BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
PHẠM THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU POLYME COMPOZIT TỪ
NHỰA EPOXY DER 331 VÀ TRO BAY PHẾ THẢI
ỨNG DỤNG TRONG KỸ THUẬT ĐIỆN
Chuyên ngành: Vật liệu cao phân tử và tổ hợp
Mã số: 62440125
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT HÓA HỌC
Hà Nội – 2016
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Bạch Trọng Phúc
PGS.TS. Nguyễn Thanh Liêm
Phản biện 1: GS.TS Thái Hoàng
Phản biện 2: PGS.TS Ngô Kế Thế
Phản biện 3: TS Ngô Thị Thanh Vân
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ
cấp Trường họp tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Vào hồi …….. giờ, ngày ….. tháng ….. năm ………
và cao su.
Để phát triển và mở rộng tính ứng dụng của các hạt này, tác
giả tập trung vào nghiên cứu tro bay ứng dụng trong công nghệ
cao, đặc biệt là trong ngành kỹ thuật điện bởi vật liệu compozit
nền nhựa nhiệt rắn epoxy có tính cách điện tốt. Vì thế đề tài
“Nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme compozit từ nhựa epoxy
DER 331 và tro bay ứng dụng trong kỹ thuật điện” đã được
lựa chọn làm chủ đề cho luận án tiến sĩ.
1
2.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là đánh giá được khả năng
gia cường của tro bay tới tính chất cơ nhiệt, tính chất điện của
vật liệu polyme compozit trên nền nhựa epoxy DER 331, từ đó
định hướng cho việc ứng dụng tro bay trong kỹ thuật điện. Để
thực hiện mục tiêu trên, luận án đã thực hiện các nội dung
nghiên cứu chủ yếu sau:
• Khảo sát hàm lượng tro bay đưa vào vật liệu nền epoxy
DER 331.
• Nghiên cứu các phương pháp xử lý, biến tính bề mặt tro
bay bằng các hóa chất vô cơ, axit hữu cơ và các hợp chất
silan.
• Đánh giá khả năng gia cường của tro bay biến tính và
không biến tính đến tính chất cơ- nhiệt của vật liệu
polyme compozit nền nhựa epoxy DER 331.
• Nghiên cứu khả năng cách điện của vật liệu polyme
Toàn bộ nội dung luận án được trình bày trong 115 trang,
trong đó có 21 bảng biểu, 78 hình và đồ thị, 113 tài liệu tham
khảo. Luận án gồm phần Mở đầu (2 trang), phần Tổng quan
(35 trang), phần Thực nghiệm (14 trang), phần Kết quả nghiên
cứu và thảo luận (50 trang), phần Kết luận (2 trang). Phần lớn
kết quả của luận án đã được công bố trong 3 bài báo khoa học
ở Tạp chí Hóa học và 1 bài báo ở Hội nghị Quốc tế.
NỘI DUNG LUẬN ÁN
Phần 1: TỔNG QUAN
Trình bày tổng quan về những vấn đề sau:
1. Giới thiệu về vật liệu polyme compozit, nhựa nền, chất
độn và các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất của vật liệu.
2. Nhựa nền nhiệt rắn epoxy: Phản ứng tổng hợp, tính chất
hóa lý của epoxy. Các chất đóng rắn, cơ chế đóng rắn và
ứng dụng của epoxy trong các lĩnh vực.
3. Tro bay: giới thiệu về đặc điểm thành phần, cấu trúc và các
ứng của tro bay trong các ngành khác nhau.
4. Tình hình nghiên cứu ứng dụng tro bay trong vật liệu
polyme compozit trong và ngoài nước, các phương pháp
xử lý và biến tính bề mặt tro bay.
Từ nghiên cứu tổng quan cho thấy việc đưa tro bay làm
chất độn cho nhựa nhiệt rắn epoxy chưa được nghiên cứu nhiều
đặc biệt là điều kiện xử lý, biến tính bề mặt tro bay trước khi
trộn hợp với nhựa epoxy. Epoxy có tính cách điện tốt vì thế
việc nghiên cứu sản phẩm compozit từ epoxy DER 331 và tro
bay có thể ứng dụng trong kỹ thuật điện là vấn đề mới và chưa
có ở Việt Nam. Vì vậy đề tài tập trung đi vào nghiên cứu điều
3
xử lý đem làm lạnh đến nhiệt độ phòng, lọc, rửa nhiều lần bằng
nước cất cho tới khi pH =7. Tiếp tục sấy khô mẫu ở > 100 oC
trong 12 giờ. Sau xử lý tro bay được kí hiệu là FAN.
