Phần mở đầu
1. Bối cảnh của đề tài
Tự học là một thuộc tính vốn có của con người; hoạt động tự học là một
hoạt động quan trọng trong quá trình nhận thức của con người nhằm chiếm lĩnh
tri thức của loài người và khám phá ra các quy luật khoa học, ôn luyện, củng cố,
khắc sâu, mở rộng kiến thức cho người học, chính vì vậy hoạt động tự học phải
được định hướng, tổ chức, quản lý có phương pháp đối với học sinh như Bác Hồ
đã từng nói: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Luật giáo dục năm 2005
Điều 36 cũng quy định “Phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự
nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo”.
Hiện tại học sinh ở nội trú ý thức tự học còn yếu thường là tự phát chưa
được quản lý chặt chẽ, chưa xây dựng được nề nếp, chưa xây dựng được
động cơ học tập. Việc tự học, từ đào tạo là hình thức để phát huy nội lực
vươn lên trong quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của xã hội là một đòi hỏi tất yếu trong thời đại “Kinh
tế tri thức” của chúng ta ngày nay. Vấn đề đặt ra cần phải hình thành ý thức
tự học cho học sinh một cách tự giác và được quản lý chặt chẽ, đưa vào nề
nếp, đầy đủ, mạnh mẽ cho học sinh. Từ đó học sinh có thể tự giác tự học, có ý
thức tự học suốt đời phải có các biện pháp quản lý tự học của học sinh.
2. Lý do chọn đề tài
Trường PTDTNT huyện Gò Quao có 250 học sinh với 8 lớp trong đó học
sinh ở nội trú hơn 70 em với 18 giáo viên, 10 cán bộ công nhân viên, trong đó
03 cán bộ quản lý. Học sinh của trường là học sinh dân tộc Khmer thuộc vùng
khó khăn, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Phần lớn các em ngoan, chăm học
nhưng cũng có một phần lớn học yếu, thiếu sự dạy bảo của người lớn. Đội ngũ
GV, CBCNV còn trẻ, nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm, uy tín đối với giúp đỡ
học sinh tự học. Tâm lý lứa tuổi, môi trường sinh hoạt thay đổi, yêu cầu đòi hỏi
của nhà trường và xã hội thay đổi. Nhà trường cần phải quan tâm và xác lập các
phối nếu xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh.
Phát hiện thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh nội
trú: phân tích mặt mạnh, yếu và nguyên nhân thực trạng.
Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học đảm
bảo cho bộ máy quản lý của trường PTDTNT hoàn thành mục tiêu của ngành,
của trường.
2
Phần nội dung
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Quản lý hoạt động tự học
Khái niệm
Tự học là học khi có thầy và cả khi không có thầy, người học biết tự xác
định mục tiêu, tự lập kế hoạch, tự đánh giá việc học tập của bản thân. Tự học
là học mà không cần có sự giám sát bên ngoài. Tự học là “tự động học tập”,
nó thể hiện tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao trong quá trình lĩnh hội khái
niệm khoa học của người học.
Như vậy, tự học là tự mình suy nghĩ, tự mình sử dụng kiến thức, kỹ năng
đã biết, các năng lực và phẩm chất cùng với cả động cơ tình cảm, nhân sinh
quan, thế giới quan của bản thân để chiếm lĩnh một lĩnh vực tri thức, kỹ năng
nào đó của nhân loại.
Vai trò của tự học
Tự học, tự đào tạo là mục đích của quá trình giáo dục – đào tạo, là
phương thức tạo ra chất lượng thực sự, lâu bền của quá trình giáo dục – đào
tạo. Tự học là cốt lõi của việc học, hễ có học là có tự học, không ai có thể
thay đổi người khác được. Khi nói đến học, hàm ý nói đến mối quan hệ giữa
nội lực của người học và ngoại lực của người dạy, còn khi nói đến tự học thì
chỉ xét riêng đến nội lực của người học.
Như vậy, hoạt động tự học của học sinh có phạm vi rất rộng, từ tự học
và mang đậm sắc thái cá nhân, đều này càng khẳng định nó phải được thúc
đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung và động cơ tự học nói riêng.
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò to lớn của hoạt động tự
học sẽ trực tiếp góp phần xây dựng và thúc đẩy động cơ tự học của học sinh.
Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thỏa mãn nhu
cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành
nghề trong tương lai,… cho tới cấp độ cao là thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, lòng
khát khao tri thức. Mọi động cơ đều có nguồn gốc, được hình thành từ những
tác động bên ngoài và được cá nhân hóa thành hứng thú, tâm thế, niềm tin, …
4
của mỗi cá nhân. Hình thành động cơ hoạt động phải bắt đầu từ xây dựng các
điều kiện bên ngoài cho phù hợp với nhận thức, tình cảm của cá nhân.
