Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, để từng bước phát triển, hội
nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trải qua nhiều khó
khăn, thử thách nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Để đạt
được điều đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngân hàng với vai trò là "đòn bẩy
kinh tế" thông qua hoạt động tín dụng.
Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự
phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác theo định hướng của Nhà nước.
Tín dụng ngân hàng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng thương mại. Tuy
nhiên, hoạt động tín dụng ngân hàng lại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ tác động tới bản thân ngân hàng
thương mại mà còn tác động tiêu cực tới nền kinh tế. Chính vì vậy, công tác hạn chế
rủi ro tín dụng luôn được các Ngân hàng thương mại quan tâm.
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, sau thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân
hàng TMCP Công thương Thái Bình, tôi đã quyết định chọn đề tài: "Giải pháp hạn
chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Chi nhánh Thái
Bình ".
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là:
- Nghiên cứu vấn đề rủi ro tín dụng trên phương diện lý thuyết: Bản chất của rủi
ro tín dụng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như tác động của nó tới bản
thân Ngân hàng Thương mại và với nền kinh tế.
- Thông qua việc phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của Chi Nhánh Ngân
hàng TMCP Công thương Thái Bình để đánh giá được tình hình rủi ro trong hoạt
động tín dụng của Chi nhánh.
- Đưa ra một số ý kiến nhận xét và đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro
trong hoạt động tín dụng của Chi nhỏnh Ngân hàng TMCP Công Thương Thái Bình.
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
vốn do bộ phận nguồn vốn đảm nhận. Bộ phận tín dụng chuyên làm nghiệp vụ cho
vay. Như vậy, sẽ phù hợp hơn khi sử dụng định nghĩa sau: Tín dụng Ngân hàng là
quan hệ vay mượn bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng đóng vai trị là người cho
vay và một bên là các cá nhân, tổ chức trong xã hội là người đi vay dựa trên nguyên
tắc người đi vay cam kết hoàn trả cả gốc và lãi vào một thời điểm xác định do hai bên
đã thoả thuận
Tín dụng Ngân hàng khác với tín dụng của các loại hình tín dụng khác là Ngân
hàng cho khách hàng vay từ nguồn mà khách hàng nhận tiền gửi từ dân cư, các doanh
nghiệp, các tổ chức khác…Ngân hàng hưởng lợi từ việc chênh lệch lãi suất cho vay và
lãi suất tiền gửi. Tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng
nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất.Vì vậy tín dụng Ngân hàng phải
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản.
1.1.2
Các hình thức tín dụng
Để mở rộng tín dụng có hiệu quả, các Ngân hàng, bên cạnh việc xây dựng và
thực hiện chính sách Tín dụng đúng đắn, phải không ngừng đa dạng hóa các hình thức
tín dụng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Hiện nay có rất nhiều hính thức tín dụng được các Ngân hàng thương mại đưa
ra. Để sử dụng và quản lý có hiệu quả tín dụng vần có sự phân loại tín dụng. Phân loại
tín dụng là sự sắp sếp tín dụng theo một số tiêu chí nhất định.
Có các tiêu thức để phân loại tín dụng sau:
- Phân loại tín dụng theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài
hạn.
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
- Phân loại tín dụng theo hình thức cấp tín dụng có các loại: Chiết khấu, cho vay,
này đổi mới thiết bị, hiện đại hoá công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, góp phần phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
Chính sách tín dụng đối với hợp tác xã và các hình thức kinh tế hợp tác khá
Nhà nước có chính sách tín dụng tạo điều kiện về vốn, điều kiện vay nhằm hỗ trợ
cho hợp tác xã và các hình thức kinh tế hợp tác khác đổi mới và phát triển; bảo đảm
kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dâ
Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện, thời hạn vay
vốn đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm góp phần xây dựng cơ sở vật
chất, kết cấu hạ tầng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, phát
triển sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn
Chính sách tín dụng đối với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khă
Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện, thời hạn vay
vốn, mở rộng đầu tư phát triển kinh tế hàng hoá, giao lưu kinh tế miền núi, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
Chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khá
1.
Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn
vay đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác để có điều kiện phát triển sản
xuất,
kinh doan
2.
Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn
Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự
đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro
và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
•
Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách
hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc
ra quyết định cho vay.
Bước 3: Ra quyết định tín dụng
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một
hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:
•
Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt
•
Từ chối cho vay với một khách hàng tốt.
Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm
thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
Bước 4: Giải ngân
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng
đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
• Không thu được lãi đúng hạn
Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp
vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn chiếm dụng vốn thì
phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách
hàng.
• Không thu được vốn đúng hạn
Khi không thu được vốn đúng hạn tình hình dường như nghiêm trọng hơn, một
phần do một lượng vốn vay lớn bị mất. Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang
mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp
đồng tín dụng. Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất mát hiện thực của Ngân hàng vì
có thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra
trình Ngân hàng.
• Không thu được đủ lãi
Khi ngân hàng không thu được đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng hơn.
Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiểu quả đến mức không thể trả
đủ lãi cho Ngân hàng. Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục
lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng.
• Không thu đủ vốn cho vay
Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và lúc này
Ngân hàng đã bị mất vốn. Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục
nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi như khép lại một hợp đồng tín
dụng không có hiệu quả.
Trên đây chủ yếu là bốn hình thức giúp cho NHTM phân biệt rủi ro tín dụng và
có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì Ngân hàng
đều phải trải qua bốn trường hợp trên. Có những trường hợp khách hàng đã trả lãi rất
hàng phê duyệt bị mất thị trường, sản phẩm không tiêu thụ được, các doanh nghiệp
phá sản khiến cho Ngân hàng không thu hồi được nợ.
Như vây, dựa vào kết cấu tín dụng ( theo thành phần, đối tượng, ngành nghề, thời
hạn) kết hợp với việc phân tích các yếu tố liên quan tới khách hàng, thị trường của
Ngân hàng và của khách hàng ta có thể đánh giá rủi ro tíndụng là cao hay thấp
• Tỷ lệ nợ quá hạn / Dư nợ tín dụng
Hoạt động của Ngân hàng và doanh nghiệp đều tránh tình trạng nợ quá hạn.Về
phía doanh nghiệp đi vay vốn, nếu quá hạn không trả được nợ sẽ mất uy tín, phải chịu
một lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất trong hạn, đối với ngân hàng, nợ quá hạn sẽ làm
tăng tỷ lệ nợ quá hạn/ Dư nợ tín dụng. tỷ lệ này gián tiếp cho thấy qui mô của các
khoản vay có vấn đề của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này quá lớn chứng tỏ chất lượng tín
dụng của ngân hàng kém, ngân hàng phải xem xét lại khả năng đánh giá lại các khoản
cho vay của mình, đánh giá lại quy trình thủ tục cho vay, đặc biệt là xem xét lại khả
năng đánh giá lại các khoản cho vay của minh, đánh giá lại quy trình thủ tục cho vay,
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
đặc biệt là xem xét lại khả năng thực hiện nhiệm vụ của các cán bộ tín dụng.
Tuy nhiên, nợ quá hạn không phải là tổn thất của Ngân hàng, đây vẫn là chỉ tiêu
gián tiếp. Bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn này sẽ dẫn đến rủi ro.
• Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng mất vốn/ Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng mất vốn/ Dư nợ quá hạn là chỉ tiêu trực tiếp phản
ánh rủi ro. Nó cho thấy trong một đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng bị tổn thất.
Nói một cách khác, chỉ tiêu phản ánh mức độ có thể gây ra rủi ro trong số nợ của Ngân
hàng.
Nợ quá hạn có khả năng mất vốn thường bao gồm những khoản nợ quá hạn có
thời gian quá hạn lớn (6 tháng trở lên). Đối với Ngân hàng, việc duy trì các chỉ tiêu
này với tỷ lệ cao trong các báo cáo tài chính là điều khó chấp nhận. Ngân hàng luôn
tìm cách giảm chỉ tiêu này xuống và biện phát duy nhất là tích cực thu các khoản này.
kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Vì vậy, khi dự án vay vốn gặp khó khăn, khả
năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi.
- Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo để được
vay vốn. Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả mạo,
hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng bộ hồ sơ.
- Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả nợ trở nên
bấp bênh. Vì vậy, khi khách hàng đã sử dụng vốn sai mục đích, việc thanh toán gốc và
lãi đúng hạn rất khó xảy ra,rủi ro tín dụng xuất hiện.
