Các giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh của Công ty TNHH UMAC Việt Nam - Pdf 35

MỤC LỤC

PHỤ LỤC...............................................................................................................78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPBH

Chi phí bán hàng

TLSX

Tư liệu sản xuất

CPQLDN

Chi phí quản lí doanh nghiệp

TSLĐ

Tài sản lưu động

CPSX

Chi phí sản xuất

TSCĐ

Tài sản cố định


Vốn lưu động

SXKD

Sản xuất kinh doanh

VCĐ

Vốn cố định

TLLĐ

Tư liệu lao động

VCSH

Vốn chủ sở hữu

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động
Bảng 2.2: Phân loại lao động theo trình độ tay nghề
Bảng 2.3: Bảng một số chỉ tiêu phân tích tài chính
Bảng 2.4: Bảng phân tích chung kết quả kinh doanh


Bảng 2.5: Phân tích cơ cấu và sự biến động của vốn, nguồn vốn của Công ty năm
2013
Bảng 2.6: Phân tích cơ cấu và sự biến động vốn lưu động của Công ty
Bảng 2.7: Hệ số khả năng thanh toán của Công ty
Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý các khoản phải thu

doanh nghiệp phải luôn tìm kiếm các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh. Bên cạnh đó, tạo lập và sử dụng vốn là bước đi vô cùng quan trọng
làm cơ sở, ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động tiếp của doanh nghiệp.Bởi vậy, huy
động vốn ở đâu, sử dụng vốn thế nào để có hiệu quả tối ưu là vấn đề cần phải
được quan tâm hàng đầu.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, tiềm ẩn cả cơ hội lẫn nguy cơ, mỗi một
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiện tiên quyết là phải tổ
chức, quản lý, sử dụng vốn sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất. Việc
nâng cao tăng cường quản trị vốn không còn là khái niệm mới mẻ, nhưng nó luôn
được đặt ra trong suốt quá trình hoạt động của các doanh nghiệp và là vấn đề luôn
thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, lãnh đạo doanh nghiệp và những người
làm công tác kế toán tài chính.
Trong tiến trình phát triển nước ta đã và đang có sự tập trung rất lớn vào các
ngành nghề trọng tâm của đất nước, trong đó Vật Liệu Xây Dựng là một trong
những ngành trọng điểm. Và Công ty TNHH U-MAC Việt Nam là một trong
những doanh nghiệp hoạt động trong ngành này. Tuy nhiên đây là một ngành có
tính cạnh tranh rất cao, do đó công ty muốn đứng vững và phát triển thì quản trị
vốn việc luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác quản trị tài chính
doanh nghiệp. Xuất phát từ ý nghĩa, vai trò to lớn và nhận thức được tầm quan
trọng của vốn trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trên cơ sở nhận thức
về mặt lý luận và quá trình thực tập tại Công ty TNHH U-MAC Việt Nam tôi
quyết định chọn đề tài: “Các giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh của Công ty
TNHH U-MAC Việt Nam”.
2.

Đối tượng và mục đích nghiên cứu






tích nhân tố, phương pháp số chênh lệch…
Kêt cấu luận văn
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về VKD và quản trị VKD trong các

doanh nghiệp hiện nay.
Chương 2: Thực trạng quản trị VKD của Công ty TNHH U-MAC Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản trị VKD tại Công ty
TNHH U-MAC Việt Nam.


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ
VỐN KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn
kinh doanh
Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có
vốn. Trong nền kinh tế, vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một
doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Với tầm quan trọng
như vậy, việc nghiên cứu cần phải bắt đầu từ việc làm rõ câu hỏi: vốn là gì? và
đặc điểm của vốn là gì?
+ Trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh:
TLLĐ
T