- Quản lý kế hoạch tự học:
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một
cách hợp lý, dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các
điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn
học. Việc xây dựng kế hoạch tự học giúp cho học sinh biết mình phải làm gì
để đạt mục tiêu nào, nó làm cho quá trình tự học diễn ra đúng dự kiến, do đó
nó giúp học sinh thực hiện các nhiệm vụ tự học và kiểm soát được toàn bộ
quá trình tự học một cách thuận lợi, tiết kiệm được thời gian.
Kế hoạch tự học của học sinh càng rõ ràng thì càng tạo điều kiện thuận
lợi cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả và mức độ đạt được mục tiêu tự học,
tự đào tạo của học sinh. Muốn vậy, kế hoạch tự học của học sinh cần được cụ
thể hóa thành thời gian biểu tự học trong từng buổi học, từng tuần, từng
tháng,…
Do vậy, quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện kế
hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tự học của học sinh.
- Quản lý nội dung tự học:
phương pháp, tự học như trên, mỗi học sinh cần xác định và chọn cho mình
một phương pháp học tập phù hợp.
Cán bộ quản lý, thầy giáo cần hướng dẫn cho học sinh xây dựng kế
hoạch tự học và giúp học sinh tự quản lý phương pháp tự học của mình.
Để giải quyết vấn đề quản lý phương pháp học tập, tự học, phải bắt đầu
từ việc xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn, từ việc lựa chọn cách
học, biện pháp học và kỹ thuật phù hợp,… Do vậy, người học sinh cần biết
quản lý phương pháp tự học của mình theo một kế hoạch hợp lý, biết tạo ra
điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc học tập và tự học tập suốt đời, học
hỏi mọi người, mọi lúc, mọi nơi. Muốn tự học thành công, mỗi học sinh phải
biết tự vượt khó, vượt khổ; phải tìm ra được nội dung và phương pháp học
tập phù hợp với điều kiện và năng lực của mình, quyết tâm thực hiện đúng kế
hoạch tự học, tự đào tạo từng ngày, từng tháng, từng năm; phải tận dụng được
6
sự giúp đỡ của giáo viên, của cấp trên, cấp dưới và đồng cấp cùng với các
phương tiện kỹ thuật để tự học, tự đào tạo.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học:
Kiểm tra xây dựng kế hoạch tự học của học sinh (hàng tuần, hàng tháng,
năm học).
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu,
nhiệm vụ tự học, phát hiện sai lệch. Giúp học sinh điều chỉnh hoạt động tự
học.
Vấn đề tự kiểm tra, tự đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của học
sinh là một yếu tố quyết định thắng lợi của việc học tập nói chung, tự học nói
riêng; mọi sự tác động từ bên ngoài như từ phía thầy, bạn,… chỉ đóng vai trò
hỗ trợ.
Để đảm bảo việc tự học, người học sinh cần đạt được các yêu cầu nội
dung sau:
2. Thực trạng vấn đề
* Thái độ
- Ý thức tu dưỡng rèn luyện đạo đức tác phong còn yếu. Phần lớn học
sinh quen nếp sống tự do không có người giúp đỡ kèm cặp và bị ảnh hưởng
của môi trường xã hội vùng kinh tế văn hóa chậm phát triển.
- Nhận thức về học tập chưa cao, cá biệt có một bộ phận học sinh mơ hồ
về nhiệm vụ học tập.
- Không có thói quen và khả năng tham gia vào các hoạt động ngoại
khóa và hoạt động xã hội nói chung. Học sinh nội trú đến từ vùng kinh khó
khăn nên không có thói quen sống tập thể, đặc biệt sống trong môi trường nội
trú.
- Chưa có khái niệm tự hào về truyền thống nhà trường.
* Kiến thức
- Chất lượng đầu vào của học sinh còn thấp so với yêu cầu: phần đông
học sinh nắm không vững kiến thức cơ bản. Chưa biết tự học và tự đánh giá,
khả năng giúp đỡ bạn bè yếu.
- Học sinh không biết xây dựng kế hoạch và phương pháp học tập.
8
- Nhận thức về các vấn đề xã hội nơi trường đóng chưa rõ ràng.
* Kỹ năng
- Các học sinh đều khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch học tập và tự học.
- Bị động trong quá trình tiếp thu kiến thức bài giảng trên lớp.
