BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG ĐỖ TÚ QUYÊN
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC
DỤNG CỤ QUANG HỌC” VẬT LÍ 11 THPT THEO
HƯỚNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN KHOA HỌC TỰ
NHIÊN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN VẬT LÍ
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN HUY HOÀNG
P1
Huế, năm 2015
P2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong
chỉnh luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với
gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ, động
viên tác giả hoàn thành luận văn này.
Huế, ngày 25 tháng 05 năm
2015
Tác giả luận văn
4
Hoàng Đỗ Tú Quyên
iii
5
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.................................................................................i
Lời cam đoan.................................................................................ii
Lời cảm ơn.....................................................................................iii
PHỤ LỤC........................................................................................ P1
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
7
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH
VẼ
Trang
BẢNG
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm..........................105
ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1. Đồ thị phân phối tần suất của hai nhóm.......................106
Đồ thị 3.2. Đồ thị phân phối tần suất lũy tích.................................107
HÌNH
Hình 1.1. Các bước biên soạn giáo án tích hợp................................35
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin phát triển
như vũ bão, việc đào tạo ra nguồn nhân lực phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát
triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo đáp ứng xu thế
phát triển là hết sức cần thiết. Do vậy trong những năm gần đây
đổi mới giáo dục được đặt lên như một nhiệm vụ quan trọng hàng
Trong những năm gần đây, giáo dục nước ta đặc biệt chú
trọng đến quan điểm dạy học tích hợp (DHTH), quan điểm này đã
trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học ở trường phổ
thông và trong xây dựng chương trình môn học của các bậc học.
Quan điểm dạy học tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan
niệm tích cực về quá trình học tập và dạy học. Thực tiễn ở nhiều
nước đã cho thấy việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục
và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn
đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS
so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ.
Với bộ môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm và có sự liên
hệ chặt chẽ với các môn khoa học tự nhiên khác như Toán học,
Hóa học, Sinh học. Nếu trong quá trình giảng dạy giáo viên tích
hợp được các môn học đó thì việc dạy học chắc chắn sẽ đem lại
hiệu quả hơn, giúp các em có hứng thú học tập và việc thu nhận
cũng như ghi nhớ kiến thức có hệ thống và toàn diện hơn. Mặt
khác “TH là một xu thế, một trào lưu dạy học và giáo dục phổ biến
trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua, bởi nó có ưu thế trong việc
tạo điều kiện cho giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học giúp
học sinh có thể huy động những hiểu biết về kiến thức, kĩ năng
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau khi thực hiện các nhiệm vụ học
tập. Và nhờ vậy, học sinh có thể có nhiều thuận lợi trong việc “hình
thành và phát triển những kiến thức, kĩ năng mới, rèn luyện được
những năng lực cần thiết”. [2]
Với những lí do trên “Tổ chức dạy học chương “Mắt và các
dụng cụ quang học” Vật lí 11 – THPT theo hướng tích hợp liên môn
10
khoa học tự nhiên” được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn
11
Luận văn “Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp trong dạy học
một số kiến thức về “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục” của Th.s Vũ Thị Thanh Hà đã nghiên cứu triển
khai cụ thể hóa lý thuyết sư phạm tích hợp vào thực tế dạy học VL ở
trường THPT tuy nhiên tác giả chưa đưa ra một mô hình cụ thể nào.
Hiện nay đã có nhiều nhiều tài liệu tham khảo, hội nghị khoa
học, các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp tuy nhiên dạy
học chương “Mắt và các dụng cụ quang học” Vật lí 11 THPT theo
hướng tích hợp liên môn KHTN chưa được tác giả nào nghiên cứu
và thực hiện.
Trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi sẽ kế thừa những kết
quả của các công trình nghiên cứu trước đây, đồng thời sẽ nghiên
cứu xây dựng và sử dụng tiến trình tổ chức dạy học tích hợp liên
môn KHTN trong dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang học “
Vật lí 11 THPT nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở
trường phổ thông.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được tiến trình tổ chức hoạt động dạy học chương
“Mắt và các dụng cụ quang học” Vật lí 11 theo hướng tích hợp liên
môn KHTN.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được tiến trình tổ chức hoạt động chương “Mắt
và các dụng cụ quang học” Vật lí 11 theo hướng tích hợp liên môn
KHTN và vận dụng đúng tiến trình đó vào QTDH sẽ giúp học sinh
phát huy được tính tích cực, chủ động, kích thích hứng thú học tập
từ đó nâng cao chất lượng dạy học Vật lí THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, SGV và các tài liệu
tham khảo liên quan đến nội dung chương “Mắt và các dụng cụ
quang học”.
8.2. Phương pháp điều tra, quan sát
Điều tra bằng phiếu thăm dò về hứng thú học tập của HS.
