A HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYN VN LY
THC TRNG V MT S GII PHP PHT TRIN
RNG PHềNG H MễI TRNG TI LM TRNG
SểC SN - H NI
Chuyờn ngnh: Lõm hc
Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học NÔNG nghiệp
Ngi hng dn khoa hc:
TS.Nguyn Quang Dng
Thỏi nguyờn thỏng 9 nm 2011
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Khoa sau đại học - Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá
17, giai đoạn 2009 - 2011.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của Khoa Sau đại học, trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Lâm trường Sóc Sơn, nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về
sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS. Nguyễn
Quang Dương - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác
2.1. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................. 20
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .......................................................... 20
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 21
2.3.1. Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức của Lâm trường...................... 21
2.3.2. Đặc điểm các loại rừng ở Lâm trường Sóc Sơn ................................... 21
2.2.3. Tổng kết và đánh giá hệ thống cơ chế chính sách, liên quan đến phát
triển rừng phòng hộ tại Lâm trường Sóc Sơn ................................................. 21
2.3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng phòng hộ ở lâm trường
Sóc Sơn............................................................................................................ 21
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 22
2.4.1. Quan điểm tiếp cận của đề tài ............................................................... 22
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể ............................................................ 23
Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU............................................................................................... 26
3.1. Điều Kiện Tự nhiên .................................................................................. 26
3.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 26
3.1.2. Địa hình ................................................................................................. 26
3.1.3. Khí hậu .................................................................................................. 27
3.1.4. Sông suối, thủy văn .............................................................................. 28
3.1.5. Địa chất, thổ nhưỡng ............................................................................. 29
3.1.6. Hiện trạng sử dụng đất đai tài nguyên rừng .......................................... 31
3.1.7. Cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử................................................... 32
3.2. Điểm kinh tế xã hội .................................................................................. 33
3.2.1. Dân số và lao động ................................................................................ 33
3.2.2. Kết cấu cơ sở hạ tầng ............................................................................ 33
3.2.3. Tình hình sản xuất trên địa bàn ............................................................. 34
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 36
4.1. Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và QLBVR của Lâm
Bảng 4.4: Hiện trang sử dụng đất lâm nghiệp trước và sau quy hoạch......... 56
Bảng 4.5: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý............ 57
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Các bước nghiên cứu của đề tài.................................................... 22
Sơ đồ 4.1: Mô hình tổ chức và quản lý điều hành của Lâm trường............. 42
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
D1.3 : Đường kính 1.3 m
Dt: Đường kính tán
Hvn : Chiều cao vút ngọn
N/ha: số cây /ha
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND: Ủy ban Nhân dân
-1-
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng nhiệt đớn càng ngày càng
suy giảm. Trên thế giới trung bình hàng năm rừng nhiệt đới mất đi khoảng 11
triệu ha. Năm 1943 nước ta có khảng 14,3 triệu ha nhưng đến nay chỉ còn
khoảng 10,9 triệu ha rừng. Mất rừng đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi và trung du.
Rừng có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lâm sản, bảo tồn đa dạng
sinh học, du lịch sinh thái và phòng hộ môi trường. Ngày nay, giá trị phòng
hộ môi trường của rừng đã vượt xa giá trị cung cấp lâm sản truyền thống. Là
một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với 3/4 diện tích là đồi núi và
thường xuyên phải chịu những trận mưa, bão lớn thì rừng phòng hộ có vai trò
rất quan trọng đối với nước ta. Xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng là
giải pháp có hiệu quả để phòng chống nguy cơ sa mạc hoá đất vùng đồi núi,
góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho hàng chục triệu người, cung cấp
thuật lâm sinh phát triển rừng phòng hộ bảo vệ môi trường tại Sóc Sơn, rút ra
những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất một số khuyến nghị cho việc
phát triển mở rộng.
-3-
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Phát huy hiệu quả trồng rừng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan
tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng ở các nước
phát triển đã tương đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác
động cho từng loại rừng, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp.