- Chậm thích nghi với phương pháp dạy học mới, khả năng vận dụng
thực hành yếu.
- Do có thói quen sống tự do tại các vùng kinh tế văn hóa thấp, nên việc
tham gia sinh hoạt tập thể, tổ chức các hoạt động ngoại khóa đối với học sinh
+ Tiếp tục duy trì việc phổ biến mục tiêu, yêu cầu đào tạo, các quy chế
và giáo dục – đào tạo cho học sinh ngay từ khi nhập học
+ Đưa yêu cầu của mục tiêu đào tạo vào nội dung sinh hoạt hoạt động
Chi bộ, Đoàn TNCS và Đội TNTP.
+ Tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu, yêu cầu đào tạo đối với từng môn học
+ Thể hiện trên bảng, biểu treo tại phòng ở của học sinh, tại lớp học và
những nơi sinh hoạt tập thể khác.
- Xây dựng bầu không khí học tập tích cực, động viên giúp đỡ nhau
trong tập thể học sinh.
+ Duy trì nề nếp tự học nghiêm túc.
+ Chấp hành các quy định về tự học phải là một tiêu chí bình bầu Đoàn
viên, Đội viên, thi đua khen thưởng.
+ Thường xuyên quan tâm giúp đỡ học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn
hoặc gặp rủi ro.
+ Xây dựng các tổ phương pháp học tập trong lớp học.
+ Tổ chức thông báo thời sự cho học sinh
* Quản lý kế hoạch tự học của học sinh
Quản lý hoạt động tự học thông qua quản lý kế hoạch tự học của học
sinh là biện pháp quản lý rất hiệu quả, các cấp quản lý nhà trường đều nhận
thức được điều đó, nhưng chính hoạt động tự học của học sinh lại chưa chặt
chẽ, dẫn đến hiệu quả hoạt động tự học của học sinh chưa cao. Phần lớn học
sinh không làm kế hoạch tự học, cán bộ quản lý cũng không kiểm tra, đôn
đốc chấn chỉnh kịp thời. Do vậy, nhiều học sinh không xác định được nội
10
dung tự học của từng tháng, từng tuần, thậm chí từng buổi học, học tập tùy
tiện ở nhà, gặp môn nào học môn ấy.
Để quản lý được kế hoạch tự học của học sinh, chủ thể quản lý cần chú ý
+ Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ quản lý lớp
+ Gắn nội dung nghiên cứu khoa học với nội dung tự học của học sinh
* Quản lý phương pháp tự học của học sinh
Muốn tự học tốt, người học phải có phương pháp học tập (tự học) khoa
học thì họ mới tiết kiệm được thời gian, sức lực và mang lại hiệu quả cao.
Một số phương pháp tự học mà người học sinh cần có được là:
- Phương pháp chọn tài liệu;
- Phương pháp đọc tài liệu;
- Phương pháp ghi chép khi đọc tài liệu;
- Phương pháp ghi bài giảng trên lớp;
- Phương pháp nghe giảng;
- Phương pháp xử lý thông tin;
- Phương pháp chuẩn bị bài tập.
* Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả tự học của học sinh
Một chức năng rất quan trọng của cán bộ quản lý và giáo viên là kiểm tra
đánh giá kết quả hoạt động tự học của học sinh. Làm tốt chức năng này có tác
dụng thúc đẩy hoạt động tự học của học sinh được thực hiện có kế hoạch và
đạt kết quả cao, đồng thời nó cung cấp thông tin phản hồi cho việc điều chỉnh
hoạt động giảng dạy của giáo viên, điều chỉnh hoạt động quản lý của cán bộ
quản lý và giúp học sinh điều chỉnh hoạt động tự học của mình hướng tới
mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác định. Vì vậy, việc kiểm tra đánh giá kết quả
hoạt động tự học của học sinh phải đảm bảo khách quan, toàn diện, hệ thống
và thường xuyên, với các biện pháp sau:
- Cán bộ quản lý tăng cường kiểm tra hoạt động tự học của học sinh
+ Kiểm tra việc thực hiện thời gian tự học
+ Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh
+ Kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ tự học của học sinh
- Giáo viên kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của học sinh
12
mình yêu thích. Công việc này cũng cần phải quản lý giám sát chặt chẽ, tránh
học sinh chuyện phiếm, chat,… trên mạng. Việc đưa kết quả học tập, rèn
13
luyện của học sinh lên mạng cũng kích thích hứng thú, củng cố động cơ học
tập cho học sinh do sự quản lý của phụ huynh, động viên của bạn bè, dư luận.