Xử lý bằng dung dịch Ca(OH)2
4
Tro bay được trộn hợp với Ca(OH)2 theo tỉ lệ khối lượng 3:1.
Hỗn hợp chất rắn được khuấy trộn đều với nước cất với tỉ lệ 1(g)
hỗn hợp rắn: 7ml H2O và được gia nhiệt, khuấy trộn liên tục trong
6h ở 100oC. Sau đó, dung dịch được làm lạnh đến nhiệt độ phòng
và trung hòa lượng Ca(OH)2 dư. Cuối cùng, khối vật liệu được
lọc, rửa nhiều lần cho tới khi pH = 7 và sấy khô ở > 100 oC trong
12h. Tro bay sau khi xử lý bằng Ca(OH)2 được kí hiệu là FAC.
2.2.2. Biến tính bề mặt tro bay bằng các hợp chất silan
Hợp chất silan được thủy phân trong 100ml etanol (bổ sung
axit axetic để tạo môi trường pH = 4) ở nhiệt độ 50 oC trong
vòng 30 phút, sau đó lấy 100 gam tro bay thêm vào hỗn hợp và
tiếp tục khuấy trộn đều trong 4h ở 50oC. Hàm lượng silan được
lấy theo lượng tro bay cần biến tính. Hỗn hợp sau phản ứng để
khô tự nhiên rồi đem sấy tiếp ở nhiệt độ 60 oC, sau đó lọc, rửa
để loại bỏ lượng silan dư. Sản phẩm tro bay sau khi biến tính
được kí hiệu là FAS.
2.2.3. Biến tính bề mặt tro bay bằng axit stearic
Axit stearic có khối lượng lần lượt là 2, 3, 5 gam được trộn
đều với 100ml hỗn hợp axeton và toluen với tỉ lệ thể tích 3:1.
Toàn bộ hỗn hợp được khuấy trộn đều trong 30 phút. Sau đó
cho 100 gam tro bay vào hỗn hợp và tiếp tục khuấy trộn đều 30
phút. Khối vật liệu thu được để ổn định ở nhiệt độ phòng trong
24h rồi đem lọc, rửa và sấy khô ở 100 oC. Sản phẩm tro bay sau
thước khác nhau.
Hình 3.1: Cấu trúc hình thái
hạt tro bay
Hình 3.2: Giản đồ phân bố kích
thước hạt tro bay
Khi phân tích XRF xác định % khối lượng của từng thành
phần oxit có trong mẫu tro bay thì thu được thành phần chính
là các oxit nhôm, oxit silic và oxit sắt. Tổng hàm lượng các
oxit kim loại bền (Al2O3, SiO2 , Fe2O3) đạt tương đối cao, chiếm
86,01% tổng thành phần. Ngoài ra còn có một số oxit axit, oxit
bazơ khác như P2O5, SO3, CaO, MgO, MnO…nhưng chiếm một
tỉ lệ nhỏ.
6
Diện tích bề mặt (SSA) của tro bay ban đầu cũng đã được
xác định bằng phương pháp BET dựa trên hiện tượng hấp phụ
đa nguyên tử với N2 ở 77K, kết quả ghi nhận được là 2,66 m2/g.
