đến thiên nhiên v môi trường; (2) trch
nhiệm với xã hi v cng đồng (hình 1.1). Hình 1.1. Mô hình cấu trúc du lịch sinh thi “Nguồn:
Lê Văn Lanh, 1999
”
1.1.2. Mối quan hệ của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác
Du lịch sinh thái có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với du lịch học và
sinh thái học.
Hình 1.3. Du lịch sinh thi được tạo thnh bởi sự thống nhất v
bổ sung của du lịch học v sinh thi học “Nguồn:
Lê Huy Bá, 2006
”
1.1.3. Những đặc trưng của du lịch sinh thái
Sự khác biệt của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác thể hiện ở
việc đảm bảo đầy đủ các đặc trưng sau:
- Dựa trên địa bn hấp dẫn về tự nhiên v cc yếu tố văn hóa bản địa: đối
tượng của du lịch sinh thái là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét
văn hóa bản địa đặc sắc. DLST
Các loại hình du lịch khác ( DL khám
phá, du lịch cộng đồng,…
Du lịch văn hóa,
du lịch lịch sử.
9
- Đảm bảo bền vững về sinh thi, ủng h bảo tồn: đây là đặc trưng khác biệt
nổi bật của du lịch sinh thái so với các loại hình du lịch khác vì nó được phát triển
trong những môi trường có những hấp dẫn ưu thế. Vì thế, trong hoạt động du lịch
sinh thái, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải
được duy trì và quản lí cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du
lịch. Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách thăm quan, yêu cầu sử dụng các
xuyên đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm du lịch lí thú.
- Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực
đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao.
1.1.5. Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
a) Yêu cầu đầu tiên: cần thiết để có thể tổ chức du lịch sinh thái là sự tồn tại
của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao.
b) Yêu cầu thứ hai: liên quan đến nguyên tắc của du lịch sinh thái, thể hiện ở
các khía cạnh sau:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách du lịch sinh
thái, thì người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am
hiểu các điều kiện sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương.
- Phải có được người điều hành có nguyên tắc, các nhà điều hành du lịch sinh
thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lí các khu bảo tồn thiên nhiên và
cộng đồng địa phương với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các
giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết
chung giữa người dân địa phương với du khách.
c) Yêu cầu thứ ba: nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái thì du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các
qui định về sức chứa, được hiểu từ 4 khía cạnh: vật lí, sinh học, tâm lí học và xã hội.
d) Yêu cầu thứ bốn: thỏa mãn nhu cầu, nâng cao hiểu biết của khách du lịch.
Đây cũng là yêu cầu cần thiết và lâu dài của ngành du lịch sinh thái.
1.1.6. Quan hệ du lịch sinh thái với cộng đồng địa phương
Trước khi hoạt động du lịch, cộng đồng địa phương đã gắn bó với mảnh đất
mà họ sinh sống, đồng thời chính họ có xu hướng bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn
hóa tại đây. Những yếu tố thu hút sự quan tâm của khách du lịch với cộng đồng địa
phương rất đa dạng như: các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa nghệ
11
thuật, tập quán sản xuất, các món ăn địa phương , khi đó khách du lịch đến thăm
cộng đồng địa phương lại cung cấp các dịch vụ như: chỗ nghỉ ngơi và các dịch vụ
là tất cả những gì có thể dùng vào mục đích, hành động nào đó. Như vậy, nguồn tài
nguyên nhiều hay ít, giá trị lớn hay nhỏ đều phụ thuộc vào tiến bộ khoa học, công
nghệ và nhu cầu sử dụng của con người.
Tài nguyên du lịch là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người sử
dụng. Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch. Theo Pirôginoic
(1985): "Ti nguyên du lịch l cc thnh phần v thể cảnh quan tự nhiên v nhân
sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể
thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch". Theo Bonface, B. và Cooper, C (Geography
of Travel and Tourism, 1993)[33].
Tại Việt Nam, định nghĩa đầu tiên về tài nguyên du lịch được đưa ra trong
Pháp lệnh du lịch Việt Nam, 1999 [19]: “Ti nguyên du lịch là cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng
tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa nãm nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ
bản hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”. Định
nghĩa này được bổ sung, chỉnh sửa trong luật du lịch Việt Nam 2005 [21]: “Ti
nguyên du lịch l cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn ho,
công trình lao đng sng tạo của con người v cc gi trị nhân văn khc có thể
được sử dụng nhằm đp ứng nhu cầu du lịch, l yếu tố cơ bản để hình thnh cc
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Cũng như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch
sử. Những tổng thể tự nhiên hay văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng có
thể tồn tại trước cả khi ngành kinh tế du lịch ra đời. Nhưng chúng chỉ trở thành tài
nguyên khi nhu cầu du lịch của con người xuất hiện (Bonface và Cooper, 1993) [33].
