Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc - Pdf 35

MỤC LỤC


BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

sách giáo khoa
học sinh
tiểu học

SGK
HS
TH


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng, đó là

hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Tập đọc là một
phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây là phân môn có vị trí
đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ
năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học. Kỹ
năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý
thức (hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc
diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn
học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực
giao tiếp của mình. Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có. Nhà trường
phải từng bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu
tiên. Nên việc dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5.

triển. Tập đọc góp phần làm giài vốn ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lòng
yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình ảnh.
Đăc điểm của dạy tập đọc lớp 1 chính là ở chỗ: đây là bước chuyển tiếp từ
dạy “học vần” sang dạy “tập đọc”(ở lớp 2). Giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả
phương pháp học vần, cả phương pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là
củng cố hệ thống âm vần đã học (nhất là các vần khó) đọc đúng tiếng, liền tiếng
trong từ, trong câu, đoạn, bài. Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết
lên giọng và hạ giọng.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong
từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơi trong văn bản thơ,
cũng như văn bản văn xuôi của học sinh Tiểu học Lưu Kiếm( xã Lưu Kiếm huyện Thủy Nguyên) và trường Tiều học Đặng Cương (Hồng Thái - An Dương).
Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc đúng cho học
sinh lớp 1.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng dạy đọc của lớp 1 ở trường tiểu học Lưu
Kiếm và trường tiểu học ...để có một số biện pháp khắc phục và rèn luyện kỹ
năng đọc cho học sinh tốt hơn.

4


3.2. Khách thể nghiên cứu



Nghiên cứu trên giáo viên trực tiếp giảng dạy
Học sinh lớp 1 ở hai trường tiểu học Lưu Kiếm (xã Lưu kiếm - huyện Thủy
Nguyên) và trường tiểu học Đặng Cương (xã Hồng Thái - huyện An Dương)


phú. Từ đó, các em sẽ học tốt các môn học khác, bởi đọc đúng được chính xác
nội dung một vấn đề nào đó. Từ đó, các em sẽ làm Toán đúng, viết đúng và nói
đúng, ...
Với tư cách, nhiệm vụ là một phân môn thực hành Tiếng Việt, đọc đúng
góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh.
Những bài tập đọc trong chương trình sách giáo khoa lớp 1 là những bài văn, bài
thơ hay trong kho tàng văn học trong nước và nước ngoài. Chính vì thế mà các
em có vốn văn học dân tộc.
Cũng như các môn học khác ở các cấp học, môn Tập đọc đòi hỏi giáo viên
phải đổi mới phương pháp: Lấy học sinh làm trung tâm., học sinh giữ vai trò chủ
đạo trong quá trình học tập. Tự tìm tòi để hiểu nội dung, phát hiện kiến thức
dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của người thầy. Với những yêu cầu quan trọng như
vậy thì người thầy phải là người tổ chức linh hoạt chuẩn bị được nhiều tình
huống phong phú cho học sinh.
Trong chương trình tiểu học, các bài tập đọc của lớp 1 đã được chọn lọc kĩ
càng. Được sắp xếp theo từng chủ đề, nội dung các bài tập đọc cung cấp, bồi
dưỡng cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu người lao đông, yêu
người thân, ... ở xung quanh các em.
5.2. Thực trạng dạy và học
Tập đọc là một phân môn thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ
năng nghe, đọc, nói và đọc thầm. Nhưng việc dạy đọc hiện nay chưa được giáo
viên quan tâm rèn đọc theo đúng qui trình đưa ra. Vì giáo viên chưa hiểu hết ý
nghĩa của phân môn tập đọc.vì vậy chúng tôi xin đưa ra ví dụ: đọc đúng là tiền
đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại,
nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được.
6


Nhiều khi khó mà nói được rạch ròi. Việc dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc

ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC
1.1

Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước đó, cũng đã có một số giáo viên nghiên cứu về vấn đề này:
- Cô Nguyễn Thị Liên - TH Vạn Thạnh
- Cô Lê Thị Nhớ - TH B Vĩnh Phú

