Các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh và sự cần thiết của việc đổi mới SGK - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC - ĐẠO TẠO HÀ NAM
TRƯỜNG THPT LÝ THƯỜNG KIỆT

"Các phương pháp dạy học theo định hướng
phát triển năng lực của học sinh và sự cần
thiết của việc đổi mới SGK"
Năm học 2015 - 2016

Lĩnh vực: Môn sinh
Mã số: 08
Người thực hiện: Vũ Thị Huệ
Chức vụ : Giáo viên

Kim Bảng, tháng 03 năm 2016

1


I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lí do chọn đề tài
Từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay xu hướng đào tạo và giáo dục trong
nước cũng như quốc tế là chất lượng đầu ra, phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân
cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm
chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống, các vấn đề thực tiễn của
cuộc sống và nghề nghiệp.
Xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi
phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực
tiễn. Năm học 2015 -2016 tôi đã tổ chức các tiết học theo định hướng phát triển năng
lực học sinh, mặc dù các em có sôi nổi với những phương pháp mới nhưng qua đó tôi
thấy được 1 số tồn tại của SGK khó mà có thể giúp chúng ta dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh. SGK đã quá cụ thể về kiến thức dẫn đến học sinh cảm thấy

5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Năm học 2015-2016
Phạm vi đề tài: Chương trình sinh học THPT
Phạm vi áp dụng: Cấp tỉnh

II. NỘI DUNG
3


1. Cơ sở lý luận
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết số 29-NQ/TW8 về đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo là “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các
yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng
lực của người học”. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình
thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đa
dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình
giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người. Vì vậy chúng ta cần phải
có các phương pháp dạy học hợp lý và sự sắp xếp nội dung của SGK theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy
học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên
cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ
chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức
là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển năng
lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua
hệ thống các năng lực . Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong

(iv) Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá
được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng
khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá
trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua
việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên
môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng
mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ
bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực
phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO:

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển
năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ

5


năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực
cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực
hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này. Nội dung dạy
học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng
chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực:
Học nội dung
chuyên môn

Học phương pháp - Học giao tiếp - Xã Học tự trải nghiệm chiến lược
hội
đánh giá


giải quyết xung đột
Năng lực phương
pháp

Năng lực xã hội

Năng lực cá nhân

2. Cơ sơ thực tiễn
Hiện nay xã hội ngày một phát triển bên cạnh những mặt tích cực của nó như giúp
con người tiếp cận nhanh với tri thức, nắm thế giới trong tay, thì nó cũng mang lại
những tiêu cực rất lớn như đại bộ phận học sinh gần như không thích thú với việc học,
vì các em bị quá nhiều có trò chơi thu hút. Đa số học sinh dành quá nhiều thời gian cho
facebook và các trò chơi điện tử trên điện thoại, dẫn đến tình trạng các em đến lớp mà
không có động lực, ngồi trong giờ không chú ý chỉ mong hết giờ để tiếp tục các trò chơi
của mình. Đặc biệt là các môn học mà các thầy cô vẫn dạy theo phương pháp định
hướng nội dung, mang tính hàn lâm thì các em ngần như chán nản, tinh thần uể oải,
thậm chí có những em bất hợp tác thể hiện bằng việc ngục đầu trên bàn và ngủ.
Với phương pháp dạy học định hướng nội dung ở thời điểm hiện nay cho dù giáo
viên có tích cực tìm các dẫn chứng minh họa hay đến đâu, hấp dẫn như thế nào cùng
không thể thu hút được 100% học sinh chú ý như những năm trước kia. Ví dụ khi học
bài " Công nghệ gen" lớp 12, nếu như trước đây giáo viên giới thiệu về những sinh vật
chuyển gen như chuột phát quang, gạo vàng, lúa chịu hạn và lụt... thì học sinh sẽ chăm
chú lắng nghe bài giảng của giáo viên, thậm chí hăng hái đặt ra các câu hỏi có liên quan

6


về các sinh vật đó. Nhưng 2 năm trở lại đây học sinh đã thay đổi, các em không muốn
cũng như không quan tâm đến những gì giáo viên giảng trên lớp vì các em cho rằng nó

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác,
Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ,
trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên
cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày
và đánh giá trước toàn lớp.
Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách
nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS.
* Quy trình thực hiện
Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:
(1) Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ
- Giới thiệu chủ đề
- Xác định nhiệm vụ các nhóm

