LỜI CẢM ƠN
Thực tế, để có thể đi tới thành công nào cũng cần tới sự giúp đỡ của
những người khác. Với tôi, để có thể hoàn thành bản luận văn thạc sĩ kinh tế
này đã có sự giúp đỡ của rất nhiều người đặc biệt là TS. Bùi Xuân Dũng,
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành
luận văn thạc sĩ, những bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi có được các số liệu
điều tra.
Trong thời gian thực hiện luận văn bước đầu đã có những thành quả
nhất định để có thể làm tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo. Do kiến thức
còn hạn chế, thời gian thực hiện chưa quá dài để có thể sâu sát vào từng vấn
đề nên khó tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, tôi mong sẽ nhận được sự góp ý
chân thành của quý thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Học viên
Nguyễn Văn Nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích
có rừng 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của
sản xuất lâm nông nghiệp theo Bộ NN&PTNT. Như vậy, ngành Lâm nghiệp
đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất
trong các ngành kinh tế quốc dân. Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu
trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu cư
thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hóa
(CCD, 1996). Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997). Những năm
gần đây nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục
được tổ chức.
Là tổ chức đầu tiên đáp ứng vấn đề quản lý rừng bền vững (QLRBV) ở
rừng nhiệt đới, tổ chức Gỗ Nhiệt đới quốc tế đã biên soạn một số tài liệu quan
trọng như: “ Hướng dẫn quản lý rừng tự nhiên nhiệt đới” (ITTO, 1992),
“Hướng dẫn thiết lập hệ thống quản lý bền vững các khu rừng trồng trong
rừng nhiệt đới (ITTO, 1993) và “ Hướng dẫn bảo tồn ĐDSH của rừng sản
xuất trong vùng nhiệt đới” (ITTO, 1993b). Tổ chức ITTO đã xây dựng chiến
lược quản lý bền vững rừng nhiệt đới, buôn bán lâm sản nhiệt đới cho năm
2000.
Hai động lực thúc đẩy sự hình thành hệ thống QLRBV là xuất phát từ
các nước sản xuất sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn tái lập một lâm phận sản
xuất ổn định và khách hàng tiêu thụ sản phẩm gỗ nhiệt đới mong muốn điều
tiết việc khai thác rừng để đáp ứng các chức năng sinh thái toàn cầu. Vấn đề
đặt ra là phải xây dựng những tổ chức đánh giá QLRBV.
Trên quy mô quốc tế, Hội đồng quản trị rừng đã được thành lập để xét
công nhận tư cách của các tổ chức xét và cấp chứng chỉ rừng. Với sự phát
triển của QLRBV, Canađa đã đề nghị đặt vấn đề QLRBV trong hệ thống quản
lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001.
Hiện nay, trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp
quốc gia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia ...) và cấp quốc tế của tiến
trình Helsinki, tiến trình Montrean. Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức
gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “ Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng
(P&C) đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ
chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản
định và tổ chức cộng đồng và phát triển mọi tiềm năng quản lý của các hộ gia
đình;
Chiến lược chung của các nước trong QLRBV có thể tóm tắt như sau:
(1). Bổ sung và sửa đổi chính sách để tăng quyền quản lý và sử dụng
rừng cho người dân và các cộng đồng. Những giải pháp chủ yếu để tăng
quyền quản lý rừng cho người dân và cộng đồng là: cấp giấy chứng nhận
quyền quản lý sử dụng rừng cho hộ gia đình và cộng đồng; quy hoạch phát
triển có sự tham gia của người dân; xây dựng những hương ước đảm bảo
quyền sở hữu hoặc sử dụng và phát triển tài nguyên rừng; xây dựng những
hợp đồng trách nhiệm giữa gia đình, cộng đồng với Nhà nước;
(2). Kết hợp những giải pháp hỗ trợ kinh tế để khuyến khích với những
giải pháp hành chính cứng rắn, chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp khoa
học công nghệ, giải pháp kinh tế và giải pháp xã hội cho quản lý bảo vệ và
phát triển rừng;
(3). Xây dựng theo phương pháp cùng tham gia những chương trình
QLRBV ở tất cả các giai đoạn lập kế hoạch, triển khai, giám sát, đánh giá,
điều chỉnh kế hoạch và tiếp tục thực hiện kế hoạch để phát huy đầy đủ nhất
những nội lực của cộng đồng cho quản lý rừng;
2.2. Ở Việt Nam
Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở Việt Nam có thể được chia
thành 3 thời kỳ:
a. Thời kỳ trước năm 1945
Theo tài liệu trong Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp trước năm
1945 quản lý lâm nghiệp được tổ chức theo hạt. Ranh giới hạt lâm nghiệp
không phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà là đơn vị
quản lý Nhà nước trong một lãnh thổ có rừng vừa có chức năng thừa hành
pháp luật, có quyền bắt, tịch thu, phạt và truy tố người vi phạm luật pháp về
lâm nghiệp. Quy mô của hạt phụ thuộc vào cường độ kinh doanh lâm nghiệp.