1.2. Một sốkhái niệm và kiến thức liên quan đến đề tài
1.2.1. Một số khái niệm
a. Khái niệm đọc
Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho
học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện bốn dạng hoạt động, tương
ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc , viết. Đọc là một dạng hoạt động
ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng từ chữ viết sang lới nói có âm thanh và thông
hiểu nó( ứng với hình thức độc thành tiếng) , là quá trình chuyển trực tiếp từ hình
thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm 2 phần chữ viết và phát
âm, nghĩa là nó không phải là sự “ đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như
cácký hiệu mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì
được đọc. Trên thực tế, nhiều khi người ta đã không hiểu khái niệm “đọc” một
cách đầy đủ. Nhiều chỗ người ta chỉ nói đến đọc như nói đến việc sử dụng bộ mã
ngữ âm còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được chú ý đúng mức.
b. Phương pháp
Là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết
quả phù hợp với mục đích đã định.

c. Phương pháp dạy học
8


9


đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin,
đọc chính là học, học nữa học mãi, đọc để tự học, học cả đời. vì những lí lẽ trên
dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên
đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học độc, sau đó trẻ phải đọc để học.
Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học
tập. Nó là công cụ để học tập cho các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động
cơ học tập. Nó tạo điều kiện cho học sinh có khả năng tự học và tinh thần học
tập cả đời. Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngông ngữ
cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc cũng giúp học sinh hiểu biết hơn,
bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ
một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy đọc có một ý nghĩa to
lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
b. Nhiệm vụ của dạy học ở tiểu học
Từ ý nghĩa của việc đọc đã khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và
phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh, Tập
đọc với tư cách là một phân môn của Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng
yêu cầu này-hình thành và phát triển năng lưch đọc cho học sinh.
Phân môn học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc ở
mức độ sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ âm. Việc thông hiểu văn bản
chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang nghĩa (đọc
thầm). Như vậy, tập đọc với tư cách là một phân môn tiếng Việt tiếp tục những
thành tựu mà học cần đạt được, nâng lên một mức đầy đủ hoàn chỉnh hơn.
Tập đọc là một phân môn thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên tờ bốn kỹ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, độc nhanh(đọc lưu
loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc

những gì được đọc.
Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động cả các cơ
quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đã đọc. Càng ngày
những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
11


Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đén sự tổng hợp
giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người
mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp cấc mặt trên
bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa:
theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ năng đọc ( tức là
việc chuyển dạng thức chữ viết của câu thành âm thanh), theo nghĩa rộng, đọc
được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). Ý nghĩa hai
mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhân trong các tài liệu lý luận học và phương
pháp dạy học. Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai- đọc được xem như
là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố:
- Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
- Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo
từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tùy thuộc vào trình độ nắm
kỹ thuật đọc.
- Thông hiểu những gì được đọc ( từ, cụm từ, câu, bài ) kỹ năng độc là
một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài, chia việc hình thành
kỹ năng này thành 3 giai đoạn: phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát
sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động
hóa. Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo
các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành các từ chọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận
tờ bằng thị giác và phát ân hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp theo sự
thông hiểu ý nghĩa của “từ” trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là

Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả
về mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực về mặt phát âm tiếng Việt dang là vấn đề thời
sự, có nhiều ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như
chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mục đích của việc xây
dựng chính âm.
- Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt

13


Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói,. Ngữ điệu là một trong những thành phẩm
của ngôn điệu. Ngữ điệu là một yếu tố gắn chặt với lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng.. Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(cao độ) , sự nhấn giọng (cường độ ), sự ngưng giọng (trường độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ ).
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ
bản có mối quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm,
âm điệu, âm nhịp và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm
chủ những yếu tố này.
1.2.2 Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy học
Việc dạy học không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn để
phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây nói đến những bài học ở tiểu học) nói
chung cũng như lý thuyết để phân tích , đánh giá các tác phẩm văn chương nói
riêng.Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm càm và đọc hiểu cho học
sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính chính xác,
tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm về các kiểu ngôn ngữ,
các phong cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về thể loại của tác
phẩm văn chương dùng làm ngữ điệu đọc ở tiểu học. Ví dụ, cách đọc và khai

Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình cô
giáo mà để cho các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người
này nghe rõ. Nhưng nhứ thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Để
luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lí nhí”, giáo viên cần tập cho các em đọc to
chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho học
sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe. Tư thế đứng đọc phải
vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay.
Giáo viên làm mẫu, đây là đối tượng học sinh vùng nông thôn, giáo viên cần
nắm bắt sự khéo léo, tâm lý của học sinh, giúp học sinh mạnh dạn tự tin trong
lúc đọc.
1.2.3.2

Luyện đọc đúng
15


Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách
khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm
việc đọc đúng các âm thanh( đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ(đọc đúng
ngữ điệu).
Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị tiếng việt.
-

Đọc đúng các phụ âm đầu: Ví dụ: Có ý thức phân biệt để không đọc: “dảy dây”,
“ khỏe khắn” mà phải đọc là “ nhảy dây”, “ khỏe khoắn”, chú ý phân biệt giữa

-


Không tách động từ, hệ từ “ là ” với danh từ đi sau nó.
Ví dụ không đọc
Cá heo là/ tay bơi giỏi nhất của biển
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu
hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng
ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu
cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ
phận giải thích của câu.
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
1.2.3.3 Luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu cho
học sinh theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài.
Giáo vên điều chỉnh tốc độ bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra, còn có biện pháp
đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để điều chỉnh
tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho trước và
dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc độ như thế nào còn phụ thuộc vào
độ khó của bài đọc. Bên cạnh đó, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu bài để nhớ và
nắm chắc kiến thức từ đó học sinh đọc nhanh hơn.

17


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ
BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 1
2.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Đối với giáo viên
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều rất coi trọng giờ tập đọc. Giáo viên ở
các lớp đầu cấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các
lớp cuối cấp thì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trong như
nhau. Nhưng nhìn chung 70% giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng

-

Luyện đọc câu
Giáo viên đưa ra những câu thơ, văn ngắt nhịp, ngắt giọng sẵn và đọc mẫu
sau đó học sinh đọc theo cô. Khi cá nhân học sinh độc các em khác nghe và
nhận xét bạn.

-

Luyện đọc cả bài
Cá nhân học sinh đọc sau đó các em khác nhận xét
3. Ôn vần

-

Dựa vào các câu hỏi và bài tập của Sgk
+ Tìm tiếng có chứa vần cần ôn
+ Nói câu chứa tiếng có vần cần ôn
4. Củng cố: ghép từ thành câu
Tiết 2:
5. Tìm hiểu bài và luyện nói
a. tìm hiểu bài

-

Học sinh đọc trong Sgk
+ Cá nhân học sinh đọc từng đoạn và gióa viên nêu câu hỏi ứng với nội
dung của từng đoạn để học sinh trả lời.
+ Giáo viên giảng giải thêm về nội dung, kết hợp giải nghĩa từ.
b. Luyện đọc (mức độ đọc hay)

2.1.3 Phiếu hỏi
Phương thức điều tra giáo viên bằng phiếu thăm dò: Đánh dấu vào ô
trống theo thầy(cô) là đúng, là thường thực hiện dạy tập đọc hoặc nêu hình thức
mà giáo viên thường làm.
Câu 1: Thầy(cô) cho biết trong một giờ Tập đọc ở lớp 1, thầy(cô) đã rèn đọc cho
học sinh như thế nào, hãy kể cách làm cụ thể?
Câu 2: Trong một giờ Tập đọc, thầy(cô) đã chú ý đối tượng học sinh nào?
Thầy(cô) hãy đánh dấu x vào ô trống mà đồng chí cho là đúng:
Học sinh khá – giỏi
Học sinh trung bình
Học sinh yếu kém
Câu 3: Trong số hình thức dạy học sau đây, thầy(cô) thường chọn những
hình thức nào? Hãy đánh dấu x vào ô mà đồng chí cho là đúng:
Dạy học cá nhân
Dạy học theo nhóm
Dạy học cả lớp
Hình thức dạy học nào là quan trọng nhất (ghi cụ thể tên hình thức dạy đó).
Câu 4: Thầy(cô) hãy kể tên những phương pháp mà thầy(cô) đã vận dụng để
dạy một giờ tập đọc cho học sinh lớp 1.