Điều tra việc dạy học theo hướng tích hợp liên môn KHTN.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
13
Tiến hành thực nghiệm giảng dạy một số bài của chương “Mắt
và các dụng cụ qung học” Vật lí 11 THPT theo hướng tích hợp liên
môn khoa học tự nhiên.
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS.
8.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày, so sánh
kết quả TNSP và kiểm định giả thuyết thống kê kết quả học tập
của hai nhóm ĐC và TN.
9. Cấu trúc luận văn
Đề tài gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần mở đầu
Phần nội dung
Phần này gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt
động dạy học theo hướng tích hợp liên môn KHTN
Chương 2. Xây dựng tiến trình dạy học chương “Mắt và các
dụng cụ quang học” Vật lí 11 theo hướng TH liên môn KHTN
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc
Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có
nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần
khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và
mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
15
Tóm lại, tích hợp là hợp chung lại một hay nhiều phần tử riêng
lẻ thành một thể thống nhất nhằm giải quyết những nhiệm vụ
chung nào đó.
Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là
cần thiết. Dạy học tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và
được nhiều nước trên thế giới thực hiện.
* Khái niệm dạy học tích hợp
Theo Xaviers Roegirs [20]: “Khoa sư phạm tích hợp là một
quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình
học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự
tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho
quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập HS vào cuộc sống lao
động. Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý
nghĩa”.
Theo tự điển giáo dục [13], “Dạy học tích hợp là hành động
liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng
một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch
dạy học”.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Dung, Viện phó Viện Nghiên cứu
giáo dục (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM): “Dạy tích hợp là sự lồng
ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một
1.1.2. Mục tiêu của dạy học tích hợp
- Làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa.
Đặt quá trình học tập vào hoàn cảnh (tình huống) để HS nhận
thấy ý nghĩa của kiến thức, kỹ năng, năng lực cần lĩnh hội. Điều
này có ý nghĩa to lớn trong việc tạo động lực học tập cho HS. Trong
quá trình học tập các kiến thức, kỹ năng, năng lực đều được huy
động và gắn với thực tế cuộc sống. Do vậy cần liên kết các môn
học khác nhau trong nhà trường.
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn.
Lựa chọn các tri thức, kỹ năng cốt yếu xem là quan trọng đối
với quá trình học tập của HS và dành thời gian, cũng như giải pháp
hợp lý cho chúng.
- Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống.
17
Nêu bật cách thức sử dụng kiến thức đã lĩnh hội. Tạo các tình
huống học tập để HS vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự lực
để hình thành người lao động có năng lực tự lập.
- Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học.
Thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau của
cùng một môn học cũng như của các môn học khác nhau. Đào
tạo HS có khả năng huy động hiệu quả những kiến thức và năng
lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất
hiện, hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình
huống chưa từng gặp.
1.1.3. Những đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp
Tìm cách làm cho QTHT có ý nghĩa: Cần phải đặt toàn bộ các
QTHT vào một tình huống có ý nghĩa đối với HS.
năng sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong cuộc
sống, đây cũng chínhlà mục tiêu của DHTH.
DHTH giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học
trong cùng một môn học và giữa các môn học khác nhau. Đồng
thời DHTH giúp tránh những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp
khi nghiên cứu riêng rẽ từng môn học, nhưng lại có những nội
dung, kĩ năng mà nếu theo môn học riêng rẽ sẽ không có được. Do
đó vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thể phát triển kĩ năng, năng lực
xuyên môn cho HS, thông qua việc giải quyết các tình huống phức
hợp.
Thực hiện DHTH giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt
yếu và cái ít quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung. Cần tránh đặt
các nội dung học tập ngang bằng nhau, bởi có một số nội dung
học tập quan trọng hơn vì chúng thiết thực cho cuộc sống hằng
ngày và vì chúng là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo. Từ đó có
thể dành thời gian cho việc nâng cao kiến thức cho HS khi cần
thiết.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan
điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những
năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập
trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt
giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những
19
quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp
đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải
quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Dạy học theo hướng tích
hợp phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học (PPDH).
quan hệ của giáo dục với môi trường văn hóa. Nguyên tắc đặc
trưng văn hóa của giáo dục tích hợp đòi hỏi việc tổ chức quá trình
giáo dục và dạy học phải tính đến đặc trưng văn hóa xã hội, bên
ngoài và bên trong của người học. Theo Adolph Diesterweg, văn
hóa bên ngoài, đó là các chuẩn mực đạo đức, sinh hoạt và nhu cầu
của người học; văn hóa bên trong, là đời sống tinh thần của con
người và văn hóa xã hội là các quan hệ xã hội và văn hóa dân tộc.