H




Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt mục tiêu sinh lời và vốn luôn

thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới hình thái tiền vừa tồn tại dưới
hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình của doanh nghiệp nhưng kết thúc vòng
tuần hoàn phải là hình thái tiền.
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh
nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình
hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên phải quản lý và sử dụng vốn
như thế nào lại có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của
doanh nghiệp. Do đó, để quản lý và nâng cao tăng cường quản trị vốn, ta phải
nhận thức đầy đủ về những đặc điểm cơ bản sau của vốn :
Thứ nhất: Vốn là hàng hoá đặc biệt và vốn phải đại diện cho 1 lượng giá trị tài
sản.
Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng
vốn vô chủ.
Thứ ba: Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời và phải có giá trị về mặt thời
gian


Thứ tư: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Thứ năm : Vốn được coi như một hàng hoá – một hàng hoá đặc biệt có thể mua
bán quyền sử dụng trên thị trường.
1.1.2

Nguồn hình thành vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường muốn tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải huy


sung từ nội bộ doanh nghiệp như từ lợi nhuận để lại, quỹ khấu hao, các quỹ dự
phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển.
Nguồn vốn chủ sở hữu là một nguồn vốn quan trọng và có tính ổn định cao,
thể hiện quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng của nguồn vốn này
trong cơ cấu nguồn vốn càng lớn, sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng
cao và ngược lại.
Vốn CSH tại một thời điểm = Tổng nguồn vốn - Nợ phải trả


Nợ phải trả:
Là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp
có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế, bao gồm:
Nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp: Trong quá trình SXKD của doanh nghiệp
đương nhiên phát sinh các quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các tác nhân
kinh tế khác như với Nhà nước, với cán bộ công nhân viên, với khách hàng, với
người bán từ đó mà phát sinh vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Thuộc về
vốn chiếm dụng hợp pháp có các khoản vốn sau:
+ Các khoản nợ khách hàng chưa đến hạn trả.
+ Các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước chưa đến hạn nộp.
+ Các khoản phải thanh toán với cán bộ, công nhân viên chưa đến hạn thanh
toán.
Nguồn vốn chiếm dụng chỉ mang tính chất tạm thời, doanh nghiệp chỉ có thể
sử dụng trong thời gian ngắn nhưng vì nó có ưu điểm nổi bật là doanh nghiệp
không phải trả chi phí sử dụng vốn, đòn bẩy tài chính luôn dương, nên trong thực
tế doanh nghiệp nên triệt để tận dụng nguồn vốn này trong giới hạn cho phép
nhằm nâng cao tăng cường quản trị vốn mà vẫn đảm bảo kỷ luật thanh toán.


- Các khoản nợ vay: bao gồm toàn bộ vốn vay ngắn- trung- dài hạn ngân
hàng, nợ trái phiếu và các khoản nợ khác.

Căn cứ vào phạm vi hoạt động
Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia làm 2 loại: Nguồn vốn bên trong và
nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.


Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động
bản thân của doanh nghiệp như: Tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các



khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ...
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy
động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
như: Vay ngân hàng, vay của các tổ chức kinh tế khác, vay của cá nhân và nhân
viên trong công ty...
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các nguồn vốn khác như: Nguồn vốn
FDI, ODA... thông qua việc thu hút các nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể
tăng vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3 Thành phần vốn kinh doanh
Vốn được phân loại theo nhiều cách khác nhau nên thành phần tại ra nó cũng
khác nhau, để phục vụ cho yêu cầu quản lý sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và
có hiệu quả, người ta thường phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định.
1.1.3.1 Theo kết quả hoạt động đầu tư
Theo kêt quả hoạt động đầu tư vốn kinh doanh bao gồm vốn kinh doanh đầu
tư vào tài sản lưu động (TSLĐ), vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản cố định
(TSCĐ) và vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính.

1.1.3.1.1 Vốn

kinh doanh đầu tư vào TSLĐ: Là số vốn đầu tư để hình thành nên các tài

sản lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các TSCĐ doanh nghiệp còn cần có

TSLĐ. TSLĐ của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu
thông.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông
luôn luôn thay thế chỗ cho nhau ,vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.
 Vốn

lưu động
Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên

tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng TSLĐ nhất định. Do đó, để hình
thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu
tư vào tài sản đó. Số vốn này được gọi là VLĐ của doanh nghiệp.
VLĐ của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua
nhiều hình thái khác nhau. Quá trình hoạt động của doanh nghiệp diễn ra liên tục


không ngừng, nên sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp
lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của VLĐ.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do có sự chi phối bởi
đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
-

VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện .

-


-

TSCĐ hữu hình : là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử
dụng cho hoạt động kinh doanh như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện
vận tải...

-

TSCĐ vô hình : là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được
giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn
tài sản cố định vô hình. Ví dụ : bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả,
thương hiệu...
 Vốn

cố định
Trong nền kinh tế thị trường để có được TSCĐ cần thiết cho hoạt động kinh

doanh, doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số
vốn ứng ra đó được gọi là vốn cố định của daonh nghiệp.
Là số vốn đầu tư ứng trước nên quy mô số vốn VCĐ ban đầu sẽ quyết định
đến quy mô của TSCĐ, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, những đặc điểm kinh tế của TSCĐ trong
quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu
chuyển của VCĐ. Có thể nêu ra những đặc điểm cơ bản của VCĐ như sau:
-

VCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh phải được luân chuyển dần từng phần
vào giá trị của sản phẩm.Phần giá trị luân chuyển này của VCĐ được phản ánh
dưới hình thức chi phí Khấu hao TSCĐ,tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ

kiệm; quản lý vốn một cách chặt chẽ, nghĩa là không để vốn bị sử dụng sai mục
đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản lý.
Như vậy, quản trị vốn tức là đi tìm biện pháp làm sao để chi phí về vốn cho
hoạt động SXKD ít nhất nhưng hiệu quả lợi nhuận, doanh thu, giá trị sản lượng ở
mức cao nhất.
1.2.2 Nội dung quản trị VKD trong doanh nghiệp
Ta đi tìm hiểu rõ hơn về việc quản trị vốn kinh doanh trong doanh nghiệp là
như thế nào, ở đây em chọn việc phân loại vốn kinh doanh theo đặc điểm luân
chuyển vốn để nghiên cứu cho đề tài của mình.
Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp


Xuất phát từ vai trò không thể thiếu của vốn lưu động đòi hỏi chúng ta phải có
một lượng vốn lưu động để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của doanh
nghiệp.Chính vì vậy trong quản trị vốn lưu động các doanh nghiệp cần chú trọng
xác định đúng đắn nhu cầu về vốn lưu động của mình để phù hợp với quy mô và
điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.Công thức xác định nhu cầu VLĐ:
Nhu cầu VLĐ= Hàng tồn kho-Nợ phải thu-Nợ phải trả nhà cung cấp
Trong quản trị vốn lưu động các doanh nghiệp cần chú ý tới 3 vấn đề chính đó
là quản trị khoản phải thu và quản trị tiền mặt,và quản trị hàng tồn kho.
 Quản trị khoản phải thu:Khoản phải thu là số tiền mà khách hàng nợ doanh

nghiệp do mua chịu hàng hoá hoặc dịch vụ.Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không
đầu tư đủ nguồn lực cũng như chính sách trong việc theo dõi và thực hiện việc thu
nợ mặc dù khoản này chiếm phần không nhỏ trong tổng nguồn vốn lưu động. Thời
gian thu hồi nợ càng ngắn thì doanh nghiệp càng có nhiều tiền để quay vòng vốn.
Để rút ngắn thời gian trung bình từ khi bán hàng đến khi thu được nợ từ khách
hàng, nhà quản trị doanh nghiệp nên đưa ra một giải pháp toàn diện từ chính sách,
hệ thống, con người, công cụ hỗ trợ đến kỹ năng, quy trình thu nợ. Quản trị khoản
phải thu cũng liên quan tới sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro trong bán chịu

doanh nghiệp.

 Khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định của doanh nghiệp

Để dự báo các nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định các doanh nghiệp có thể
dựa vào các căn cứ sau đây:
- Quy mô và khả năng sử dụng quỹ đầu tư phát triển hoặc quỹ khấu hao để đầu
tư mua sắm tài sản cố định hiện tại và các năm tiếp theo.
- Khả năng ký kết các hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác.


- Khả năng huy động vốn vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại hoặc phát
hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn.
- Các dự án đầu tài sản cố định tiền khả thi và khả thi đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
 Quản lý sử dụng vốn cố định

Vốn cố định của doanh nghiệp có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu tư
dài hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các tài sản cố định hữu hình và vô hình) và
các hoạt động kinh doanh thường xuyên sản xuất các sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ) của doanh nghiệp.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ
không làm mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng
nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định, không để tài sản
cố định bị hư hỏng trước thời hạn quy định.
Để bảo toàn và phát triển vốn cố định của doanh nghiệp cần đánh giá đúng các
nguyên nhân dẫn đến tình trạng không bảo toàn được vốn để có biện pháp xử lý
thích hợp. Có thể nêu ra một số biện pháp chủ yếu sau đây:
- Phải đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định tạo điều kiện phản ánh chính xác
tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn. Điều chỉnh kịp

Phản ánh hiệu suất của sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. VLĐ luân chuyển
càng nhanh thì tăng cường quản trị vốn càng cao và ngược lại. Chỉ tiêu này được
biểu hiện bằng 2 chỉ tiêu là số lần luân chuyển VLĐ và kỳ luân chuyển VLĐ.


Số lần luân chuyển VLĐ ( hay số vòng quay VLĐ ):
Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ

_Số lần luân chuyển VLĐ =
Số dư bình quân VLĐ trong kỳ


Thông thường: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong năm = Doanh thu thuần.
Số dư VLĐ bình quân được xác định bằng phương pháp bình quân số học.
Chỉ tiêu phản ánh số lần luân chuyển VLĐ hay số vòng quay của VLĐ thực
hiện được trong 1 thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Số vòng quay càng nhiều
thì VLĐ luân chuyển càng nhanh, hoạt động tài chính càng tốt, doanh nghiệp càng
cần ít vốn và tỷ suất lợi nhuận càng cao.


Kỳ luân chuyển VLĐ :
Số ngày trong kỳ (360)

Kỳ luân chuyển VLĐ

=
Số vòng quay VLĐ trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để VLĐ thực hiện một lần
luân chuyển hay độ dài thời gian của một vòng quay VLĐ trong kỳ.

 Vòng quay các khoản phải thu.
Doanh thu bán chịu bình quân 1 ngày
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản
phải thu càng nhanh.Nhìn chung, hệ số này cao là tốt. Vòng quay các khoản phải
thu cao thể hiện doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, doanh nghiệp quản lý và thu
hồi tốt các khoản phải thu.



Kỳ thu tiền trung bình: Phản ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh
nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng.
360
Kỳ thu tiềntrung bình (ngày)=
Vòng quay các khoản phải thu



Hàng tồn kho: chỉ tiêu này phản ánh sự quay vòng hàng tồn kho của doanh
nghiệp, nó được phản ánh qua 2 chỉ tiêu là Số vòng quay hàng tồn kho và Độ dài
một vòng quay hàng tồn kho.


Số vòng quay hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho=
Số hàng tồn kho bình quân trong kỳ

Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn=
Nợ ngắn hạn
Trong đó: + Tổng tài sản lưu động bao hàm cả khoản đầu tư ngắn hạn.
+ Nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong khoản thời gian
dưới 12 tháng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, thuế và
các khoản phải nộp cho nhà nước, phải trả cho công nhân viên, nợ dài hạn đến hạn
trả, các khoản phải trả khác có thời hạn dưới 12 tháng.
Để đánh giá hệ số này cần dựa vào hệ số trung bình của các doanh nghiệp cùng
ngành. Hệ số này ở các ngành nghề kinh doanh khác nhau thì có sự khác nhau. Hệ
số này càng cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh
toán các khoản nợ đến hạn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status