SKKN phương pháp kiểm tra, đánh giá, theo định hướng phát triển năng lực của học sinh đối với môn học lịch sử ở trường trung học phổ thông - Pdf 50

MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Đặt vấn đề

TRANG
2

1.1. Lý do chọn đề tài

2

1.2. Mục đích nghiên cứu

3

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3

1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung

3
4

2.1. Cơ sở lý luận

4

2.2. Thực trạng vấn đề


cuộc sống hơn.
Việc giáo dục nói chung bao giờ cũng gắn liền với kiểm tra, đánh giá nhận
thức và năng lực của người học, kiểm tra đánh giá không chỉ để nhận xét học
sinh học tập thế nào rồi cho điểm, xếp loại mà còn thúc đẩy các em có ý thức
trong học tập và rèn luyện các kỹ năng trong cuộc sống thực tiễn, đồng thời
thông qua kiểm tra đánh giá giáo viên còn nắm bắt được kết quả giảng dạy của
bản thân nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế.
Môn học Lịch sử là môn học quan trọng trong trường phổ thông, qua môn
học này học sinh hiểu biết về quá khứ, cội nguồn của dân tộc, đất nước, ngoài ra
còn giáo dục cho học sinh có ý thức trách nhiệm, giữ gìn, bảo tồn phát huy các
giá trị truyền thống, có trách nhiệm với bản thân , quê hương đất nước. Học sinh
học lịch sử không phải chỉ để biết về quá khứ, hay những câu truyện đời xưa, mà
phải biết lấy “chuyện xưa răn đời nay”, “ Lịch sử là tấm gương soi”. Đặc biệt
trong hội nhập với cộng đồng thế giới hiện nay, chúng ta cần phải có ý thức,
trách nhiệm hơn về dân tộc mình, đồng thời nên “Khép lại quá khứ chứ không
thể quên đi quá khứ”.
Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học là những hoạt động quan sát,
theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh, tư
vấn, hướng dẫn, động viên học sinh, hình thành và phát triển một số năng lực,
phẩm chất của học sinh nhằm giúp học sinh tự rút kinh nghiệm và nhận xét lẫn
nhau trong quá trình học tập, qua đó hình thành và phát triển năng lực vận dụng
kiến thức, khả năng tự học và giải quyết vấn đề trong môi trường giao tiếp, hợp
tác, kích thích sự đam mê của học sinh trong quá trình giáo dục.
Trong những năm gần đây, qua trao đổi với các đồng chí đồng nghiệp cùng
chuyên môn, đồng thời cũng do nhu cầu của xã hội chúng tôi nhận thấy, học sinh
ở các trường phổ thông hiện nay không có sự đam mê đối với môn học lịch sử.
Vì thiếu sự đam mê nên rất ít học sinh giỏi môn lịch sử. Khi trao đổi với các em
chúng tôi nhận được những thông tin phản hồi rằng: học lịch sử là môn học
2



2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc.Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở
để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỷ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu ở trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy học”1. “Đổi mới căn bản hình thức và
phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, đảm bảo trung
thực, khách quan. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với
đánh giá cuối kỳ, cuối năm; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người
học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội”.2
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy
học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng có tầm quan trong đặc biệt. Nó là
khâu cuối cùng, đồng thời khởi đầu cho một chu trình khép kín tiếp theo với một
chất lượng cao hơn quá trình dạy học. Giáo viên nhất thiết phải có nhận thức
đúng và thực hiện nghiêm túc kiểm tra, đánh giá thì dạy học mới có hiệu quả
cao. Bởi vì thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên có những biện
pháp sư phạm phù hợp nhằm năng cao chất lượng dạy học.
1.nghị quyết hội nghị W8-khóa XI. 2. Tài liệu tập huấn môn lịch sử.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của giáo dục phổ
thông, hoạt động đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá cũng được nhà trường
và các tổ chức đặc biệt quan tâm và cũng thu được những kết quả bước đầu.
Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới phương pháp dạy
học, kiểm tra, đánh giá ở trường phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc
phục. Cụ thể là:

Qua các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh cao đẳng,
đại học, số điểm thi môn lịch sử cho thấy kiến thức lịch sử của học sinh hiện nay
quá kém. Nguyên nhân dẫn đến những yếu kém về chất lượng môn lịch sử
theo tôi đó là:
Thứ nhất, phương pháp dạy học truyền thống cùng với cách kiểm tra đánh
giá còn mang nặng tính chủ quan của người dạy, chưa phát huy được năng lực
của người học, lối kiểm tra mạng tính áp đặt không phát huy được sự năng động,
sáng tạo, kỹ năng giải quyết tình huống vào thực tiễn của cuộc sống vì thế học
sinh không có sự đam mê đối với môn học. Việc dạy học hiện nay chủ yếu được
thực hiện trên lớp theo bài/tiết trong sách giáo khoa. Trong phạm vi 1 tiết, không
đủ thời gian cho mọi hoạt động của học sinh theo hướng hoạt động tích cực, dẫn
đến nếu sử dụng phương pháp dạy học tích cực cũng chỉ mạng tính hình thức,
chưa thực sự phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh, hiệu quả của
việc khai thác các phương tiện dạy học cũng bị hạn chế vì thời gian có hạn.
Thứ hai, bộ môn lịch sử là một trong những bộ môn ít giờ trong tuần, sự
tiếp xúc giữa thầy và trò trên lớp là rất ít thời gian, cụ thể :
- Khối 10:
Số tiết học môn Lịch sử 1,5 tiết/tuần
- Khối 11:
Số tiết môn Lịch sử là 1 tiết/tuần (bằng số tiết khi chưa cải cách SGK),
môn GDCD cũng 1 tiết/tuần. Trong khi môn Văn 3,5 tiết/tuần, môn Ngoại ngữ
là 3 tiết/tuần, cũng xin nêu rõ: môn Văn, Ngoại ngữ không phải là môn học nâng
cao của Ban KHTN và KHCB. Như vậy, môn Lịch sử và môn GDCD ở vị trí
nào?
- Khối 12:
Số tiết môn Lịch sử là 1,5 tiết/tuần, còn môn Văn và môn Ngoại ngữ là 3
tiết/tuần (cả ba môn Lịch sử, Văn, Ngoại ngữ đều không phải là môn nâng cao
của Ban KHTN và KHCB).
Thứ ba, do sự thực dụng về môn học, theo tôi đây là nguyên nhân chính
dẫn đến tình trạng yếu kém về kiến thức môn Lịch sử ở rất nhiều người, kể cả

4. Kiểm tra thực hành
Đối tương sử dung các phương pháp kiểm tra đánh giá này thường là giáo
viên, học sinh ít có cơ hội được tham gia vào quá trình đánh giá.
Ví dụ cụ thể:
Chương trình lớp 10 cơ bản tiết 11 kiểm tra 1 tiết, theo phương pháp kiểm tra
truyền thống thì giáo viên sẽ ra một đề kiểm tra 1 tiết cụ thể như:
Câu 1(4.0đ) :
Hãy nêu những thành tựu văn hoá chủ yếu của Trung Quốc?
Câu 2(6.0đ) :
Xã hội cổ đại Phương Đông gồm những tầng lớp nào? Tại sao ở đây lại hình
thành các tầng lớp xã hội đó ?
Với phương pháp đánh giá truyền thống này chủ yấu tập trung vào đánh
giá nhận thức và kỹ năng cứng của người được đánh giá, và chủ yếu là quan tâm
đến kiến thức trong sách giáo khoa, không phát triển được năng lực của người
học. đặc biệt đối với môn học Lịch Sử thì phải hình thành cho các em tình cảm
đối với quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, cho các em những bài học
6


trong cuộc sống, có thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn, từ đó mới thúc đẩy
việc dạy học bộ môn lịch sử gắn liền với cuộc sống thực tiến hơn.
Ngoài những phương pháp kiểm tra đánh giá trên, các phương pháp đánh
giá nhằm phát triển năng lực của học sinh theo hướng mở còn sử dụng các
phương pháp sau :
- Quan sát
- Trao đổi
- Hồ sơ đánh giá
- Đánh gia sản phẩm dự án
- Đánh giá qua các tình huống thực tế.
Các phương pháp kiểm tra đánh giá này tập trung vào việc đánh giá vận

Để đảm bảo được ba yêu cầu trên đối với tiết kiểm tra này giáo viên sẽ thiết lập
một ma trận cho đề kiểm tra đó với những nội dung cụ thể như sau :
7


4. THIẾT LẬP MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA TỰ LUẬN, TRẮC NGHIỆM
Nhận biết
TN
TL
1.Sự xuất
Biết được địa
hiện loài
điểm con
người và bầy người xuất
người nguyên hiện, đặc điểm
thủy
của người
nguyên thủy
Số câu :
Số câu : 4
Số điểm :
Số điểm :1.0
Tỷ lệ :
Tỷ lệ :
Biết được cơ sở
2.Các quốc
kinh tế, xã hội
gia cổ đại
của các quốc
Phương

quá trình
thành và phát
Quốc thời
hình thành
triển, suy
Phong Kiến
và phát triển
vong của
của chế độ
Trung Quốc
phong kiến
Phong Kiến
Trung Quốc
Số câu :
Số điểm :
Tỷ lệ :