1.1.6. Các mức độ tích hợp [8]
Nhiều nhà khoa học đã phân chia các mức độ TH theo thang
tăng dần theo thứ tự sau đây:
- Truyền thống (traditional):
Từng môn học được giảng dạy, xem xét riêng rẽ, biệt lập
không có bất kì sự liên hệ, kết nối nào giống như chụp ảnh cận
cảnh từng đoạn – một hướng, một cách nhìn, sự tập trung hạn hẹp
vào một môn riêng rẽ. Ví dụ, GV áp dụng quan điểm này trong
giảng dạy từng môn như Toán, Khoa học, nghiên cứu xã hội, nghệ
thuật, ngôn ngữ... một cách riêng biệt, chỉ trong khuôn khổ kiến
thức của môn học mình dạy. Các vấn đề được giải quyết trên cơ sở
những kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó.
- Kết hợp/lồng ghép (fusion)
Một nội dung nào đó được kết hợp vào chương trình đã có sẵn.
Ví dụ, ở một trường THPT của bang Illinois (Mỹ) đã kết hợp các
nghiên cứu về toàn cầu hóa vào trong chương trình của nhà
trường. Điều này sẽ giúp cho HS hiểu sâu hơn các vấn đề của thế
giới từ nhiều góc nhìn khác nhau. Hoặc ở một trường học khác của
bang New Jersey, nhà trường cho rằng các yếu tố xã hội và xúc
cảm là những yếu tố quan trọng nhất đối với đời sống của đứa trẻ.
Chính vì thế, ở từng khía cạnh nhận thức của nhà trường được thiết
kế để chỉ rõ cho HS biết là người lớn quan tâm đến chúng. Nhà
trường đã sử dụng chương trình học về xã hội và xúc cảm để
nhiều lắm nội dung giảng dạy bộ môn của mình. Nội dung và đánh
giá vẫn nguyên theo bộ môn. Chỉ có HS được mong đợi là tạo ra
những kết nối giữa các lĩnh vực bộ môn, tức là các em sẽ giải
quyết vấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộ môn khác
22
nhau. Đôi khi cách tiếp cận đa môn đã tạo ra những liên kết rất
mạnh và khi đó thì những liên kết bộ môn bị mờ đi và chương trình
chuyển sang lãnh địa liên môn.
- Liên môn (interdisciplinary)
Chương trình liên môn tạo ra những kết nối giữa các
môn học. Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề/vấn đề chung,
nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh
giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt.
Ví dụ: môn Lịch sử và Địa lí được xây dựng ở lớp 4, 5 gồm 2
phần mang tên phân môn riêng là Lịch sử, Địa lý.
Chương trình và SGK các môn Khoa học của Pháp gồm: môn Lí
- Hoá; môn Sinh - Địa chất (hoặc Khoa học về Trái đất).
Chương trình môn Khoa học của bang Kentucky (Hoa Kì) gồm
có các chủ điểm: Khoa học Vật thể (physical science) gồm Vật lí và
Hóa học; Khoa học Trái Đất - Không gian; Khoa học cuộc sống (Life
Science).
- Xuyên môn (transdisciplinary)
Cách tiếp cận này bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực
(real-life context). Nó không bắt đầu bằng môn học hay bằng
những khái niệm hoặc kĩ năng chung. Điều quan tâm nhất ở đây là
sự phù hợp đối với HS. Điểm khác nhau duy nhất so với liên môn là
ở chỗ chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích
của HS.
sự lồng ghép “cơ học”, để tiếp cận vấn đề được tự nhiên đòi hỏi
phải có sự nghiên cứu công phu và khoa học. [15]
1.1.7. Điều kiện để tổ chức dạy học tích hợp [10]
Để thực hiện chương trình tích hợp hay dạy học tích hợp cần
có một số điều kiện để thực hiện có hiệu quả.
Về mặt nội dung, cần xây dựng một chương trình thể hiện
quan điểm tích hợp và đồng thời là SGK, SGV và các tài liệu bổ trợ
khác.
Về chuyên gia, cần có đội ngũ chuyên gia về tích hợp có thể
xây dựng chương trình, viết SGK, SGV và các tài liệu tham khảo
khác.
24
Về giáo viên, cần có đội ngũ GV được đào tạo đáp ứng được
yêu cầu của dạy học tích hợp.
Về cơ sở vật chất thiết bị, cần có cơ sở vật chất thiết bị tối
thiểu: Phòng học, phòng học môn và các thiết bị cần thiết phục vụ
cho dạy học tích hợp.
1.2. Tổ chức dạy học theo hướng TH liên môn KHTN
1.2.1. Dạy học tích hợp liên môn
Theo PGS.TS. Nguyễn Xuân Thành, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục
trung học, Bộ GD-ĐT: Trước hết phải nói rằng dạy tích hợp, liên môn
không phải là hai khái niệm tách rời nhau mà chỉ là một khái niệm
duy nhất, đó là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến hai
hay nhiều môn học. “Tích hợp” là nói đến phương pháp và mục tiêu
của hoạt động dạy học còn “liên môn” là đề cập tới nội dung dạy
học. Đã dạy học “tích hợp” thì chắc chắn phải dạy kiến thức “liên
môn” và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải