BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN DƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN DƯƠNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HOÁ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Tứ
Nghệ An năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, luận văn “Một số giải pháp quản
lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện
Quan Sơn tỉnh Thanh Hoá” đã hoàn thành.
Với những tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới:
Lãnh đạo Trường Đại học Vinh, Hội đồng khoa học chuyên ngành Quản lý
giáo dục, Phòng Sau đại học - Trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo đã giảng dạy,
đã tạo mọi điều kiện động viên, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân huyện Quan Sơn, Phòng
Giáo dục và Đào tạo huyện Quan Sơn, Ban Tuyên giáo huyện uỷ Quan Sơn, Ban
giám hiệu các trường Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở thuộc huyện Quan
GD Giáo dục
THCS Trung học cơ sở
UBND Ủy ban nhân dân
PTDT Phổ thông dân tộc
GDPT Giáo dục phổ thông
CBGV Cán bộ giáo viên
GVBM Giáo viên bộ môn
CBQL Cán bộ quản lý
BNV Bộ nội vụ
TTLT Thông tư liên tịch
SL Số lượng
TB Trung bình
iii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21, trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại, giáo
dục và đào tạo ngày càng thể hiện được vai trò cũng như tầm quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội. Tốc độ phát triển nhanh của khoa học - công nghệ, xu
thế hội nhập, xu thế toàn cầu hoá…đã và đang đặt ra những yêu cầu to lớn đối với
sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh:
“Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,
xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với
phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào
tạo là đầu tư phát triển”.
Cùng với sự đổi mới của đất nước, sự nghiệp giáo dục - đào tạo Việt Nam đã
trưởng thành, phát triển và đạt được những thành quả nhất định. Nhưng nhìn chung,
chất lượng đào tạo còn thấp; quản lý giáo dục (QLGD); quản lý nhà trường, đặc biệt
là quản lý quá trình dạy học (QTDH) còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng yêu
cầu công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước (CNH-HĐH) đất nước. Đội
trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở đối với huyện Quan Sơn tỉnh
Thanh Hóa là rất cần thiết. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp quản lý hoạt
động dạy học ở trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Quan Sơn
tỉnh Thanh Hoá” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động
dạy học ở trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở nhằm góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện
Quan Sơn tỉnh Thanh Hoá.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học
cơ sở.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông dân tộc bán
trú trung học cơ sở.
2
4. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng các giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông
dân tộc bán trú trung học cơ sở có tính khoa học, phù hợp với địa bàn thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học
cơ sở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hoá.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở trường
phổ thông dân tộc bán trú trung hoc cơ sở.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở trường phổ
thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hoá; rút ra
những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học ở trường phổ thông
dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ
thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Quan sơn, tỉnh Thanh hoá
4
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Giáo dục là chìa khóa vàng mở cánh cửa tương lai của mỗi quốc gia, nên
quốc gia nào cũng mong muốn chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao hơn
nữa. Đây là vấn đề luôn được nghiên cứu ở mọi thời đại, mọi quốc gia. Việc nâng
cao chất lượng giáo dục ở trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở từ lâu
đã trở thành vấn đề quan tâm của Đảng và nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển của xã hội. Để nâng cao chất lượng dạy học, vai trò đóng góp của các giải
pháp quản lý là hết sức quan trọng. Ở nước ta, vấn đề quản lý nhà trường nhằm
nâng cao chất lượng dạy học cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm
trong nhiều năm qua. Có thể kể đến các công trình của các tác giả Nguyễn Văn Lê,
Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn, Trần Kiểm, Bùi Minh
Hiền, Vũ Ngọc Hải…Trong những công trình này các tác giả đã nghiên cứu và nêu
lên những nguyên tắc chung trong việc quản lý hoạt động dạy học của người giáo
viên như:
- Tầm quan trọng của việc giáo dục chính trị tư tưởng và bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ cho giáo viên.
- Khẳng định trách nhiệm của mỗi giáo viên bộ môn là chịu trách nhiệm về
chất lượng giảng dạy học sinh trong lớp mình phụ trách.