Nhận xét:
a. Ưu điểm:
20


Giáo viên đã tìm hiểu kỹ bài dạy và truyền đạt đủ kiến thức cơ bản theo
yêu cầu sách giáo khoa với việc phát huy tính tích cực của học sinh. Họ dành
thời gian cho học sinh làm việc với sách giáo khoa. Kết hợp nhiều phương pháp
trong một tiết dạy như: giảng giải trực quan, vấn đáp, gợi mở để dẫn dắt học
sinh tìm ra kiến thức. Giáo viên luôn có sự chuẩn bị đồ dùng trực quan.

ngắt giọng, các em còn ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện (còn gọi là ngắt
giọng sinh lý). Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng phần lớn
các em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên.
Phiếu hỏi
Phương thức điều tra 1: Bằng hình thức thăm dò điền vào dàn ý, vào ô
trống mà em cho là đúng hoặc hình thức lựa chọn từ thích hợp để điền vào ô
trống.
Câu 1: Điền vào chỗ trống n hoặc l.
Cây ….úa, ……ấu cơm, ……ăn tròn.
Câu 2: Điền vào chỗ trống chao hay trao.
………… ơi!, …………giải thưởng.
Câu 3: Điền vào chỗ trống s hoặc x.
…ản xuất, …uất sắc

Điều tra kết quả phương thức 1:
Câu 1: 75% học sinh trả lời đúng.
Câu 2: 90% học sinh trả lời đúng.
Câu 3: 80% học sinh trả lời đúng.
Từ kết quả điều tra phương thức trên cho thấy học sinh đọc sai nhiều nhất
là phụ âm l/n, s/x . Hai phụ âm này học sinh hay đọc sai, trong đó có một phần
lỗi học sinh chưa chú ý và giáo viên đọc chưa chuẩn.
Phương thức điều tra 2:
Tiến hành điều tra vào lớp khảo sát cụ thể qua việc đọc của từng học sinh.
22


Qua điều tra thực tế việc đọc của học sinh, thấy rằng thực trạng của học
sinh có ưu nhược điểm sau đây:
Ưu điểm:
Học sinh đã được học nhiều bài tập đọc bằng giáo án điện tử tạo điều kiện

nhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu
dạy đọc ở tiểu học. Do vậy để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu
điểm hiện có ở thực tế. Chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng
dẫn học sinh rèn đọc đúng để nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc ở lớp 1 nói
riêng và ở tiểu học nói chung. Đó là:
2.2.1 Đọc mẫu:
- Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng
đọc của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi
chảy và diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý
nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo
viên đứng ở 6 vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng
mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn.
- Đối với học sinh lớp 1 giai đoạn đầu (khoảng 2 → 3 bài đầu) giáo viên
chép bài đọc lên bảng rồi học sinh theo dõi cô đọc ở trên bảng, nhưng ở giai
đoạn sau giáo viên nêu yêu cầu học sinh theo dõi bài ở sách giáo khoa để tạo
cho các em có thói quen làm việc với sách.
2.2.2 Hướng dẫn đọc
Sách giáo khoa tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài:
-

Dạng thơ, chủ yếu là thể thơ 4 – 5 tiếng
Dạng văn xuôi
Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có:

-

23 bài dạng văn xuôi
19 bài dạng thơ
Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết 1.
a. Luyện đọc từ ngữ


Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy
khó đọc trong khi phát âm.
Ví dụ: Bài “Chú công”
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng
lánh” nhưng các em học sinh lớp chúng tôi đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là
khó đọc đó là: “màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “màu
xắc”, “xoè tròn” với “xèo tròn”

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status