Số câu : 2
Số điểm : 0.5
Tỷ lệ :

Số câu : 1
Số điểm : 2
Tỷ lệ :

Số câu :
Số điểm :
Tỷ lệ

Số câu : 12

sông
Số câu : 2
Số điểm: 0.5
Tỷ lệ :

Số câu :
Số điểm :
Tỷ lệ :

Hiểu dược khái
niệm thị Quốc và
nguyên nhân thị
quốc hình thành,
hoạt động kinh
tế của thị quốc

Sự khác nhau cơ
bản của các quốc
gia cổ đại
phương Đông và
Phương Tây trên
các lĩnh vực

Số câu : 2
Số điểm :0.5
Tỷ lệ : 30%

Số câu : 2
Số điểm: 0.5
Tỷ lệ : 20%


Sau khi đã hoàn thành các bước trên giáo viên có thể tiến hành ra đề kiểm tra 45
phút cho các lớp theo các nội dung trên bảng mô tả và số điểm theo ma trận đề
kiểm tra đã thiết lập.

8


ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT
KHỐI 10- MÔN : LỊCH SỬ
I. TRẮC NGHIỆM(6.0 ĐIỂM)
Hãy khoanh tròn trước câu trả lời đúng
1. Nô lệ trong xã hội cổ đại phương Đông có nguồn gốc từ
a. nông dân công xã
b. nông dân lệ thuộc
c. tù binh, nông dân nghèo không trả được nợ
d. người thân của nô lệ
2. Cư dân ở lưu vực những dòng sông lớn ở châu Á và châu Phi sống bằng nghề
a. sản xuất thủ công
b. buôn bán
c. nông nghiệp trồng lúa
d. đánh cá và các loại thuỷ sản khác
3. Lực lượng sản xuất chính trong xã hội phương Đông là
a. nông dân công xã
b. nô lệ
c. quý tộc
d. bình dân
Câu 4. Chữ viết đầu tiên của người phương Đông cổ đại là chữ gì?
A. Chữ tượng hình
B. Chữ tượng ý

C. Nông nghiệp và thủ công nghiệp
D. Thủ công và thương mại

9


Câu 11. Nơi nào không phải địa chỉ tìm thấy xương hóa thạch của loài vượn cổ.
A. Đông Phi
B. Tây Á
C. Lạng Sơn (Việt nam) D. Mĩlatinh
Câu 12: Khoảng 6 triệu năm trước đây xuất hiện loài người như thế nào?
A. Loài vượn người.
B. Người tinh khôn.
C. Loài vượn cổ
D. Người tối cổ.
Câu 13: Ở Việt Nam di tích Người tối cổ được tìm thấy đầu tiên ở tỉnh nào?
A. Nghệ An
B. Thanh Hoá
C. Cao Bằng
D.Lạng Sơn
Câu 14: Đặc điểm nào dưới đây là đặc điểm của Người tối cổ?
A. Biết sử dụng công cụ bằng đồng
B. Đã biết chế tạo công cụ lao động
C. Đã biết trồng trọt và chăn nuôi
D. Hầu như đã hoàn toàn đi bằng hai chân
Câu 15: Việc giữ lửa trong tự nhiên và chế tạo ra lửa là công lao của:
A. Người vượn cổ
B. Người tối cổ
C. Người tinh khôn.
D. Người hiện đại

chủ yếu?
A. Da trắng B. Da vàng C. Da đen
D. Da vàng, trắng, đen
Câu 21: Bước nhảy vọt đầu tiên trong quá trình tiến hoá từ vượn thành người là gì?
A. Từ vượn thành vượn cổ.
B. Từ người tối cổ thành người tinh khôn.
C. Từ vượn cổ thành người tối cổ . D. Từ giai đoạn đá cũ sang giai đoạn đá mới.
Câu 22: Đặc điểm của cuộc "Cách mạng thời đá mới" là gì?
A. Con người biết sử dụng đá mới để làm công cụ.
B. Con người đã biết săn bắn, hái lượm và đánh cá.
C. Con người đã biết trồng trọt và chăn nuôi.
D. Con người đã biết sử dụng kim loại.
Câu 23: Các quốc gia cổ đại phương Đông hình thành vào khoảng thời gian nào?