- Đảm bảo định mức lao động với các giáo viên.
- Giúp đỡ thiết thực và cụ thể để cho các giáo viên hoàn thành tốt các trách
nhiệm của mình.
- Làm tốt công tác thi đua và khen thưởng.
Từ các nguyên tắc chung đó các tác giả đã nhấn mạnh vai trò quản lý trong
việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: "Hiệu
trưởng phải là người luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ quản lý dạy và học với
phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. Việc chuyển đổi loại hình trường lớp này
đã có ít nhiều sự thay đổi về hoạt động dạy học của giáo viên, vì vậy việc quản lý
hoạt động dạy học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở còn nhiều
hạn chế. Để nâng cao chất lượng dạy học, việc tìm ra các giải quản lý hoạt động dạy
học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở là rất cần thiết.
Trên thực tế đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục nghiên cứu về
biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở như đề tài: “Một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học cơ sở huyện
6
Đồng Văn tỉnh Hà Giang” của tác giả Nguyễn Thị Hồng; “Biện pháp quản lý hoạt
động dạy học ở trường trung học cơ sở huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa theo yêu
cầu đổi mới giáo dục hiện nay” của tác giả Trịnh Thị Nguyên;… Tuy nhiên các đề
tài này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp quản lý nói
chung ở cấp trung học cơ sở, chưa có đề tài nào đề cập tới các giải pháp quản lý
hoạt động dạy học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở . Đây
chính là vấn đề mà tôi quan tâm nghiên cứu và đề cập trong luận văn này.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong quá
trình hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp
xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng
của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự
phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động Như vậy quản lý
tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ nhu
cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại. Con người trải qua
bao nhiêu giai đoạn phát triển với những hình thái xã hội khác nhau thì cũng có bấy
nhiêu kiểu quản lý. Quản lý vừa là biện pháp hành chính, vừa là nghệ thuật, sau này khi
khoa học phát triển, quản lý thành khoa học ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
lý rất cụ thể như: “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối
hợp và kiểm tra”[11; tr25].
Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản
lý: theo Từ điển tiếng Việt (1992) thì “Quản lý là hoạt động của con người tác động
vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu
chung”[ tr23].
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách
thể (đối tượng quản lý) về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội … bằng một
hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện
pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[6;
tr7].
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có
tổ chức nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát
triển tới mục đích đã định”[14; tr61].
8
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý một hệ thống là quá
trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định những mục tiêu này
đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn”[13; tr225].
Theo tác giả Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm: “Quản lý là tác động có
mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ,
động viên kích thích họ trong quá trình lao động”[5].
Từ những phân tích trên và theo thực tiễn công tác quản lý, chúng tôi sử
dụng định nghĩa của nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[12, tr12].
Từ những định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý, đây là quan hệ lệnh phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
quản lý. Mặt khác nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa
học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật lại vừa có tính xã hội rộng rãi
chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất, đó là biện chứng, là bản chất
của hoạt động quản lý.
1.2.1.3 Chức năng của quản lý
Chức năng của quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể
quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.
Quản lý có bốn chức năng cơ bản, các chức năng này luôn luôn có mối quan
hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lý, bao gồm: kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Kế hoạch hoá: là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào
nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kì, từng giai đoạn,
từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt được mục tiêu đó.
Tổ chức: là những nội dung phương thức hoạt động cơ bản trong việc thành
lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lý tác động lên các đối
tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch.
Chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức,
nhân lực đã có của tổ chức (đơn vị) vận hành theo đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu
quản lý.
Kiểm tra: là những hoạt động của công tác quản lý tác động đến khách thể
quản lý nhằm đánh giá và sử lý các kết quả vận hành của tổ chức.
Như vậy: chức năng quản lý là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận
quản lý, nó giữ vai trò to lớn trong thực tiễn quản lý, chức năng quản lý và chu trình
quản lý thể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lý đối với khách thể
quản lý. Chính vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong một chu
trình quản lý là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý.
1.2.2. Quản lý trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở
1.2.2.1. Quản lý nhà trường
10
Trong quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ hàng đầu.