1.1.1. Công tác nghiên cứu giống cây rừng
Có thể nói, công tác nghiên cứu giống cây rừng góp phần quan trọng
vào thành công của công tác trồng rừng. Từ thế kỷ XVIII – XIX, những ý
tường về công tác lai giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây
rừng đã thu được một số thành tựu nhất định: Syrach Lasen đã sản xuất được
một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng. Nilsson – Ehle
(1873 – 1949) đã phất hiện ra Dương núi tam bội có sinh trưởng tốt hơn so
với cây nhị bội.
Các chương trình chọn giống được bắt đầu ở nhiều nước và tập trung
cho nhiều loài sinh trưởng nha trong đó có Bạch đàn. Tại Brazil đã tiến hành
chọn cây trội xây dựng vườn giống thụ phấn tự do cho loài E. maculata ngay
từ những năm 1952; tại Mỹ là loài E. robusta (1966). Trong 3 năm (1970 –
1973), Úc đã chọn cây chội thành công cho loài E. regnans và loài E. grandis
(Eldridge, 1993). Và loài E. diversicolor ở Úc và loài E. deglupta ở Papua
New Guinea cũng được tiến hành chọn cây trội ở rừng tự nhiên.
Cho tới nay, ở nhiều nước trên thế giới đã có những giống cây trồng
rừng cho năng suất rất cao nhờ những chương trình nghiên cứu chọn tạo
Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy được nhà
bác học Volni người Đức thực hiện trong thời kỳ 1877 đến 1885 (Hudson N,
1981) [9]. Những ô thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của
-5-
nhiều nhân tố như: Thực bì, loại đất, độ dốc mặt đất, lượng mưa tới dòng chảy
và xói mòn đất. Trong công trình này Volni cũng nghiên cứu ảnh hưởng của
loại đất và độ dốc mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất. Tuy nhiên, phần lớn
các kết luận chưa được định lượng rõ ràng.
Bằng thí nghiệm trong phòng, Ellison (theo Hudson N, 1981 [9]) thấy
rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha xói mòn đất
do nước. Ellison là người đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật
trong việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mưa rơi
đối với xói mòn. Phát hiện của Ellison đã mở ra một phương hướng mới trong
nghiên cứu xói mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và
khẳng định khả năng bảo vệ đất của lớp thảm thực vật.
Kết quả quan trọng của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất,
bằng các kết quả nghiên cứu thực nghiệm các nhà nghiên cứu đã xây dựng
được phương trình mất đất ở trường Đại học Tổng hợp Pardiu (Mỹ) vào cuối
năm 1950 (Hudson N, 1981 [9]). Sau đó phương trình này được W. H,
Wischmeier hoàn chỉnh dần (W. H, Wischmeier, 1978 [49]). Phương trình đất
mất đất làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hưởng tới xói mòn. Nó còn
có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên cứu sau này nhằm xác định quy luật
xói mòn và nghiên cứu các mô hình canh tác bền vững ở các khu vực có điều
kiện địa lý khác nhau.
Việc nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của các yếu tố tới xói mòn đất
lần đầu tiên được V.A. Sing (1940) đưa ra khi tìm cách xác định ảnh hưởng
của chiều dài sườn dốc (L) và độ dốc (S) đến hoạt động của xói mòn. Sau đó
khoáng trong thành phần của nước mưa lọt tán cao hơn so với nước mưa
ngoài nơi trống (Jordan và C. F Herrea 1981 [46]).
Vật rơi rụng có khả năng ngăn giữ nước tương đối lớn, nên có tác dụng
bổ sung nước cho đất và cung cấp nước cho thực vật (Vu Chí Dân & Vương
-7-
Lễ Tiên, 2001 [29]). Ngoài ra, do vật rơi rụng có những lỗ hổng lớn và nhiều
hơn so với đất, nên lượng nước ngăn giữ lại dễ dàng bốc hơi đi. Những
nghiên cứu của Black và Kelliher (1998) (dẫn theo Vu Chí Dân & Vương Lễ
Tiên, 2001 [29]) cho thấy rằng, lượng nước bốc hơi từ vật rơi rụng của các
hiểu rừng khác nhau chiếm khoảng 3 - 21% tổng lượng nước bốc hơi trên mặt
đất rừng.