- Việc trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ đã uỷ quyền và bảo lãnh cũng là một
nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NHTM. Một số công ty, tổng công ty đứng ra bảo lãnh
hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NHTM để tránh sự
kiểm tra giám sát của ngân hàng cho vay chính.Khi đơn vị vay vốn mất khả năng
thanh toán, bên bảo lãnh và uỷ quyền không chịu thực hiện việc trả nợ thay.
• Nguyên nhân khác
- Do môi trường pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ, hoặc thay đổi theo hướng bất lợi
cho doanh nghiệp thì cũng khiến các khoản vay NHTM gặp khó khăn.
- Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát
gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như ngân hàng.
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong
trình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng.
- Ngoài ra, những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bão lụt, hạn
hán,.. tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách hàng khó có
nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng gây ra rủi ro tín dụng.
1.2.5. Quy trình quản lý rủi ro tín dụng.
Bước 1: Phân hạng danh mục rủi ro tín dụng.
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
Bước 2: Rà soát, xếp hạng rủi ro.
+ Nhóm 5: 100%
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
1.2.7 Hậu quả của rủi ro tín dụng
• Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Những khoản tín dụng gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt tài
chính khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm lợi nhuận Ngân hàng.
Trong trường hợp Ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũng làm Ngân
hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng mang lại lợi nhuận.
• Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Rủi ro tín dụng đã khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của Ngân hàng gặp nhiều khó
khăn. Các khoản đầu tư, cho vay bị thoất thoát hoặc chậm thu hồi trong khi Ngân hàng
vẫn phải đều đặn trả lãi vốn huy động theo đúng kỳ hạn. Chính điều này đã làm hạn
chế khả năng thanh toán của Ngân hàng.
• Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng
Rủi ro tín dụng đã làm giảm uy tín của Ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của của Ngân hàng. NHTM gặp nhiều rủi ro là Ngân hàng hoạt động kém
hiệu quả. Điều này đã làm cho uy tín của ngân hàng bị giảm sút. Đây là một vấn đề rất
tệ hại, khách hàng mất lòng tin ở Ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng,
thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi. Điều đó đã gây khó khăn cho
việc huy động vốn của Ngân hàng làm giảm quy mô hoạt động của Ngân hàng. NHTM
gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối với các Ngân hàng bạn, Ngân hàng nước ngoài
nên rất khó có thể nhận được những khoản tín dụng từ phía họ khi cần thiết. Ngoài ra,
Ngân hàng khó có thể có các quan hệ đại lý làm cầu nối trong thanh toán quốc tế, phát
triển các dịch vụ của Ngân hàng.
• Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng
Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối với dân
chúng. Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư
thức quản lý tổng quát về đảm bảo an toàn cũng như các kỹ thuật thu nhập và xử lý
thông tin có thể áp dụng cho các NHTM trong việc kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM trong thời gian tới, thực hiện
chiến lược đã đề ra.
* Phương thức hạn chế rủi ro tín dụng bằng cách nâng cao chất lượng tín dụng.
Phương pháp này được thực hiện chủ yếu thông qua việc phân tích thẩm định kỹ
lưỡng các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính của người nhận nợ và áp
dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi đầu tư nhằm phân loại khoản vay và các
đối tác vay vốn dựa vào mức độ rui ro tín dụng của nó để quản lý.
* Phương thức hạn chế rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro
Tổ chức tín dụng trích lập ra một khoản dự phòng ngằm bù đắp cho những rủi ro
có thể xảy ra căn cứ vào mức độ rủi ro của các tài sản có.
* Phương thức hạn chế rủi ro bằng cách bảo hiểm rủi ro tín dụng.
Thị trường trái khoán hoặc NHTM yêu cầu người nhận nợ phải có một khoản chi
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp trong trường
hợp phá sản.
Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp, khi rủi
ro tín dụng của một doanh nghiệp tăng lên, các nhà đầu tư trái khoán và các NHTM sẽ
yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn.
Việc tăng lên của các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mất mát dự
kiến cao hơn về trái khoán hoặc khoản vay vì khả năng khoán vay sẽ không được hoàn
trả. Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thề làm tăng chi phí vay của nó.
* Phương thức hạn chế rủi ro bằng cách phân tán rủi ro.