11
Để cho trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở được tồn tại và phát
triển, đảm bảo có một tỷ lệ hợp lý học sinh bán trú theo Quy chế trường, nhà trường
phải đề xuất chỉ tiêu, lập kế hoạch và tham gia xét duyệt học sinh bán trú. Việc đề
xuất chỉ tiêu phải căn cứ vào tình hình số trẻ em trong độ tuổi di học, cũng như số
học sinh đang học ở các cấp hiện đang cư trú tại vùng tuyển sinh của trường.
Những học sinh dự kiến tuyển phải thỏa mãn được các tiêu chí phổ thông dân tộc
bán trú trung học cơ sở mà địa phương đã đề ra.
Chỉ tiêu này được báo cáo lên cấp quản lý trên cơ sở đã được thẩm tra kĩ
càng để tránh bỏ sót các em trong diện tuyển sinh lại không nằm trong dự kiến chỉ
tiêu tuyển sinh.
Nhà trường có nhiệm vụ lập kế hoạch và tham gia xét duyệt học sinh bán trú
để có thể tuyển sịnh học sinh bán trú hàng năm đúng thời gian, đảm bảo đủ chỉ tiêu.
- Giáo dục học sinh về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước, bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở có nhiệm vụ tiến hành
giáo dục học sinh về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, bản sắc
văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thống qua các hoạt động giáo dục
của nhà trường. Cụ thể là bổ sung các nội dung giáo dục trong các hoạt động ngoài
giờ lên lớp, trong các tiết sinh hoạt cũng như trong các sinh hoạt đoàn thể của nhà
trường.
Hoàn thành nhiệm vụ của mình, trường phổ thông dân tộc bán trú trung học
cơ sở sẽ có góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ phổ cập
giáo dục trung học cơ sở ở miền núi và vùng dân tộc, thực hiện công bằng giáo dục,
hoàn thành nhiệm vụ chiến lược đối với giáo dục vùng dân tộc và miền núi.
- Tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục, lao động, văn hóa thể thao và tổ
chức nuôi dưỡng phù hợp với học sinh bán trú.
Hoạt động nội trú làm nên tính chuyên biệt của hệ thống trường phổ thông
dân tộc bán trú trung học cơ sở. Theo đặc điểm này, toàn bộ cơ chế vận hành của
trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở được thực hiện theo quy định của
động học.
Theo Tâm lý học, hoạt động dạy là hoạt động chuyên biệt của người lớn
(người được đào tạo nghề dạy học) tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò
nhằm giúp chúng lĩnh hội nến văn hoá xã hội tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành
nhân cách. Vì vậy mục đích của hoạt động dạy là giúp trẻ lĩnh hội nền văn hoá xã
hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách. Sự lớn lên về mặt tinh thần của trẻ diễn
13
ra đồng thời với quá trình xã hội hoá. Trong quá trình đó, trẻ một mặt thâm nhập
vào các mối quan hệ xã hội, mặt khác lĩnh hội nền văn hoá xã hội biến những năng
lực của loài người thành năng lực của chính mình, tạo ra những cơ sở trọng yếu để
hình thành nhân cách của bản thân. Để đạt được điều đó nhất thiết trẻ phải dựa vào
sự giúp đỡ của người lớn. Vì vậy trẻ lĩnh hội nền văn hoá xã hội một cách gián tiếp
thông qua người lớn. Sự giúp đỡ của người lớn để trẻ lĩnh hội nền văn hoá xã hội
thúc đẩy sự phát triển tâm lý, tạo ra những cơ sở trọng yếu để hình thành nhân cách
của trẻ là mục đích của hoạt động dạy. Có hai con đường để đạt được mục đích dạy
đó là theo cách gia đình - xã hội (phương thức đời thường) và dạy theo cách thức
nhà trường do thầy giáo thực hiện. Theo phương thức đời thường chỉ đem lại cho
trẻ những hiểu biết mang tính chất kinh nghiệm không đủ cho trẻ thích nghi với
cuộc sống ngày càng phát triển, trong khi đó dạy theo phương thức nhà trường thì
dạy cho trẻ những tri thức khoa học, những năng lực người ở trình độ cao thì xã hội
đã giao cho người thầy giáo.