Tài nguyên du lịch có thể phân chia thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các
thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên và các hiện tượng đặc sắc của
thiên nhiên. Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, lễ hội,
làng nghề, phong tục tập quán, ẩm thực, các công trình đương đại, các sự kiện,
Ti nguyên du lịch sinh thilà một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch,
1.1.8. Các kiểu du lịch sinh thái
Các kiểu du lịch sinh thái được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, liên
quan đến nhiều yếu tố: yêu cầu về đặc điểm tự nhiên, qui mô của nhóm du lịch, yêu
cầu về các điều kiện dịch vụ du lịch của khách, nhu cầu về kinh nghiệm du lịch và
14
mức độ hài lòng. Kết hợp các yếu tố trên có thể khái quát lại thành ba kiểu du lịch
sinh thái chủ yếu (Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Cc kiểu du lịch sinh thi
Kiểu
du lịch
sinh
thái
Yêu cầu về
khu tự nhiên
Qui mô
nhóm
Phương tiện,
cơ sở du lịch
Nhu cầu kinh
nghiệm du lịch
du lịch sinh thái
tiên phong
Các khu vực tự
nhiên xa xôi,
còn ít được sử
dụng
Các cá
nhân hoặc
máy nhỏ)
Yêu cầu sự thách thức
và tính tự lập ở mức
trung bình, phù hợp
cho nhiều nhóm tuổi
kỹ năng hoạt động
ngoài trời ở mức vừa
phải
du lịch sinh thái
phổ biến(đại trà)
Là các khu vực
hấp dẫn về tự
nhiên phổ biến
và nổi tiếng
Nhóm
khách với
số lượng
lớn.
Dùng vận tải
cơ giới lớn, phổ
biến yêu cầu
đáng kể về cơ
sở hạ tầng và
các dịch vụ.
Yêu cầu về tính tự lập
và thách thức nói
chung là thấp. Đáp
ứng cho mọi đối
tượng du khách, bất
kể tuổi tác hoặc khả
mô toàn cầu, đánh dấu bằng sự kiện Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) chọn năm
2002 là “Năm Quốc tế Du lịch Sinh thái”. Tại hội nghị của LHQ, các quốc gia đã
ghi nhận giá trị quan trọng toàn cầu của du lịch sinh thái, những lợi ích cũng như
các ảnh hưởng của du lịch sinh thái đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Kết quả của
Hội nghị này là Tuyên bố Quebec về du lịch sinh thi (Canada). Năm 2007, Hội
nghị du lịch sinh thi quốc tế tại Oslo (Na-Uy) đã tổng kết những thành công, hạn
chế cũng như thách thức của hoạt động du lịch sinh thái trên quy mô thế giới và đưa
ra khuyến nghị về 4 lĩnh vực: phát triển bền vững, bảo tồn, giáo dục và truyền thông
và những vấn đề nhạy cảm của du lịch sinh thái.
Hưởng ứng lời kêu gọi của LHQ về bảo vệ môi trường và phát triển du lịch
bền vững, hơn 90 quốc gia thành viên của Tổ chức du lịch sinh thái thế giới (TIES)
16
đã tham gia vào Thỏa ước Oslo (gọi tắt là GEC07). Nhiều nước như Mexico, Úc,
Malayxia, Ecuado, Costa Rica đã xây dựng chiến lược và kế hoạch du lịch sinh
thái quốc gia. Một số nước như Ecuado, Brazil, Úc, Kenya, Estonia, Inđonexia,
Venezuela đã thành lập hiệp hội du lịch sinh thái cấp quốc gia để hoạch định
chính sách và kiểm soát hoạt động du lịch sinh thái nước mình, đồng thời là cầu nối
chính thức với các tổ chức quốc tế có liên quan.
Hiện nay, phát triển du lịch sinh thái đang được phát triển tại nhiều quốc gia
đặc biệt tại các khu vực có tiềm năng du lịch cao nhằm đem lại lợi ích cao về kinh
tế. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực đối với môi trường và các hệ sinh thái đã trở
thành thách thức mới và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Năm 1998
với sự ra đời cuốn sách “ Du lịch sinh thi: hướng dẫn cho cc nh lập kế hoạch v
quản lý” (Hiệp hội du lịch sinh thái, Kreg Lindberg, Megan Epler Wood, David
Engeldrum)[39]đã cung cấp đầy đủ kiến thức về du lịch sinh thái, được coi là tài
liệu tốt đối với các nhà quy hoạch, quản lý, sinh viên và những người hoạt động
trong ngành này.
Du lịch sinh thái tại Costa Rica từ năm 1970 và bắt đầu phát triển vào những
năm 1980 đã tạo ra một nền kinh tế đa dạng nhưng cũng đem lại những thách thức