10


A. Thiên niên kỉ IV- III TCN.
B. 3.000 TCN.
C. Cách đây 4.000 năm.
D. Cách đây 3.000 năm.
Câu 24: Tại sao các quốc gia cổ đại phương Đông sớm hình thành và phát triển ở lưu
vực các dòng sông lớn?
A. Đây vốn là địa bàn sinh sống của người nguyên thuỷ.
B. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ, dễ canh tác, tạo điều kiện cho
sản xuất phát triển
C. Cư dân ở đây sớm chế tạo ra công cụ bằng kim loại
D. Có khí hậu nóng ẩm, phù hợp cho gieo trồng
II. TỰ LUẬN:(4.0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0điểm): Hãy trình bày về quá trình hình thành và phát triển của nhà nước

thức được
1 (2.2%)
2 (4.44%)

* Lớp đối chứng
Lớp

Sĩ số

10C2
10C3

45
45

Nhận thức
thông hiểu
25 (55.56%)
18 (40%)

Nhận thức
vận dụng
5 (11.11%)
7( 15.56%)

Không nhận
thức được
15 (33.33%)
20 (44.44%)


Để kích thích học sinh tìm tòi, say xưa trong việc tìm hiểu giáo viên có thể sử
dụng biện pháp dùng kênh chữ kết hợp kênh hình, cho các em quan sát các hình
ảnh do giáo viên cung cấp đã được chuẩn bị sẵn sau đó phân theo các nhóm
hoặc lớp hoạt động.
Thứ hai:
Sau khi đã kiểm tra, đánh giá, giáo viên phải ghi nhận xét vào phiếu, vở,
sản phẩm học tập… của học sinh về những kết quả đã đạt được hoặc chưa đạt
được, mức độ hiểu và năng lực vận dụng kiến thức, mức độ thành thạo, các thao
tác, kỹ năng cần thíêt…
Ví dụ:
trong mục văn hoá Trung Quốc khi giáo viên đề cập đến vấn đề kiến trúc thì
giáo viên không thể bỏ qua công trình nổi tiếng đó là Vạn lý trường thành, với
nội dung này thì giáo viên có thể cho học sinh thảo luận qua kênh hình đã được
chuẩn bị sẵn, sau đú cho các em thời gian thảo luận thông qua hình thức miêu tả,
tường thuật, nhừ đó các em hình thành cho mình một kỹ năng, quan sát, kỹ năng
giáo tiếp…cuối cùng giáo viên nhận xét kết quả cảu các em hoặc nhóm các em
học sinh.

12


Thứ ba:
Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh,
quan sát các biểu hiện trong quá trình học tập từ đó động viên khích lệ gúp các
em phát huy ưu điểm và các phẩm chất, năng lực riêng, khuyến khích, hướng
dẫn học sinh tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn..
Thứ tư:
Trong quá trình dạy học, giáo viên phải theo dõi từng lời nói cử chỉ, hành động
đề đánh giá năng lực tích cực và sáng tạo của học sinh, phát hiện kịp thời những
học sinh yếu kém, có thái độ ỷ lại, lười biếng, kích thích được các em có sự đam

2. Biết khai thác và sử dụng bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, bảng thống kê...
3. Biết liên hệ thực tế ở địa phương, đất nước, so sánh đối chiếu các sự kiện hiện
tương có trong lịch sử

13


4. Để học sinh bước vào cuộc thi có hiệu quả ngoài việc nắm kiến thức cơ bản,
học sinh cần phải đọc những kiến thức liên quan đến môn sử ( nhất là các tác
phẩm văn học ) để bài làm thêm sinh động. Học sinh cần hệ thống hoá kiến thức
cơ bản để ứng phó với các dạng đề đưa ra.. Biết tổng hợp, phân tích, đánh giá,
nhận xét kiến thức lịch sử.
Đó là những yêu cầu đối với những lớp có kết quả học tập khá cao khi đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đó là “Phát triển năng lực của
người học”

14


3. KẾT LUẬN:
Như vậy, trong quá trình giảng dạy tôi đã vận dụng phương pháp “Phương
pháp kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
THPT”, nhằm thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng
phát triển năng lực của người học. Kết quả cho thấy đã khơi dậy được niềm
đam mê của học sinh đối với môn học, phương pháp này đã tạo cho các em sự tò
mò, ham tìm hiểu, sự tư duy, suy đoán và đặt ra được nhiều tình huống có vấn đề
để giáo viên giải quyết trong giờ học. Có thể nói để chuẩn bị cho một tiết dạy
thật không đơn giản chút nào. Người thầy phải có sự linh hoạt trong tổ chức thảo
luận, tranh luận trên lớp học để vừa đảm bảo thời gian tiết học, vừa có thể phát
huy tối đa tính tích cực, sự sáng tạo của học sinh. Yêu cầu học sinh làm việc

4. Sách giáo viên, chuẩn kiến thức kỹ năng lịch sử Lớp 10 chương trình cơ bản.
5. Một số chuyên đề về lịch sử thế giới: Chủ biên Vũ Dương Ninh, nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Tài liệu tập huấn

16


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 2

TÊN ĐỀ TÀI

PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
ĐỐI VỚI BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Lịch sử

THANH HÓA, NĂM 2018

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status