Trong lý luận dạy học người ta khẳng định, quá trình dạy học là quá trình
thuận nghịch, có mục đích được thay đổi một cách kế tiếp nhau giữa thầy tổ chức và
điều khiển, trò lĩnh hội kinh nghiệm xã hội.
Như trên đã trình bày, bản chất của hoạt động dạy học là sự thống nhất biện
chứng của dạy và học. Nó được thể hiện bằng sự tường tác có tính chất cộng đồng
giữa dạy và học tuân theo lôgic khách quan của nội dung dạy học. Muốn dạy tốt
giáo viên phải xuất phát từ lôgic của khái niệm khoa học, tổ chức tối ưu hoạt động
của thầy, muốn học tốt học sinh thực hiện tốt chức năng kép của dạy và học đồng
thời bảo đảm tốt mối liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững.
giáo. Nói cách khác, trong quá trình dạy học, đã diễn ra sự gia công sư phạm
trên cơ sở tính đến những đặc điểm của khoa học, những đặc điểm tâm sinh lý
của học sinh và đặc biệt là tính đặc thù của quá trình dạy học. Bên cạnh đó, dạy học
còn là con đường quan trọng bậc nhất giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống
năng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.
Nhờ có sự gia công sư phạm trong quá trình dạy học của người thầy mà học
sinh lĩnh hội nhanh chóng và có hiệu quả hệ thống những tri thức khoa học cần thiết
trên cơ sở tiến hành các thao tác trí tuệ, đặc biệt các thao tác tư duy. Mặt khác các
thao tác trí tuệ thông qua đó lại được phát triển và hoàn thiện thêm một bước.
Dạy học còn là một trong những con đường chủ yếu góp phần giáo dục cho
học sinh thế giới quan khoa học nhân sinh quan cách mạng và những phẩm chất đạo
đức con người mới.
Thông qua quá trình dạy học, học sinh có thể nhanh chóng nắm vững có hiệu
quả hệ thống những tri thức khoa học cần thiết. Chính những tri thức khoa học này
15
giúp học sinh dần nắm được bản chất của thế giới khách quan, của tự nhiên, của xã
hội, của tư duy, đồng thời rút ra được những quy luật vận động và phát triển của
chúng và tập vận dụng những điều đã học vào cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân.
Những tri thức đó giúp học sinh có quan điểm, có suy nghĩ và đặc biệt là có hành
động đúng đắn trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với bản thân.
Tóm lại, hoạt động dạy học trên lớp có tính đặc trưng chuyên môn hóa cao về
dạy học theo môn học, vì thế nó có ưu thế tuyệt đối trong việc hình thành tri thức phát
triển năng lực thông qua việc dạy các môn học cơ bản, đồng thời đặt nền móng cho sự
phát triển nhân cách toàn diện. Vì thế, hoạt động dạy học được hiểu một cách đầy đủ
bao gồm toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của thầy, việc học tập, rèn luyện của trò theo
nội dung giáo dục toàn diện nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người làm chủ đất
nước, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa, kỹ thuật, có sức khỏe, để đáp ứng xây
dựng xã hội mới.
Để quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả cần tuyệt đối chú ý đến những vấn đề cơ bản
sau:
đạt nhiều thành tích về giáo dục và đào tạo; nhưng hiệu trưởng quản lý kém thì
trường không phát triển, chất lượng giáo dục thấp. Vai trò tổ chức, quản lý của hiệu
trưởng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mọi hoạt động của nhà trường.
Hiệu trưởng trong mái trường xã hội chủ nghĩa không phải chỉ biết tổ chức
việc dạy và học theo yêu cầu của xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà
trường thành một “công cụ chuyên chính vô sản” (Lênin – Bàn về giáo dục). Vì
vậy, người hiệu trưởng phải có sự giác ngộ sâu sắc về chính trị, có những hiểu biết
sâu về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối giáo dục xã hội
chủ nghĩa, có tinh thần cách mạng cao, có tinh thần đoàn kết …
Hiệu trưởng tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách, đường lối giáo
dục thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp, hiểu
rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nội dung giáo dục, nắm chắc các phương
pháp giáo dục, các nguyên tắc tổ chức giáo dục xã hội chủ nghĩa; có kinh nghiệm,
có năng lực, có uy tín về chuyên môn, là con chim đầu đàn của tập thể giáo viên.