Nắm giữ nhiều tài sản có rủi ro thay vì tập trung nắm giữ một hay một số loại tài
sản có rủi ro nhất định. Việc phân tán rủi ro tín dụng cho nhiều người vay cho phép
các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư giảm rủi ro tín dụng đối với toàn bộ tài sản có.
các tổ chức tín dụng. Trong khi bảo hiểm rủi ro tín dụng lại đặt ra những yêu cầu về tài
chính đối với người nhận nợ. Do vậy, cả hai phương thức hoặc làm giảm khả năng cân
đối và điều hành vốn khả năng của tổ chức tín dụng hoặc làm tăng chi phí vay vốn của
người vay, dẫn đến tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc mở rộng tín dụng và
không thực hiện được chính sách khách hàng.
* Phương thức hạn chế rủi to tín dụng bằng cách thông qua dẫn xuất tín dụng.
Dẫn xuất tín dụng là các hợp đồng tài chính được ký kết bởi các bên tham gia
giao dịch dẫn xuất tín dụng (tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, nhà
đầu tư.v.v…) nhằm đưa ra những bảo đảm chống lại sự chuyển dịch bất lợi về chất
lượng tín dụng của các khoản đầu tư hoặc những tổn thất liên quan đến tín dụng.
Nhưng hợp đồng này mang lại cho các nhà đầu tư, người nhận nợ và ngân hàng
những kỹ thuật mới bổ sung cho các biện pháp bán nợ phân tán rủi ro và bảo hiểm
nhằm quản lý rủi ro tín dụng.
* Các cộng cụ dẫn xuất tín dụng chủ yếu hiện nay gồm:
- Hoán đổi tín dụng: là công cụ dẫn xuất làm giảm rủi ro tín dụng thông qua phân
toán rủi ro.
Thay cho việc phân tán rủi ro thông qua hoạt động cho vay ra cả bên ngoài địa
phương, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư có thể bán một số khoản nợ và mua một số
khoản khác nhằm hoán đỏi các khoản thanh toán từ một hoạt động cho vay của nó với
khoản thanh toán từ các tổ chức khác. Nghiệp vụ hoán đổi tín dụng chung nhất được
gọi là hoán đổi thu nhập toàn bộ; trong giao dịch này, tổ chức quản lý rủi ro sẽ hoán
đổi các khoản thanh toán đầu tư hoặc khoản cho vay có lãi suất cố định của tổ chức tín
dụng này với khoản thanh toán đầu tư hoặc vay có lãi suất được điều chỉnh của các tổ
chức tín dụng, nhà đầu tư hoặc công ty bảo hiểm khác. Hoán đổi tín dụng tạo ra hai
điểm thuận lợi quan trọng.
Nó cho phép các tổ chức tín dụng phân tán rủi ro tín dụng trong khi duy trì một
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
đề, để xem xét một cách cụ thể hơn chúng ta cùng đi hiểu tình hình thực tế tại Ngân
hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình.
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Công Thương Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Chi nhánh
Thái Bình
2.1.1. Quá trình hình thành và phảt triển của NHTMCP Công Thương Việt
Nam, CN Thái Bình
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Bình được thành lập ngày 01/01/1991
theo quyết định số 605/QĐ-NHNN ngày 22/12/1990 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam trên cơ sở chuyển đổi thành ngân hàng 2 cấp theo pháp lệnh Ngân
hàng, Hợp tác xã, tín dụng và công ty tài chính; sáp nhập Ngân hàng thị xã Thái Bình
với phòng Ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước tỉnh. Trụ sở chính đặt tại số 100- phố
Trưng Trắc- thị xã Thái Bình (nay là số 190- phố Hai Bà Trưng - thành phố Thái
Bình).
Đứng trước cơ hội và thách thức của quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế thế
giới, Hội đồng quản trị, Banh điều hành Ngân hàng Công thương Việt Nam quyết định
xây dựng tầm nhìn mới nhằm phát triển Ngân hàng Công thương Việt Nam thành tập
đoàn tài chính đa sở hữu, kinh doanh đa lĩnh vực, phát triển bền vững, giữ vững vị trí
hàng đầu tại Việt Nam và hội nhập tích cực với quốc tế, trở thành Ngân hàng thương
mại lớn tại khu vực châu Á.
Từ tháng 7/2006 do Ngân hàng Công thương Việt Nam yêu cầu hiện đại hóa hệ
thống ngân hàng nên Chi nhánh Ngân hàng Công thương Diêm Điền trước là chi
nhánh cấp 2 trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Bình đã chuyển thành
Chi nhánh cấp 1 trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Ngày 15/04/2008 Ngân hàng Công thương Việt Nam chính thức ra mắt thương
Thái Bình là huy động nguồn vốn của các tổ chức kinh tế và các tầng lớp nhân dân để
cho các tổ chức kinh tế và các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công thương nghiệp,
kinh doanh, dịch vụ vay và thực hiện các nghiệp vụ như thanh toán quốc tế,... thuộc
phạm vi, chức năng và nhiệm vụ cho phép.