Quan sát phổ hồng ngoại của tro bay ở hình 3.5 với dải sóng từ
400-4000cm-1 cũng cho thấy xuất hiện vạch phổ pic tại số sóng
3648 cm-1 đặc trưng cho liên kết –OH tự do không tạo liên kết và
pic phổ mạnh tại số sóng 1072 cm -1 đặc trưng cho liên kết Si-O
của tro bay. Điều đó chứng tỏ trên bề mặt tro bay có các nhóm
OH hoạt động. Ngoài ra, còn xuất hiện pic tại số sóng 1635cm -1
thể hiện nhóm OH của H2O có trong mẫu. Các pic đặc trưng cho
các oxit vô cơ xuất hiện tại các số sóng 794cm -1, 551cm-1 chứng
(b)
Hình 3.8: Ảnh SEM của tro bay đã xử lý kiềm a)FAN ; b) FAC
Với mẫu FAN (hình 3.8a) bề mặt của một số hạt tro bay xử lý
thấy thô ráp, xù xì hơn so với mẫu UFA, đôi chỗ bề mặt còn bị
nứt ra nhưng không đủ phá vỡ tập hợp hạt cầu bên trong. Trong
khi đó, mẫu tro bay FAC (hình 3.8b) xung quanh bề mặt hạt cầu
thấy xuất hiện các hạt nhỏ. Đó có thể là các tinh thể canxi silicat
8
hoặc canxisunfat...được sinh ra trong quá trình bào mòn, khi dung
dịch Ca(OH)2 phản ứng với một số oxit có trong thành phần tro
bay.
Kết quả phân tích diện tích bề mặt (SSA) cũng chỉ ra SSA
của UFA là 2,66m2/g, trong khi đó SSA của mẫu FAN là
9,91m2/g và mẫu FAC có SSA là 18,63m2/g. Như vậy, trong
điều kiện xử lý, diện tích bề mặt của tro bay đã tăng từ 5∼10
lần so với diện tích bề mặt của tro bay ban đầu. Điều này rất có
ý nghĩa trong việc tăng khả năng tiếp xúc giữa chất độn vô cơ
và nhựa nền hữu cơ.
3.2.2. Ảnh hưởng của xử lý kiềm đối với tro bay đến thành
phần hóa học
Để xác định sự biến đổi về thành phần hóa học của tro bay
ban đầu và tro bay xử lý, đề tài đã tiến hành kiểm tra XRF các
mẫu với cùng khối lượng. Kết quả được trình bày ở bảng 3.1.
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của tro bay ban đầu và tro bay xử lý
Thành phần
FAN
K2O
2,05
4,18
0,12
MnO
0,21
0,13
Các thành phần oxit khác như Cr2O3; CuO; ZnO; P2O5; SO3; NiO; Rb2O3; SrO; ZrO2
0,52
0,70
0,47
Hàm lượng than chưa cháy: 4,04%
UFA
Từ bảng 3.1 cho thấy, nếu xét về % khối lượng các oxit
chính trong tổng thể 100% của mẫu FAN với thành phần oxit
này trong mẫu UFA thì thấy hàm lượng Al 2O3 từ 23,61% tăng
lên 26,56% (tăng lên 2,95%), hàm lượng SiO 2 từ 50,51% giảm
xuống 48,96% (giảm 1,55%), còn hàm lượng Fe2O3 từ 11,89%
tăng lên 12,37% (tăng 0,38%). Tuy nhiên nếu so sánh về lượng
9
của mẫu trước và sau xử lý thì có sự suy giảm khối lượng.
Theo tính toán trong 20 gam tro bay ban đầu (khối lượng mỗi
mẻ đem xử lý dung dịch kiềm) khối lượng của các oxit chính
lần lượt là: Al2O3 4,72 gam; SiO2 10,10 gam; Fe2O3 2,38 gam.
Sau khi đã xử lý khối lượng các oxit này còn lại (khối lượng
sau khi đã lọc, rửa, trung hòa và sấy khô là 17 gam) lần lượt là:
Al2O3 4,52 gam (giảm 0,2 gam); SiO2 8,32 gam (giảm 1,78
dao động hóa trị của nhóm CH 2 và CH3 và nhóm C=O trong
phân tử axit stearic mà tro bay ban đầu không có. Điều này
chứng tỏ sự có mặt của axit stearic trên bề mặt tro bay. Như
vậy, có thể thấy trong điều kiện thực nghiệm, axit stearic đã
tương tác vật lý với các hạt tro bay.