Nhìn chung, đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nước cao và ít khi
xuất hiện dòng chảy bề mặt (Doulass 1997 [38]). Tuy nhiên, khi rừng bị chặt
hạ trở nên thưa thớt và độ dốc mặt đất lớn, có thể tạo ra nhiều lượng nước
chảy trên bề mặt.
Cấu trúc rừng có ý nghĩa rất lớn, nó quyết định đến khả năng phòng hộ
của rừng. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm tìm ra những cấu trúc hợp lí,
có khả năng phòng hộ cao là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các khu
rừng phòng hộ. Công trình nghiên cứu của Moltranov A.A (1960, 1973) và
Matveev P.N. (1973) là những công trình lớn đề cập tới cấu trúc rừng phòng
hộ đầu nguồn nước. Với trang thiết bị tạo mưa nhân tạo, các tác giả đã nghiên
cứu ảnh hưởng của các nhân tố cấu trúc tới khả năng điều tiết nước, bảo vệ
đất của rừng như: cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc tuổi, cấu trúc tầng thứ và độ
tàn che. Những nghiên cứu này đã đặt cơ sở cho việc xây dựng rừng phòng hộ
đầu nguồn cũng như việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động
vào rừng ôn đới. Tuy vậy, do cấu trúc của rừng ôn đới không có lớp thảm tươi
cây bụi dày như ở nước ta nên các tác giả chưa chú ý nhiều đến vai trò của
dụng phương pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, trồng bổ sung, bảo vệ ngăn
ngừa các tác động xấu tới rừng. Tại Malaysia đã xây dựng rừng nhiều tầng
với việc sử dụng 2 loài cây trồng khác nhau; Nhật Bản cũng đã tạo rừng nhiều
tầng bằng cách khai thác rừng theo băng rộng 4 - 5 m và sau đó trồng mới vào
các băng rừng đã chặt.
Biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ ven biển cũng được quan
tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu của V.A Lômitcôsku (1809),
Dokuchaep (1982), X. A Timiriazep (1983, 1909, 1911) đều cho rằng trên các
hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất phải trồng rừng phòng
hộ thành hệ thống đai theo mạng lưới ô vuông, có kết cấu kín, có hỗn giao
-9-
nhiều tầng. Ở Trung Quốc và các nước Trung Đông, miền Đông và Tây Châu
Phi thì Phi lao được coi là loài cây chủ đạo trồng trên các vùng cát thành các
hệ thống đai có chiều rộng ít nhất ít nhất 100 - 200 m. Sau đai rừng Phi lao là
các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của Bạch đàn, Keo, Thông nhựa, phía
trong cùng sau các đai rừng dùng để canh tác nông nghiệp.
1.1.4. Các chính sách tổ chức, quản lí rừng phòng hộ
Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị
giảm sút nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền
núi bị đe doạ thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích
hợp nữa. Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua
việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia
quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay
lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành
các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội
(Nêpan, Thái Lan, Philippin,...).
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học
Công tác giống cây trồng rừng trong những năm gần đây vừa là sự áp
dụng những thành tựu mới của các nước khác, vừa là sự kế thừa nghiên cứu
đã xây dựng trước đây mà cho tới nay mới cho thấy rõ kết quả. Có thể kể đến
thành tựu nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện
Khoa Học Lâm nghiệp Việt Nam, Đặc biệt là các tác giả Lê Đình Khả, Hà
Huy Thịnh đã nghiên cứu tuyển chọn xuất xứ Keo lai tự nhiên Bạch Đàn và
lai giống nhân tạo giữa các loài Keo, kết quả đã chọn và tạo ra được các dòng
lai có sức sinh trưởng gấp 1,5 – 2,5 lần các loài cây bố mẹ, năng suất rừng
trồng thử nghiệm ở một số vùng đạt từ 20-30 m3/ha/năm, có nơi đạt 40
- 11 -
m3/ha/năm.