* Tăng cường cải tiến công tác xã hội hóa giáo dục
Các tổ chức xã hội đặc biệt là lực lượng cha mẹ học sinh có tác dụng rất
quan trọng trong việc quản lý và giám sát việc tự học của học sinh. Việc
thành lập các tổ chức hội cha mẹ học sinh cùng với lực lượng nhà trường
tham gia công tác quản lý học sinh trong các hoạt động sinh hoạt ngoài giờ
lên lớp là rất cần thiết và quan trọng.
Thành lập các cha mẹ đỡ đầu các phòng ở để quản lý sinh hoạt, hoạt
động tự học, giải quyết các sự việc xảy ra trong phòng, giáo dục, giúp đỡ các
em trong phòng ở, tạo ra không khí thi đua trong phòng và thi đua giữa các
phòng, đồng thời uốn nắn, giáo dục những em học sinh cá biệt, rèn luyện nếp
sống sinh hoạt trong gia đình, trong tập thể, trong giao tiếp, quan hệ, rèn
luyện ý thức công dân, chấp hành pháp luật. Động viên các em học sinh khi
có những khúc mắc, tổn thương về mặt tình cảm, trong quan hệ gia đình, tập
thể, ốm đau,…
Tư vấn cho học sinh mua sắm, sử dụng các đồ dùng cá nhân và tập thể
vào việc sinh hoạt, tự học.
4. Hiệu quả của sáng kiến, kinh nghiệm, giải pháp
Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh học kỳ I năm học 2010-2011 và
2011-2012
Năm học
2010-2011
2011-2012
trong đề tài tôi rút ra một số kết luận sau:
* Hoạt động tự học là một bộ phận hữu cơ của quá trình học tập và quá
trình dạy học, là quá trình tự giác, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo cho chính người học. Tự học có vai trò rất quan trọng đối với
việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Tự học là yếu
tố cơ bản quyết định chất lượng học tập của người học nói riêng và chất
lượng đào tạo của nhà trường nói chung.
* Hoạt động tự học của học sinh trường PTDTNT huyện Gò Quao là quá
trình nhận thức tích cực, độc lập ở trình độ tạo dựng phương pháp cho học
sinh và hình thành nhân cách, tác phong của học sinh, sự tổ chức, điều khiển
của giáo viên. Tự học được xem như một hình thức dạy học cơ bản có quan
hệ với các hình thức tổ chức hoạt động khác, có quan hệ chặt chẽ với hoạt
động dạy của giáo viên và công tác quản lý của nhà trường.
* Để quản lý hoạt động tự học có hiệu quả thì việc tìm biện pháp tăng
cường quản lý vừa mang tính thực tiễn, vừa mang tính lý luận là một điều cần
thiết. Trong đề tài này đề xuất 8 biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất
lượng tự học của học sinh trường PTDTNT huyện Gò Quao.
2. Khả năng ứng dụng
Những biện pháp nêu trong đề tài có tính cấp bách và tính khả thi ở mức
độ tương đối cao. Vì vậy, để thực hiện một cách có hiệu quả, các biện pháp
này phải được tiến hành đồng bộ, hợp lý theo đúng nhiệm vụ chức năng để
đạt mục tiêu đề ra. Nếu thực hiện như vậy thì đề tài này có khả năng vận dụng
tốt trong hệ thống các trường PTDTNT cấp huyện.
3. Những kiến nghị, đề xuất
* Ưu tiên hơn nữa trong kinh phí đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết
bị phương tiện dạy học, tài liệu phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập trong
nhà trường, xây dựng phòng dạy học công nghệ cao, phòng học tin học,
15
17
Mục lục
Phần mở đầu
1. Bối cảnh của đề tài...........................................................................................1
2. Lý do chọn đề tài..............................................................................................1
3. Phạm vi và đối tượng của đề tài.....................................................................2
4. Mục đích của đề tài..........................................................................................2
5. Sơ lược những điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu ...............2
6. Khẳng định tính sáng tạo về khoa học và thực tiễn của vấn đề..................2
1. Cơ sở lý luận của vấn đề.................................................................................3
2. Thực trạng vấn đề...........................................................................................8
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.........................................9
4. Hiệu quả của sáng kiến, kinh nghiệm, giải pháp........................................14
1. Những bài học kinh nghiệm..........................................................................15
2. Khả năng ứng dụng.......................................................................................15
3. Những kiến nghị, đề xuất..............................................................................15
18
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIÊN GIANG
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘI NỘI TRÚ GÒ QUAO
Người viết: Danh Phúc
Chức vụ: Hiệu trưởng
Năm học 2011-2012