7


- Thành lập nhóm
(2) Làm việc nhóm
- Chuẩn bị chỗ làm việc
- Lập kế hoạch làm việc
- Thoả thuận quy tắc làm việc
- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ
- Chuẩn bị báo cáo kết quả.
(3) Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá
- Các nhóm trình bày kết quả
- Đánh giá kết quả.
c. Phương pháp đóng vai
*Bản chất
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định. `Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ

- Tổng hợp kết quả
+ Tổng hợp các kết quả
+ Xây dựng sản phẩm
+ Trình bày kết quả

8


+ Phản ánh lại quá trình học tập
VD: Bài 29. Cấu trúc các loại virut; bài 30. sự nhân của virut trong tế bào chủ; bài 31.
virut gây bệnh và ứng dụng của virut trong thực tiễn có thể sự dụng các phương pháp
trên để dạy học theo dự án kết hợp với các phương pháp tích cực để dạy học theo chủ
đề:"Virut và ảnh hưởng của virut đến đời sống con người" tiến trình như sau:
Nội
dung
Đặt
vấn
đề
vào
bài

Tìm
hiểu
về
cấu
trúc
các
loại
virut


- Chia lớp thành 4 nhóm, yêu - HS làm việc theo nhóm
cầu mỗi nhóm có 1 nhóm
+ 3 bàn 1 nhóm
trưởng, 1 thư kí
+ mỗi nhóm phân 1 thư kí, 1 nhóm trưởng
- Phát phiếu học tập (PHT) số
1, yêu cầu học sinh đọc đoạn - Các nhóm làm việc
thông tin, thảo luân nhóm và + Nhận PHT, đọc
trả lời các câu hỏi trong PHT
+ Nghe hướng dẫn của giáo viên
(slide 3)
+ Hướng dẫn các nhóm thảo + Thảo luận và thống nhất ý kiến
luận và hoàn thiện phiếu học
- Đại diện 2 nhóm được giáo viên chỉ định lên
tập
- Yêu cầu đại diện 2 nhóm bảng trình bày kiến thức
(Giáo viên chọn ngẫu nhiên 2
nhóm trong 4 nhóm) lên bảng

9


trình bày (slide 4)
+ 1 nhóm: Trình bày khái niệm
virut và điểm khác biệt giữa
virut với sinh vật khác
+ 1 nhóm: Trình bày cấu tạo
virut
- Yêu cầu các học sinh khác
theo dõi để nhận xét và bổ

- Virut là dạng sống chưa có cấu tạo tế bào, có
kích thước siêu nhỏ ( đo bằng nanomet) và có
cấu tạo rất đơn giản, hệ gen chỉ chứa một loại
axit nuclêic ( ADN hoặc ARN) được bao bọc
bởi phân tử prôtêin.
- Đặc điểm của virut khác với nhóm sinh vật
khác:
+ Có kích thước siêu nhỏ, không có cấu tạo tế
bào.
+ Chỉ chứa một loại axit nuclêic (ADN hoặc
ARN)
+ Sống kí sinh nội bào bắt buộc.
2. Cấu tạo
- Gồm 2 thành phần cơ bản :
+ Lõi là axit nuclêic, có thể là ADN 1 mạch
hay ADN 2 mạch hoặc ARN 1mạch hay 2
mạch.
+Vỏ là phân tử prôtêin ( gọi là capsit) : được
cấu tạo từ các đơn vị hình thái gọi là capsôme.
⇒ Tổ hợp axit nuclêic và vỏ capsit gọi là
nucleôcapsit.
- Một số virut còn có thêm vỏ bao ngoài vỏ
capsit
+ Cấu tạo từ lớp kép lipit và prôtêin gọi là vỏ
ngoài.
+ Trên mặt vỏ ngoài có các gai glicoprôtêin
đóng vai trò là kháng nguyên và giúp virut
bám lên bề mặt tế bào chủ.
- Tự nghiên cứu trả lời câu hỏi của giáo viên
+ Các kiểu cấu trúc của virut

virut
trong
tế bào
chủ

* Sử dụng:
- Phương pháp: Trực quan
- Kĩ thuật: Phân tích ảnh động
* Tổ chức:
- Chiếu (slide 9, 10) yêu cầu
học sinh quan sát hình ảnh
động về sự nhân lên của virut
trong tế bào động vật và của
phage trả lời các câu hỏi: Hãy
quan sát hình và kể tên các giai
đoạn nhân lên của virut trong
tế bào chủ? Phân tích những
diễn biến chính trong từng giai
đoạn?
- Cho học sinh tìm hiểu sự
nhân lên của virut trong tế bào
chủ 1 cách độc lập, chủ động.
- Yêu cầu HS khác nhận xét và
bổ sung
- Nhận xét - Kết luận