Nguyễn Việt Cường (2002) đã nghiên cứu khá hoàn thiện về lai giống
ba loài Bạch đàn Urophylla, Camaldulensis và Exserta Từ việc nghiên cứu cơ
sở khoa học của lai giống như thời kỳ nở hoa, cất trữ hạt phấn,… cho đến
đánh giá, khảo nghiệm các tổ hợp lai. Kết quả từ 9 tổ hợp lai và 5 dòng Bạch
đàn lai đã chọn được 7 tổ hợp lai U29C3, U15E4, U15C1, E1U29, U29E1,
U2U29 và U29E2 đạt năng suất từ 20 - 27 m3/ha/năm, gấp 1,5 - 2 lần giống
sản xuất hiện nay; Ba dòng bạch đàn lai 81, 85 và HH có năng suất vượt các
giống PN2 và PN14 từ 23 - 84%.
Bên cạnh các loài Keo và Bạch đàn, các nghiên cứu cũng đã tập trung
vào một số loại cây trồng rừng sản xuất chủ lực khác như Thông Caribe
Thông nhựa, Tràm có năng suất cao…
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa
dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là việc tìm kiếm
cây bản địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327. Qua nhiểu năm
nghiên cứu tổng hợp Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã đưa ra đề xuất
cho 100 loài cây bản địa phục vu cho các mục đích trồng rừng, trong đó có
công tác trồng rừng, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân vào xây dựng rừng.
Đây cũng là mong muốn và chủ trương của Bộ NN & PTNT, Bộ KHCN trong
những năm qua và hiện nay.
1.2.2. Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng
Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây
dựng rừng phòng hộ. Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả rất quan tâm.
Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) [14] thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được
quan tâm ở nước ta từ trước những năm 1954, bước đầu mới chỉ là những
biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè cống.
- 13 -
Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình khoa
học có giá trị về xói mòn đất như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Cao
Văn Vinh về ảnh hưởng của độ dốc tới xói mòn đất, góp phần đề ra các chỉ
tiêu và quy chế bảo vệ, sử dụng và khai thác đất dốc; Tôn Gia Huyên (1967),
Chu Đình Hoàng, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạnh (1963) đã tập trung nghiên
cứu ở vùng Tây Bắc, Bắc Thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai về biện pháp và
công trình trồng cây phân xanh che phủ đất; nghiên cứu của Chu Đình Hoàng
và Đào Khương về những nét đặc trưng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu
nhiệt đới Việt Nam. Nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp
dụng, xây dựng hàng loạt các khu quan trắc xói mòn định vị bằng xi măng,
gạch, gỗ, kim loại như trạm nghiên cứu xói mòn An Châu (Hữu Lũng- Lạng
Sơn), trạm Eakmak (Buôn Ma Thuột), trạm nghiên cứu xói mòn đất Tây
Nguyên.
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói
mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và
công nghiệp, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Trong thời gian này
nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch
Vai trò của rừng trong việc giữ nước là rất quan trong. Nghiên cứu của Võ
Minh Châu (1993 - dẫn theo Vương Văn Quỳnh, 1999 [31]) cho thấy sự suy
giảm diện tích rừng đầu nguồn sông Ngàn Mọ từ 23.971 ha xuống còn 6.000
ha đẫ làm cho lượng nước hồ Kẻ Gỗ giảm đi đáng kể từ 340 triêu m3 xuống
còn 60 triệu nước, do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trên
diện tích 6 nghìn ha.
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2002) [7] đã đưa ra
dẫn liệu lưu lượng dòng chảy tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với
khu vực canh tác nông nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng
trong việc giảm dòng chảy mặt; dòng chảy kiệt ở nơi có rừng cao hơn ở nơi
không có rừng.
- 15 -
Các nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Vũ Văn Mễ (1995) [3]; Bùi Ngạnh
và Nguyễn Ngọc Đích (1985) [4] cho thấy sự thay đổi dòng chảy mặt ở một
số dạng rừng khác nhau, trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất những mô hình
bố trí các đai rừng giữ nước trên sườn dốc. Năm 1981, Lê Đăng Giảng và
Nguyễn Thị Hoài Thu (1981) [11] đã tổng kết kết quả nghiên cứu về khả năng
giữ nước, điều tiết dòng chảy của rừng thứ sinh hỗn giao lá rộng tại núi Tiên,
Hữu Lũng, Lạng Sơn. Các tác giả đã đề nghị việc xây dựng và thiết kế rừng
phòng hộ ở các triền sông phải phát huy được khả năng giữ nước cao nhất của
nó trong những thời điểm lượng mưa mùa tập trung cao.