Hình 3.11: Phổ IR của tro bay ban đầu và tro bay biến tính
bằng axit stearic
3.3.2. Góc tiếp xúc của tro bay biến tính bằng axit stearic
Mục đích của phương pháp biến tính tro bay bằng axit
stearic là làm tăng hoạt tính của bề mặt hạt hoặc làm tăng khả
năng thấm ướt của hạt với nền polyme. Khi đó các hạt tro bay
có khả năng bám dính, liên kết tốt hơn với nhựa nền hữu cơ. Vì
thế đề tài đã tiến hành đo góc tiếp xúc của mẫu tro bay UFA và
FASA 2% trong 2 môi trường nước và dietylenglycol để đánh
giá sự thay đổi bề mặt hạt. Kết quả ghi nhận góc tiếp xúc của
mẫu FASA2% đều gia tăng ở cả hai môi trường phân cực so
với mẫu tro bay ban đầu. Trong môi trường nước từ 77,62o tăng
lên 102,42o, trong môi trường dietylenglycol từ 61,66 o lên
100,69o. Đó là nhờ nhóm cacboxyl trong phân tử axit stearic đã
tạo liên kết hiđro với nhóm hydroxyl trên bề mặt tro bay làm
cho bề mặt tro bay vốn ưa nước chuyển sang bề mặt ghét nước
(do có mạch phân tử hữu cơ không phân cực có trong axit). Do
đó góc tiếp xúc của tro bay biến tính tăng.
Như vậy, việc biến tính tro bay bằng axit stearic đã cải thiện
được khả năng thấm ướt của tro bay. Điều này sẽ giúp cho quá
trình trộn hợp giữa nhựa nền epoxy và tro bay tốt hơn. Khi đó
11
o
FAS1100
103,37
90,47o
o
FASGF80
109,95
100,64o
o
FASGF82
108,60
96,77o
Từ bảng 3.4 cho thấy, tất cả các mẫu tro bay đã biến tính
bằng hợp chất silan đều có góc tiếp xúc cao hơn so với mẫu tro
bay ban đầu ngay cả trong môi trường nước và môi trường
dietylenglycol. Đặc biệt trong số các silan biến tính thì mẫu
FASGF80 cho góc tiếp xúc lớn hơn cả. Hầu hết các góc tiếp
xúc gia tăng đều lớn hơn 90o, chứng tỏ tro bay biến tính không
ưa các môi trường phân cực, tăng tính ghét nước. Điều này sẽ
12
giúp cho các hạt vô cơ vốn trơn nhẵn có khả năng thấm ướt tốt
hơn trong nhựa nền polyme.
3.4.2. Phân tích phổ hồng ngoại của tro bay biến tính bằng
các hợp chất silan
Trên cơ sở đo góc tiếp xúc các mẫu tro bay biến tính silan
đề tài đã lựa chọn ra hai loại silan là A1100 và GF80 để so
sánh. Đây là 2 loại silan đặc trưng cho 2 dòng có loại nhóm
uốn và độ bền nén. Đặc biệt giá trị độ bền gia tăng khi tăng
hàm lượng tro bay và đạt giá trị lớn nhất ở 40 PKL. Tuy nhiên,
khi tiếp tục tăng lượng tro bay lên 50 đến 60 PKL thì các tính
chất lại suy giảm. Điều này có thể giải thích là do lượng tro bay
đưa vào quá lớn làm độ nhớt của hỗn hợp nhựa nền epoxy và
tro bay gia tăng, gây cản trở cho quá trình gia công.
3.5.3. Khảo sát tính chất cơ học của vật liệu PC từ nhựa
epoxy và tro bay xử lý bằng dung dịch kiềm.
Tính chất cơ học của vật liệu compozit epoxy DER 331 với
tro bay được xử lý bằng dung dịch kiềm thì độ bền kéo, độ bền
uốn, độ bền nén và độ bền va đập (hình 3.22 và 3.23) đều gia tăng
đáng kể so với mẫu compozit có tro bay chưa xử lý. Đặc biệt ở
mẫu FAN, cụ thể độ bền kéo tăng 11,78%, độ bền uốn tăng 14%,
độ bền va đập tăng 19,3%, độ bền nén tăng ít hơn chỉ tăng 3,73%
so với mẫu UFA. Điều đó cho thấy tro bay sau xử lý có độ phân
bố kích thước hạt đồng đều hơn và việc gia tăng được diện tích bề
mặt hạt đã làm tăng được sự tiếp xúc của hạt tro bay với nhựa nền
nên đã cải thiện được các tính chất cơ học của vật liệu compozit
và việc xử lý bề mặt hạt tro bay đã đem lại hiệu quả nhất định.
Hình 3.22: Ảnh hưởng của xử lý tro
bay bằng dung dịch kiềm đến độ bền
va đập của vật liệu compozit epoxy
DER 331/tro bay 40PKL
Hình 3.23: Ảnh hưởng của xử lý tro
bay bằng dung dịch kiềm đến độ bền
kéo đứt, uốn, nén của vật liệu
compozit epoxy DER 331/tro bay
40PKL
so với mẫu tro bay chưa biến tính, giá trị độ bền va đập lớn
nhất tại mẫu EP/FASA2% là 6,9 (KJ/m 2), tăng 21% so với mẫu
EP/FASA0%, còn độ bền nén đạt giá trị lớn nhất tại mẫu
EP/FASA3% là 155MPa, tăng 15,67% so với mẫu
EP/FASA0%.
15
Trên cơ sở các giá trị độ bền và modun cơ học, đề tài đã lựa
chọn được hàm lượng axit stearic biến tính tro bay phù hợp là
2% hoặc 3%.
16
3.5.5. Khảo sát tính chất cơ học của vật liệu polyme
compozit từ nhựa epoxy và tro bay đã biến tính bằng các
hợp chất silan
Trong số các silan biến tính tro bay thì mẫu EP/FASGF80
cho độ bền cơ học tốt hơn hẳn so với các mẫu biến tính khác.
Cụ thể độ bền kéo của vật liệu đạt giá trị lớn nhất tại mẫu
EP/FASGF80 là 42,3 MPa, độ bền uốn đạt 77,8 MPa và độ bền
nén đạt 164 MPa (hình 3.27). Qua khảo sát biến tính tro bay
với các hàm lượng silan khác nhau đến tính chất cơ học của vật
liệu compozit cho thấy hàm lượng silan đưa vào sử dụng phù
hợp nhất là 2% (hình 3.31). Tại 2% silan biến tính độ bền cơ
học đạt được là tốt nhất.
Hình 3.27: Ảnh hưởng của loại silan đến
độ bền nén, độ bền uốn và độ bền kéo đứt
331 với tro bay biến tính và chưa biến tính
Quan sát hình 3.32 nhận thấy mẫu compozit có tro bay chưa
biến tính có các hạt tro tồn tại tương đối độc lập, ít liên kết với
nhựa nền epoxy. Nhưng với các mẫu có biến tính đặc biệt là
biến tính bằng silan GF80 và A1100, các hạt tro bay được bao
phủ bởi nhựa và phân bố trong nhựa nền đều đặn hơn. Tương
tác pha giữa tro bay với nhựa nền epoxy tốt hơn là nhờ các
nhóm chức hoạt tính của silan trên bề mặt tro bay làm cho sức
căng bề mặt giữa hai pha giảm. Điều này cũng lý giải cho sự
gia tăng độ bền cơ học của vật liệu compozit khi tro bay được
biến tính bằng axit stearic và silan.
3.7. Khảo sát ảnh hưởng của tro bay đến độ bền nhiệt của
vật liệu compozit
Kết quả khảo sát độ bền nhiệt của vật liệu compozit có tro
bay biến tính và chưa biến tính bằng phương pháp TGA đã
chứng tỏ được việc đưa tro bay vào nhựa nền epoxy đã cải
thiện được đáng kể độ bền nhiệt của vật liệu. Nhiệt độ bắt đầu
phân hủy và nhiệt độ phân hủy mạnh nhất đều gia tăng.
3.8. Khảo sát các tính chất điện của vật liệu polyme
compozit từ nhựa epoxy DER 331 và tro bay
3.8.1. Điện trở suất
Giá trị điện trở suất khối của các mẫu compozit được thể
hiện ở hình 3.36 và 3.41.