- Theo dõi hình ảnh và ghi lại các thông tin
cần thiết để trả lời câu hỏi của GV

- Nghiên cứu bài 1 cách độc lập, tìm ra những

trả lời câu hỏi: Hãy sắp xếp và
cho biết tên của các giai đoạn
nhân lên của phage trong tế
bào chủ?
- Chiếu (slide12, 13) Yêu cầu
HS lên trình bày tóm tắt chu
trình nhân lên của phage và
virut động vật trong tế vào
chủ?
- Yêu cầu HS khác nhận xét bổ
sung
- Nhận xét đánh giá
- Đưa ra các câu hỏi để củng
cố, khắc sâu kiến thức của học
sinh
(slide 14,15,16, 17, 18, 19)
- Phân chia nhóm và giao
nhiệm vụ cho học sinh (slide
20)
+Nghiên cứu bài virut gây
bệnh và ứng dụng của virut
trong thực tiễn (100% HS)
+Tìm hiểu về AIDS/ HIV
(100% HS)
+Tìm hiểu sâu về virut gây
bệnh theo nhóm
• Nhóm 1: Tìm hiểu virut
kí sinh ở vi sinh vật và
lợi ích của virut trong
sản xuất chế phẩm sinh


12


bài báo cáo trên powerpoint
- Thảo luận, lên kế hoạch và phân công nhiệm
(yêu cầu xác định được: số
vụ.
lượng virut, cách xâm nhập,
các bệnh thường thấy ở địa
phương, tác hại và biện pháp
khắc phục)
- Hướng dẫn các nhóm ghi sổ
theo dõi dự án và phân công
nhiệm vụ trong nhóm lập kế
hoạch.
Bước 2: Thực hiện kế hoạch dự án và xây dựng sản phẩm (7 ngày)
(Hoạt động vào thời gian ngoài giờ lên lớp)
Bước 2.1. Giáo viên : Theo dõi, hướng dẫn, giúp đỡ các nhóm (xây dựng câu hỏi phỏng
vấn, cách thu thập thông tin, kĩ năng giao tiếp...) ở các tiết học xen giữa.
Bước 2.2 Hoạt động của học sinh
Bước 3- Báo cáo kết quả việc tìm hiểu ảnh hưởng của virut đến đời sống con người
và một số bệnh do virut thường gặp ở người, động vật và thực vật ở địa phương của
HS.
Nội
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
dung
Báo
* Phương pháp/kĩ thuật: Dạy - Các nhóm báo cáo kết quả

virut
cây bị lùn hay còi cọc...
3. Virut kí sinh ở côn trùng
- Chúng kí sinh những côn trùng ăn lá cây, làm
hại cây trồng.
- Gây bệnh cho người và vật nuôi qua vật
trung gian (muỗi, bọ chét...)
4. Virut kí sinh ở động vật và con người
Gây nhiều bệnh nguy hiểm.
VD: AIDS/HIV
IV. Ứng dụng của virut trong đời sống
- Trong sản xuất các chế phẩm sinh học như
inteferon

13


- Tổ chức cho HS đóng tiểu
Tìm
phẩm 2. "Lớp học sôi động" để
hiểu
học sinh tìm hiểu về:
về
+ Khái niệm, con đường lây
HIV/ nhiễm, các giai đoạn phát triển
AIDS và
cách
phòng
chống
HIV/AIDS

- Ghi chép các nhiệm vụ mới

Phụ lục:
Nội dung tiểu phẩm 1:
2 HS (Hà + Chi có bố bị HIV) đang trên đường đi học về gặp Tám nhiều chuyện. Tám
gọi Hà lại và xua đuổi Chi
Tám: Hà lại bà bửu
Hà: Dạ
Chi và Hà lại gần Tám
Tám: Ấy ấy con Chi đừng lại gần bà, tao gọi con Hà thui còn mày về đi
Chi: Dạ vâng, cháu chào bà
Hà: Thế có việc gì thế bà
Tám: Mày đừng chơi với con bé Chi
Hà: Sao thế bà
Tám: Cả làng đang kháo nhau bố nó mới bị HIV sắp chết rồi
Hà: HIV là gì hả bà?
Tám: Là con virut ấy nó gây chết luôn
Hà: virut là gì hả bà? trông nó như thế nào hả bà?
Tám: virut là virut chứ còn là gì? hừ
Hà: Nhưng bố Chi bị HIV thì liên quan gì đến Chi đâu?
Tám: Mày ngu thế nó ở cùng nhà với bố nó lỡ bố nó hắt hơi hoặc con muỗi đốt bố nó
rồi đốt nó thì nó cũng HIV luôn, rồi mày chơi với nó xong nó hắt hơi hoặc con muỗi đốt
nó rồi đốt mày thì mày cũng HIV luôn. Thế là hết đời con àh
Hà: Thật á bà hắt hơi hoặc muỗi đốt cũng lây được á bà. Sợ nhỉ. Nhưng có lây thật
không bà