Địa bàn tỉnh Thái Bình không rộng nhưng có nhiều tổ chức tín dụng cùng kinh
doanh (Ngân hàng TMCP Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng TMCP
Đầu tư và phát triển, Ngân hàng TMCP Ngoại thương, Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân
hàng Cổ phần VP Bank, Ngân hàng Cổ phần Nam Việt, Ngân hàng Cổ phần VIB
Bank, Ngân hàng TMCP Đông Á, Ngân hàng TMCP Hàng Hải,...). Trong khi đó biện
pháp và hướng dẫn chỉ đạo mỗi hệ thống khác nhau, mạng lưới hoạt động (quỹ tiết
kiệm, phòng giao dịch) của các ngân hàng lại xen kẽ nhau, có thời gian, mức lãi suất
khác nhau đã ảnh hưởng tới tâm lý của khách hàng.
Nằm trên địa bàn Thái Bình – một tỉnh nông nghiệp, do đó Chi nhánh Ngân hàng
TMCP Công thương Thái Bình chịu ảnh hưởng của những điều kiện khó khăn cũng
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
như thuận lợi của địa phương đem lại. Nhưng cùng với khả năng của bản thân, thành
tựu to lớn của kinh tế địa phương, của toàn ngành Ngân hàng TMCP Công thương,
Chi nhánh đã phấn đấu vươn lên khẳng định được vai trò, vị trí là một trong những
ngân hàng thương mại lớn trên địa bàn, không ngừng phát triển và đổi mới, góp phần
đắc lực thực thi chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa
phương.
Bộ máy tổ chức trong Chi nhánh
Hiện nay để tạo điều kiện phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, Chi
nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình đã sắp xếp và tổ chức bộ máy bao
gồm: 1 Giám đốc, 2 Phó giám đốc và 7 phòng nghiệp vụ như sau:
- Phòng Khách hàng doanh nghiệp
- Phòng Khách hàng cá nhân
nghiệp
hỗ
lý
Phòng
giao
dịch
Qũy
tiết
kiệm
trợ
rủi ro
Phòng
Khách
hàng
doanh
nghiệp
Phòng
Khách
hàng
cá
nhân
Phòng
hành
chính
Phòng
Tổ
PGD
QTK
Tiền
thông
Hồng
số
tin
Phong
05
PGD
Trần
QTK
tệ
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
2.1.2. Hoạt động cơ bản của NHTMCP Công Thương Việt Nam, CN Thái Bình
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường ở một tỉnh nông nghiệp là một vấn đề
hết sức khó khăn đối với Chi nhánh Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt
Nam cho nên việc mở rộng tín dụng và thanh toán của Ngân hàng còn hạn chế. Trong
khi đó nhiều đơn vị kinh tế, doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn trong sản xuất và
tiêu thụ hàng hóa. Với phương châm: “Phát triển - An toàn - Hiệu quả” chủ đề là “huy
động vốn, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng”, Chi nhánh
Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình tìm mọi biện pháp thu hút nguồn vốn còn tạm
thời nhàn rỗi để cho vay các đơn vị có khả năng kinh doanh nhưng thiếu vốn hoạt động
nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng trưởng kinh tế địa phương.
Với quan điểm “Nâng giá trị cuộc sống” nhằm nhấn mạnh vào tính hiệu quả, là mục
tiêu hoạt động của Ngân hàng, thể hiện sự tận tâm của VietinBank trong việc hỗ trợ và
bảo đảm thành công cho các khách hàng cũng như nỗ lực góp phần tạo dựng cho một
cuộc sống tươi đẹp, giàu ý nghĩa. Cùng với sự nỗ lực vươn lên của tập thể cán bộ công
nhân viên toàn Chi nhánh và kết hợp với điều kiện kinh tế địa phương đã tạo được môi
trường tốt cho hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Thái
Bình.
• Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn bao gồm các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ
tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu kho bạc và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn; vay
vốn của các cá nhân, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, Ngân hàng TMCP Công
thương và các hình thức huy động vốn khác.