Hình 3.36: Ảnh hưởng của hàm
lượng tro bay đến điện trở suất
khối của vật liệu PC
năng hút ẩm và dẫn điện. Chính vì thế điện trở suất khối của
mẫu FAS1100 chỉ đạt 11,4.1013(Ω.cm), trong khi các mẫu silan
khác đều cho điện trở suất khối gấp từ 2 ÷ 2,5 lần so với mẫu
trống (UFA), đặc biệt mẫu FASGF80 đạt trên 15,0.10 13(Ω.cm),
nhờ đó giúp cho vật liệu có khả năng cách điện tốt hơn.
Ảnh hưởng của hàm lượng silan và hàm lượng axit stearic
đến điện trở suất khối của vật liệu compozit cũng được xác
định và được trình bày qua đồ thị hình 3.40. Với mẫu tro bay
biến tính bằng silan, điện trở suất khối của vật liệu compozit
tăng khi tăng hàm lượng silan từ 0 ÷ 2%, sau đó giảm dần tại
3% và 4%. Cụ thể điện trở suất khối của mẫu FAS0% từ
6,7.1013(Ω.cm) tăng lên 13,8.1013(Ω.cm) tại 1% và đạt cực đại
tại 2% là 15,4.1013(Ω.cm), tăng 2,3 lần so với mẫu FAS0%.
Trong khi đó với mẫu tro bay biến tính bằng axit stearic giá trị
điện trở suất khối gia tăng tại 2% và sau đó giảm dần tại 3% và
4%. Cụ thể tại 2%, điện trở suất khối của mẫu FASA2% đạt
9,1.1013(Ω.cm), tăng 1,35 lần so với mẫu FASA0%. Mặc dù tại
hàm lượng cao hơn điện trở suất khối có giảm nhưng vẫn đạt
được giá trị lớn trong khoảng 1013(Ω.cm), nằm trong giới hạn
cho phép của vật liệu cách điện.
Hình 3.40: Ảnh hưởng của hàm lượng silan và hàm lượng axit
stearic biến tính tro bay đến điện trở suất khối của vật liệu
compozit epoxy DER 331/tro bay 40PKL
3.8.2. Hằng số điện môi và hệ số tổn hao điện môi.
Hằng số điện môi là một đại lượng đặc trưng của chất cách
điện. Giá trị hằng số phụ thuộc vào tần số xác định. Thông
EP/FASA2% và EP/FASGF80 2% thấp hơn EP/UFA có cùng
hàm lượng tro bay. Điều này có thể giải thích là do các phần tử
silan và axit stearic giống như một cầu nối giúp hạt tro bay gắn
kết và phân tán tốt hơn trong nhựa nền epoxy, làm giảm độ linh
động của các phân tử phân cực trong điện trường xoay chiều,
do đó làm giảm hằng số điện môi của vật liệu.
Về tổn hao điện môi (tổn thất năng lượng điện của vật liệu
cách điện dưới dạng các năng lượng khác) của vật liệu
compozit EP/FA cũng tăng theo hàm lượng tro bay. Giá trị ghi
nhận được cho thấy vật liệu compozit EP/UFAcó tổn hao điện
môi lớn hơn vật liệu compozit EP/FASA2%, EP/FASGF80 và
cả vật liệu không có tro bay. Tuy nhiên, ở tất cả các mẫu
compozit sự biến đổi tổn hao điện môi là nhỏ, < 0,03, đây là
giá trị của những vật liệu cách điện, ít bị tổn hao.
3.8.3. Độ bền điện
Ảnh hưởng của hàm lượng tro bay biến tính và chưa biến
tính đến độ bền điện của vật liệu compozit EP/FA được thể
hiện ở hình 3.42 và 3.44.
Hình 3.42: Ảnh hưởng của hàm lượng
tro bay biến tính và chưa biến tính đến
độ bền điện của vật liệu PC
Hình 3.44: Ảnh hưởng của loại
silan biến tính tro bay đến độ bền
điện của vật liệu PC
Từ hình 3.42 có thể thấy giá trị điện áp đánh thủng của vật
Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng tác nhân biến tính
đến độ bền điện (bảng 3.12) cũng cho thấy với hàm lượng silan
biến tính 2% và 3% có độ bền điện môi lớn hơn so với mẫu