14


Tám: Tùy mày tin bà thì sống không tin bà thì chết. Thôi về đi

không sợ bị lây nhiễm HIV nếu ta không có sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch sinh dục
và các dịch sinh học khác của họ.
GV: Các em có hiểu những gì cô đang nói không?
HS: dạ chúng em biết rồi cô ah
Hà (đứng lên): Chi ah cho chúng tớ xin lỗi nhé
Chi: uh chỉ cần các bạn đừng xa lánh những đứa trẻ không có lỗi như tớ thì chúng tớ sẽ
có động lực để sống và học tập, sau này góp phần xây dựng quê hương đất nước
3.2 Nghiên cứu SGK xây dựng những PHT theo hướng tích cực tạo hứng thú
cho học sinh
VD: Bài 29. Cấu trúc các loại virut với cấu trúc như SGK hiện nay học sinh thấy
việc học quá dễ dàng và không chú tâm vì các em không cần phải suy nghĩ, tư duy mà
chỉ cần tìm trong SGK là có phần kiến thức theo yêu cầu. Vậy chúng ta cần xây dựng
SGK theo hướng kích thích sự tư duy suy nghĩ của các em. Chúng ta có thể xây dựng
PHT để tăng tính tích cực của học sinh như sau:

15


"Năm 1892 nhà khoa học Nga Ivanopxki đã phát hiện thấy khi lấy dịch ép lá cây
thuốc lá bị bệnh khảm, cho lọc qua nến lọc vi khuẩn, rồi đem nhiễm vào cây thuốc lá
lành thì cây cũng mắc bệnh. Soi dưới kính hiển vi ông không quan sát thấy mầm bệnh,
nuôi cấy trên môi trường thạch không thấy khuẩn lạc, Ivanopxki giả định rằng mầm
bệnh là một loại vi sinh vật nhỏ bé đến mức chui qua thành nến lọc vi khuẩn. Năm 1898
chúng được gọi là virut.
Virut có thể kí sinh ở tất cả các sinh vật có cấu tạo tế bào như vi khuẩn, thực vật,
động vật và con người. Tất cả các virut đều có chung 1 đặc điểm là cấu tạo rất đơn giản,
thành phần cơ bản là Nucleocapsit (gồm vỏ protein và lõi axit nucleic), chúng không
có màng sinh chất, không có tế bào chất (nên phải kí sinh nội bào bắt buộc). Ngoài ra 1
số virut còn có thêm lớp vỏ ngoài được tạo bởi lipit kép và protein, trên vỏ ngoài có các
gai glicoprotein giúp virut bám vào tế bào chủ.

TB
28.6%
31.7%
8.3%
30.4%
Yếu
7.1%
12.2%
0
2.2%

III. KẾT LUẬN
17


Như vậy để có thể phát triển năng lực học sinh trong dạy và học thì giáo viên cần
phải thay đổi phương pháp dạy học của mình, chuyển từ dạy học định hướng nội dung
sang định hướng phát triển năng lực cho học sinh bằng các phương pháp dạy học tích
cực và các tài liệu phù hợp. Dạy học tích cực sẽ mang lại nhiều lợi ích như giúp học
sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp việc tìm kiếm thông
tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối
với học sinh. Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy
học.
Việc dạy học tích cực góp phần hình thành và phát triển kĩ năng quyết định, giao
tiếp và làm việc nhóm. Nội dung được giảm tải nhằm tăng thời gian và không gian cho
giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo và tương tác, học sinh phát huy tốt
hơn quyền chủ động học tập của mình. Việc dạy học không chú trọng vào việc dạy kiến
thức mà nhấn mạnh vào việc hình thành cho học sinh phương pháp và kỹ năng tư duy
trong học tập, đòi hỏi giáo viên phải có những sáng tạo trong phương pháp dạy học
Đề xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status