Hiệu trưởng có chức năng tổ chức mọi hoạt động giáo dục trong trường, làm sao
cho các chủ trương, đường lối các nội dung, phương pháp giáo dục được thực hiện
một cách có hiệu quả. Do vậy, năng lực tổ chức thực tiễn của người hiệu trưởng
quyết định hiệu quả của quản lý giáo dục. Trong công tác tổ chức thực tiễn, hiệu
trưởng phải có tri thức cần thiết về khoa học tổ chức, đặc biệt phải biết quản lý con
người, có những kỹ năng cần thiết làm việc với con người. Chính vì vậy, lao động
quản lý của hiệu trưởng vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.
17
1.3.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông dân tộc
bán trú trung học cơ sở
1.3.2.1. Quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên
Quá trình dạy học là tập hợp những hành động của hai chủ thể là giáo viên
và học sinh. Trong đó, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn và điều
khiển, còn học sinh giữ vai trò chủ động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo rèn luyện
thái độ và hành vi tốt đẹp. Quá trình dạy học chỉ có thể đem lại kết quả cao khi cả
hai chủ thể cùng cố gắng, cùng cộng tác. Trong trường học, hoạt động dạy học là
chương trình dạy học.
- Quản lý giáo viên soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp
Việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho toàn
năm học và từng học kì hoặc chuẩn bị cho từng tiết lên lớp cụ thể:
Chuẩn bị dài hạn: Giáo viên cần xây dựng được kế hoạch dạy học cho cả
năm hay từng học kì dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ chương trình dạy học, SGK, tài
liệu tham khảo, tình hình học tập của học sinh. Trong quá trình xây dựng kế hoạch
cần tính đến khả năng của nhà trường trong việc cung ứng những điều kiện vất chất
kỹ thuật cho hoạt động dạy học, khả năng tự làm đồ dùng dạy học. Từ đó lựa chọn
phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp cho phù hợp.
Chuẩn bị từng tiết lên lớp: Đây là sự chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên
trong giờ lên lớp. Giáo án là bản thiết kế cụ thể cho giờ lên lớp, trong đó trình bày
trong giáo án phải rõ ràng, khoa học nội dung mà học sinh cần nắm, các hoạt động
với những hình thức cụ thể, thời gian phân phối trong tiết học. Để quản lý tốt công
tác soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên, hiệu trưởng cần thực hiện các biện
pháp:
+ Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài.
+ Thống nhất (cơ bản) về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài ôn với
tính chất chỉ dẫn.
+ Hướng dẫn việc sử dụng sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng bài, bài
soạn mẫu trong việc soạn bài.
+ Quy định về việc dùng các bài soạn đã có.
+ Phân tích họp nhóm chuyên môn để thảo luận thống nhất nội dung phương
pháp soạn bài, những thay đổi cần bổ sung, đổi mới phương pháp hay cải tiến giờ
dạy.
+ Giữa hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn có sự phân
công: kiểm tra, theo dõi nắm bắt tình hình soạn bài của giáo viên thông qua các buổi
thảo luận, kiểm tra giáo án, tổng hợp tình hình biên bản sinh hoạt nhóm chuyên môn,
phiếu báo giảng, các báo cáo thống kê học kì, tiến độ thực hiện các chương trình bộ
môn.
việc.
Trong thi đua có danh hiệu và có các phần thưởng tương ứng kích thích mọi
người vươn lên. Hiệu trưởng cần lãnh đạo tư tưởng giáo viên sao cho họ không quy
về sự cố gắng để lập thành tích cá nhân, ganh đua, báo cáo sai sự thật, chạy đua
theo thành tích, mà phải hướng họ vào việc thi đua giúp đỡ nhau xây dựng tinh thần
20