Có thể nói công tác huy động vốn luôn đóng vai trị quan trọng trong hoạt động của
bất cứ một ngân hàng thương mại nào, là tiền đề cho các hoạt động kinh doanh tiếp theo,
là yếu tố quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư tín dụng. Do vậy ngay từ khi thành lập
Ngân hàng Công thương Việt Nam, Chi nhánh Thái Bình đã luôn chú trọng tới việc huy
2010
255.055
2.044.944
65.486
1.476.557
140
15.208
2.315.347
34.457
1.395.811
Qua bảng trên ta thấy tổng vốn huy động của Chi nhánh Ngân hàng TMCP
Công thương Thái Bình liên tục tăng qua các năm. Năm 2009 tổng vốn huy động tăng
5.8% so với năm 2008( tương đương tăng 80,746 triệu đồng). Tổng mức vốn huy động
sang năm 2010 tiếp tục tăng 36% (tương đương tăng 838,790 triệu đồng). Trong đó số
tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư cụ thể trong bảng sau:
Bảng 1. 2. Bảng kết quả huy động vốn cụ thể trong 3 năm 2008-2010
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình có được kết quả huy động
Chỉ tiêu
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
1. Tiền gửi doanh
159.460
126.754.539.406
255.055
1.545.925
499.019
140
-
-
140
0
Kho tài liệu của diễn đàn Ketnooi.com
vốn như trên là nhờ đó sử dụng nhiều biện pháp, hình thức khác nhau để khai thác nguồn
vốn tại chỗ như: huy động tiền gửi tiết kiệm và kỳ phiếu bằng VNĐ và ngoại tệ; vận
động và tuyên truyền các đơn vị, cá nhân có tiền nhàn rỗi, chưa sử dụng gửi vào ngân
hàng. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định với lãi suất đầu vào hợp lý có hiệu quả với
hoạt động kinh doanh của ngân hàng, .... Đặc biệt trong năm 2010, Chi nhánh đã thành
lập thêm Phòng giao dịch loại 2, đầu tư nâng cấp và đầu tư mới máy móc trang thiết bị
tiên tiến tạo ra diện mạo mới cho cả hệ thống mạng lưới của ngân hàng. Bên cạnh việc
đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, Chi nhánh còn thường xuyên quan tâm đến tác
phong, thái độ giao dịch của đội ngũ cán bộ với khách hàng.
Do vậy tính đến 31/12/2010 tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh đạt 2.315.347
triệu đồng tăng 65.78% so với cùng thời điểm năm 2008. Trong đó:
Tiền gửi các tổ chức kinh tế ở đây chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm
của các cá nhân và doanh nghiệp tại Chi nhánh vẫn ổn định mặc dù trong thời gian qua
các doanh nghiệp đã sử dụng tối đa nguồn vốn của mình. Đến 31/12/2010, số dư tiền gửi
tiết kiệm đạt 255.055 triệu đồng chiếm 88% trong tổng nguồn vốn và bằng 159% so với
cùng thời điểm năm 2009.
trong sự phát triển kinh tế của địa phương.
- Thực hiện kinh doanh tín dụng theo cơ chế thị trường và quan hệ cung cầu vốn,
áp dụng lãi suất thực dương, đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi.
- Tìm kiếm và chuyển dần sang đầu tư theo dự án và chương trình kinh tế có tính
khả thi cao của địa phương, giữ vững thị trường và liên kết chặt chẽ với sự phát triển của
các khu công nghiệp trong địa bàn.
Trong những năm qua hoạt động tín dụng của chi nhánh chủ yếu đi vào chiều sâu,
rà soát, sàng lọc và nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng truyền thống, duy trì
và tăng trưởng đầu tư tín dụng vào những ngành kinh tế mũi nhọn (công nghiệp may,
làng nghề, công nghiệp khí đốt,... ), đồng thời không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm và tiếp
thị các khách hàng mới có uy tín và tài chính lành mạnh, tiếp cận các dự án có tính khả
thi cao, bám sát vào mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế của tỉnh, đặt nền móng cho
việc mở rộng đầu tư tín dụng một cách vững chắc, an toàn và hiệu quả.
Những kết quả của việc tăng trưởng và nõng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh
Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình được thể hiện qua diễn biến số liệu về hoạt
động tín dụng trong 3 năm gần đây:
Bảng 1.3. Bảng kết quả dư nợ cho vay trong các năm 2008 – 2010
25