giai đoạn khác nhau. Ngay sau khi hòa bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và
đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh. Nhiệm
vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các
ngành kinh tế và của nhân dân. Nhiệm vụ xây dựng và phát triển vốn rừng tuy
có đặt ra nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan
tâm đúng mức. Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá
rừng tự nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi
và các lâm sản khác ngày càng diễn ra nghiêm trọng hơn. Những hình thức
quản lý sử dụng tài nguyên rừng như trên đã làm cho tài nguyên rừng nước ta
bị tàn phá một cách nặng nề. Diện tích rừng đã bị thu hẹp lại từ 14,3 triệu ha
(năm 1945) xuống còn khoảng 10 triệu ha (năm 1985).
Giai đoạn từ 1945-1960: công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanh nuôi
bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rãy, ổn định công
tác định canh, định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh.
Giai đoạn 1961-1975: QLBV&PTR được đẩy mạnh, khoanh nuôi tái
sinh rừng gắn chặt với công tác định canh định cư. Công tác khai thác rừng đã
chú ý đến thực hiện theo quy trình quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự
nhiên. Nhìn chung công tác QLBV&PTR được thống nhất quản lý từ Trung
ương đến địa phương.
Sau ngày thống nhất đất nước, công tác QLBV&PTR được tổ chức
thông qua lực lượng kiểm lâm trên toàn quốc, được kiện toàn đến các lâm
trường quốc doanh, các Liên hiệp Lâm-Nông-Công nghiệp, đồng thời quản lý
đến từng tiểu khu rừng. Giai đoạn này Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ
tài nguyên rừng thông qua các lâm trường quốc doanh, người dân và cộng
đồng đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý sử dụng tài nguyên rừng của
Nhà nước. Đây là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên
rừng nhanh chóng.
c. Thời kỳ từ năm 1991 đến nay
theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT, tại mỗi xã có một ủy viên UBND xã
được giao thực hiện các công tác có liên quan đến NN&PTNT, nhưng đến nay
việc tổ chức và bố trí cán bộ ở cấp xã chưa tạo được điều kiện để UBND xã
thực hiện các nhiệm vụ đã quy định.
- Công tác tổ chức sử dụng tài nguyên rừng: Do yêu cầu về chức năng
bảo tồn và phòng hộ của rừng ngày càng trở nên quan trọng, để đảm bảo môi
trường bền vững, phát triển kinh tế xã hội nên các hoạt động lâm nghiệp đặc
biệt quan tâm đến 2 loại rừng đặc dụng và phòng hộ. Tháng 11 năm 1997
Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thông qua Dự án
trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010. Trong đó gồm 2 triệu ha rừng
đặc dụng, phòng hộ và 3 triệu ha rừng sản xuất. Hiện nay đã có hệ thống luật
pháp và những chính sách quan trọng để bảo vệ phát triển rừng và QLBVR.
Việc ban hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã đánh dấu sự phát triển
về chiều sâu và chất lượng của sự nghiệp QLBV&PTR. Những văn bản pháp
quy, Nghị định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ lâm nghiệp ban
hành đã góp phần thể chế hóa luật pháp của Nhà nước. Công tác giao đất
khoán rừng được gắn với công tác định canh định cư, người dân vùng núi đã
biết sản xuất kinh doanh trên mảnh đất của mình, góp phần xóa đói giảm
nghèo nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong những năm gần đây, thực hiện
đường lối đổi mới với cơ chế mở cửa hội nhập quốc tê. Chính phủ Việt Nam
đã quan tâm đến công tác QLBV&PTR và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng
bằng các giải pháp chính sách, tổ chức quản lý, xã hội hóa nghề rừng. Việc
QLBV&PTR trong giai đoạn này chỉ mới thực hiện trên cơ sở chỉ tiêu quản lý
về diện tích rừng và giảm sản lượng khai thác rừng tự nhiên, tăng khai thác
rừng trồng. Đồng thời với việc thiết lập các khu rừng đặc dụng, xây dựng các
dự án trồng và bảo vệ rừng phòng hộ, đồng thời đẩy mạnh việc trồng rừng sản
xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Vấn đề quản lý tài nguyên rừng ở nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn
thái; đồng thời thỏa mãn nhu cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay ở Việt nam tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV được tổ công tác
FSC Việt nam biên soạn trên cơ sở điều chỉnh bổ sung những tiêu chuẩn và
tiêu chí quản lý rừng của FSC quốc tế, có sử dụng những ý kiến đóng góp của
các nhà quản lý và sản xuất lâm nghiệp trong nước và quốc tế. Để vừa đảm
bảo những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam
và đã được Ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt năm 1999. Do những tiêu
chuẩn và những tiêu chí áp dụng chung cho toàn quốc, đồng thời phải phù
hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp
hoàn toàn với mọi trường hợp và mọi điều kiện ở từng địa phương. Vì vậy,
khi áp dụng những tiêu chuẩn và những tiêu chí cần có sự mềm dẻo trong một
phạm vi nhất định, vừa được các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế và FSC quốc
gia chấp nhận.
Trong quá trình QLBV&PTR của nước ta qua các thời kỳ, đặc biệt công
tác QLRBV mới được thực hiện trong những năm gần đây có thể rút ra bài
học kinh nghiệm chính sau:
- Các chủ rừng cần xây dựng một phương án QLRBV và chứng chỉ rừng
tuân theo tiêu chí của FSC thay cho phương án điều chế rừng đơn giản hiện
nay. Có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ khi triển khai thực hiện phương án
QLRBV và chứng chỉ rừng.
- Xây dựng một lộ trình cho sản phẩm lâm nghiệp quốc gia tiếp cận một
cách vững chắc với các yêu cầu của quốc tế.
- Tăng cường sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong quá trình
thực hiện QLRBV thông qua việc tuyên truyền lợi ích của việc thực hiện cấp
chứng chỉ rừng đối với các chủ rừng. Xây dựng năng lực quản lý của các chủ
rừng để có thể nhanh chóng tiếp cận được các tiêu chuẩn của thế giới.
- Sự tham gia của người dân, của cộng đồng là một trong những yếu tố
căn bản giúp cho việc QLRBV được tốt hơn. Kinh nghiệm thực tế cho thấy:
nâng cao hiệu quả quản lý trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi về nội dung: Đánh giá về thực trạng và giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn thành phố Hà Nội
+ Phạm vi về không gian: Các xã có diện tích rừng trên địa bàn
thành phố Hà Nội
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn thành phố
Hà Nội
từ năm 2010 đến nay.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng rừng của thành phố Hà Nội.
+ Hiện trạng lực lượng BVR Thành phố.
+ Diện tích rừng và đất rừng (thu thập phân theo các chủ quản lý) về
các tiêu chí: Diện tích rừng, Đất không rừng, Trồng rừng mới.
- Đánh giá thực trạng trong công tác quản lý rừng tại thành phố Hà Nội.
Vốn đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (thu thập số liệu
hàng năm của thành phố Hà Nội đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ và phát
triển rừng. Đơn vị tính là triệu đồng/ ha/năm).
+ Chi phí nhân công cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
hàng năm (tính chi phí nhân công cho công tác trồng rừng của thành phố Hà
Nội. Đơn vị tính là triệu đồng/ha. Nội dung này chủ yếu tính cho công tác
phát triển rừng).