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [27], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại
Hải (1997) [13] cho thấy vai trò điều tiết nước, chống xói mòn đất của rừng
rất lớn: lượng nước mưa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 5,75 - 11,6% tùy
thuộc vào từng loại rừng; lượng nước tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng
khác từ 88,2% - 92,5% tổng lượng nước mưa; lượng nước tạo thành dòng
chảy bề mặt ở những nơi có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình
kỹ thuật chủ yếu đề phục hồi và phát triển rừng, đó là trồng rừng và khoanh
nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung. Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở
nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền
bắc được giải phóng, vấn đề này được đề cập đến trong thuật ngữ “khoanh núi
nuôi rừng”. Tuy nhiên, vì nhiều lí do mà trong một thời gian rất dài sau đó
người ta chỉ chú ý đến khai thác rừng tự nhiên là chính. Mãi đến những năm
1990, cái được gọi là “khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình và phát
triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”.
Điều này được thể hiện trong 2 quy phạm ngành QPN 14-92 và QPN 21-98.
Nghiên cứu xác định loài cây phục vụ trồng rừng phòng hộ đầu nguồn
là việc làm rất quan trọng. Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công
Khanh (1997) đã nghiên cứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho
trồng rừng phòng hộ ở một số vùng trọng điểm. Trên cơ sở tiêu chuẩn cây bản
- 17 -
địa đưa vào trồng rừng phòng hộ là phải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, kết
hợp được với nhau, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, điều tiết nguồn nước, chống
xói mòn, giữ đất, sống lâu năm, tán lá dày, rậm và thường xanh, bộ rễ phát
triển sâu,... các tác giả đã đưa ra mô hình trồng rừng phòng hộ dự tuyển cho 7
vùng sinh thái lâm nghiệp trên cả nước.
Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lí của rừng phòng hộ làm cơ
sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng được
quan tâm. Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố công
trình Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số
thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước,
trong đó các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu
trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nước. Trên
cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý.
phòng hộ để thành lập Ban quản lý, trường hợp đặc biệt có quy mô diện tích
tập trung từ 5.000 ha trở lên được thành lập Ban quản lý, hoạt động theo cơ
chế đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu. Khu rừng phòng hộ có diện tích tập trung
từ 20.000 ha trở lên, được tổ chức Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng
phòng hộ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan
Kiểm lâm cấp tỉnh. Những khu rừng phòng hộ có diện tích dưới 5.000 ha (tập
trung hoặc không tập trung) không thành lập Ban quản lý mà giao cho các tổ
chức khác, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ, xây dựng.
1.3. Đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
đề tài có thể rút ra một sô nhận xét sau đây:
- Rừng phòng hộ được quan tâm chú ý ở nhiều nước trên thế giới. Các
công trình nghiên cứu được tiến hành khá đồng bộ trên nhiều các khía cạnh
- 19 -
khác nhau, chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, xác định cấu trúc hợp lí của
rừng, thuỷ văn rừng, các biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng và các chính sách
tổ chức quản lí rừng,... Kết quả các nghiên cứu này là những tài liệu tham
khảo có giá trị, định hướng cho đề tài nghiên cứu.
- Ở Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng và phát triển rừng phòng hộ,
được Nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều các công trình nghiên cứu, các
Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầu nguồn được phê duyệt và triển khai. Các
văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lí quan trọng cho việc
xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở nước ta. Trong thời gian qua, các
công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào xói mòn đất, thủy văn rừng, cấu
trúc hợp lí của rừng phòng hộ,... việc đánh giá các mô hình rừng trồng phòng
hộ cũng được một số tác giả quan tâm nhưng nói chung còn ít. Đặc biệt là
trong Dự án 661 đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và huy động
Tp Hà Nội.