+ Chi phí thuốc bảo vệ thực vật (thu thập số liệu chi phí thuốc bảo vệ
thực vật hàng năm cho công tác phòng trừ sâu bệnh hại rừng) thu thập số liệu
từ chi cục bảo vệ thực vật Hà Nội với các nội dung: Kinh phí hàng năm nhà
nước cấp, Tình hình sâu bệnh hại rừng, Loài sâu chính thường gặp.
+ Chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng
+ Thu thập tài liệu có sẵn, bản đồ, số liệu quy hoạch sử dụng tài
nguyên rừng trên địa bàn thành phố Hà Nội, định hướng phát triển kinh tế
xã hội của thành phố về diện tích rừng.
+ Các văn bản qui phạm pháp luật của nhà nước và địa phương, các
báo cáo nghiên cứu chuyên ngành có liên quan đến quản lý tài nguyên rừng
trên địa bàn thành phố.
2.4.2. Đánh giá thực trạng trong công tác quản lý rừng tại thành phố Hà
Nội.
Phỏng vấn trực tiếp 90 đối tượng tham gia bảo vệ và phát triển rừng
gồm: Đại diện các cơ quan quản lý thành phố Hà Nội về công tác quản lý bảo
vệ rừng, đại diện các Ban quản lý, vườn quốc gia, khu bảo tồn (thu thập số
liệu về rừng và đất rừng, đất chưa có rừng và tình hình phân bố rừng trên
thành phố Hà Nội). (Có biểu mẫu phiếu điều tra kèm theo).
* Phiếu điều tra đối với các tổ chức được giao quản lý gồm ( Vườn
quốc gia Ba Vì; Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn; Trung Tâm phát triển
lâm nghiệp Hà Nội).
Biểu 2.1: Tình hình công tác quản lý rừng:
TT
Năm
1
2011
2
(ha)
Ngân
sách
Ghi
hàng
chú
năm cấp
(1000đ)
4
2014
5
2015
BQLR đặc dụng
Hương Sơn
TTPT lâm nghiệp
Vườn QG Ba Vì
BQLR đặc dụng
Hương Sơn
TTPT lâm nghiệp
Vườn QG Ba Vì
BQLR đặc dụng
Hương Sơn
TTPT lâm nghiệp
- Cháy rừng
- Vi phạm khai thác rừng
- Phá rừng
- Sử dụng rừng trái phép
Vườn
BQL
TT phát
Quốc
rừng
triển
Gia
đặc
lâm
Ba Vì
dụng
nghiệp
2014
5
2015
Số hộ
Loại rừng (ha)
Rừng Rừng Rừng
phòng
đặc
sản
hộ
dụng
xuất
Đề xuất
2.4.3. Phân tích thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng
2.4.4. Phương pháp phân tích xử lý số liệu
2.4.4.1. Phương pháp thống kê
Sử dụng các công cụ của thông kê để mô tả, phân tổ, so sánh, đánh giá
mức độ, tình hình biến động của các số liệu thống kê và số liệu điều tra phục vụ
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến
106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía
Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía
Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải
Phòng 120 km.[8][9] Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm
2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km2, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng,
nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn [9].
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây
sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển.
Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng,
nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác.
Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc
Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1.281 m), Gia Dê (707 m),
Chân Chim (462 m), Thanh Lanh (427 m), Thiên Trù (378 m)... Khu vực nội
thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng [9].
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn.
Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì.
Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức.
Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm.
Hà Hội sau khi mở rộng có diện tích tự nhiên là: 3344,6 km2, với tổng
dân số khoảng 6,448 triệu người; bao gồm 30 quận, huyện, thị xã.
Trong tổng diện tích tự nhiên của thành phố có 28.851 ha đất lâm
nghiệp, phân bố trên 62 xã của 7 huyện, thị là: Huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Thạch
Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức và Thị xã Sơn Tây, chiếm 17,4 % diện
tích tự nhiên của 7 huyện, thị và chiếm 8,6 % diện tích tự nhiên của toàn
thành phố.