BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIẾT NĂM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG
HỌC CƠ SỞ HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HOÁ
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, năm 2014
MỤC LỤC
i
Trang
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS. TS Mai Văn Trinh, người hướng dẫn khoa
học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm luận
văn.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Khoa đào
tạo sau Đại học - trường Đại học Vinh, quý thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý,
giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành khóa
học.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục
và Đào tạo huyện Quan Sơn, Ban giám hiệu, tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn,
quý thầy cô giáo của các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS ở huyện Quan
Sơn; cảm ơn gia đình, bạn bè cùng quý đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, động viên,
khích lệ và giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn.
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, luận văn tốt nghiệp
của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự góp ý của hội đồng khoa
học, quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Thanh Hóa, tháng 09 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Viết Năm
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội XI của Đảng đã xác định mục tiêu tổng quát trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội của nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế, văn hóa
phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn
vinh. Giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng để phát triển nguồn nhân lực, quyết định
thành công của công cuộc xây dựng đất nước. Trong đó “Giáo dục và đào tạo có
sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt
Nam”.
Ngày 04/11/2013, Đảng ta đã ban hành nghị quyết số 29/NQ/TW “Về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương 8 khóa XI thông qua. Trong đó xác định:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và
của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết ”. Về quan điểm
chỉ đạo trong định hướng đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo. Văn kiện
Đại hội đã nêu phải “Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài
công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối
với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu,
vùng xa và các đối tượng chính sách”.
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo là
động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội. Nghị quyết TW2 khóa VIII, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các
nhà hoạch định về giáo dục nói chung, với ngành giáo dục, các nhà quản lí giáo
dục, đội ngũ giáo viên nói riêng đó là tăng cường đổi mới công tác quản lí một cách
mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục thực sự để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của xã hội. Giáo dục và đào tạo phải tạo ra sản phẩm đó là những con người có
năng lực thực sự, có kiến thức về chuyên môn và xã hội, sẵn sàng và tự tin bước
càng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là yếu tố tiên quyết đảm bảo cho sự thắng lợi.
Chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó đội ngũ giáo
viên là rất quan trọng, có vai trò quyết định trong truyền thụ và định hướng toàn bộ
hoạt động tiếp thu lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng của học sinh, đồng thời là lực
2
lượng trực tiếp tác động, định hướng sự phát triển nhân cách của học sinh. Tinh
thần thái độ của học sinh không chỉ phụ thuộc vào điều kiện, phương tiện, nội dung
bài giảng mà còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ phẩm chất năng lực của giáo viên.
Học sinh nắm vững kiến thức đến đâu một phần tùy thuộc vào phẩm chất năng lực
của người dạy.
Thực tế cho thấy bên cạnh những ưu điểm, những mặt mạnh đã đạt được thì
một bộ phận của đội ngũ nhà giáo vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập về trình
độ, phẩm chất, năng lực. Ngày nay, trước sự tác động của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ, trước yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc càng đòi hỏi coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Điều đó càng đòi hỏi phải không ngừng xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất
và năng lực cao. Do vậy, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là
vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở
các nhà trường hiện nay.
Chuẩn hóa đội ngũ cả về cơ cấu, số lượng, chất lượng đã và đang là chủ
trương lớn của Đảng, được Đảng ta đặc biệt quan tâm: Nghị quyết TW2 khóa VIII
của Đảng đã khẳng định: Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và
được xã hội tôn vinh - giáo viên phải có đủ sức đủ tài. Báo cáo của Bộ Chính trị tại
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW khóa IX đã nêu “Đặc biệt quan tâm xây
dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đủ sức đủ tài cùng với đội ngũ nhà giáo và
toàn xã hội chấn hưng nền giáo dục nước nhà” và “ Chú trọng việc nâng cao bản
lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống của nhà giáo.
Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã khẳng định:
Mô hình trường Phổ thông dân tộc bán trú tại huyện Quan Sơn có 7/14 các
trường THCS là trường bán trú THCS. Trường phổ thông dân tộc bán trú là trường
chuyên biệt dành cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư
lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Trường phổ thông
dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở phải có trên 50% trở lên là người dân tộc thiểu
số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú. Việc dạy học ở các trường chuyên
biệt cũng phải có những biện pháp riêng, đòi hỏi người giáo viên THCS không
những có những kiến thức kỹ năng sư phạm như mọi giáo viên khác, người giáo
viên dạy ở những trường đặc thù- vùng đặc biệt khó khăn phải có những kỹ năng
4
riêng, có giải pháp phù hợp với đặc thù vùng miền, đặc thù vùng dân tộc thiểu số.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh
Hóa", làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành “Quản lý giáo dục”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường PTDTBT THCS
huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa.
3 . Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường
PTDTBT THCS huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
các trường PTDTBT THCS.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu và đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học, hợp lý và
khả thi thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ giáo viên các trường PTDTBT
THCS huyện Quan Sơn tỉnh Thanh Hóa.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải pháp nâng cao chất lượng ngũ giáo viên
các trường PTDTBT THCS.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên các trường PTDTBT
trường phổ thông Dân tộc bán trú Trung học cơ sở huyện Quan Sơn, tỉnh
Thanh Hóa.
6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC
BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, trong tiến trình phát triển đất nước, không có một quốc gia nào,
một dân tộc nào lại không quan tâm đến phát triển giáo dục.
Kỳ họp lần thứ 27 năm 1993 của UNESCO tại Pháp, khi nói đến vai trò của
giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã khẳng định: “Giáo dục là chìa khoá
tiến tới một xã hội tốt hơn, vai trò của giáo dục là phát triển tiềm năng của con
người, giáo dục là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để tiến vào tương lai, giáo dục là quyền
cơ bản nhất của con người, giáo dục là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân
quyền, dân chủ, hợp tác trí tuệ, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau”
Giáo dục là phương tiện mà xã hội dùng để đổi mới và phát triển điều kiện
sinh tồn của chính bản thân xã hội. Giáo dục có vai trò to lớn trong việc tái sản xuất
sức lao động và thức tỉnh tiềm năng sáng tạo trong mỗi con người, tạo môi trường
cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đến lượt mình, sự phát triển kinh tế - xã hội lại
tác động trở lại tạo điều kiện cho giáo dục phát triển.
Đảng và Nhà nước Việt Nam ta, ngay từ khi lập nước đã rất quan tâm đến giáo
dục, coi sự dốt nát (do thiếu giáo dục) nguy hiểm như giặc ngoại xâm; ngày nay,
càng coi trọng giáo dục, coi giáo dục là "quốc sách hàng đầu", toàn xã hội rất chăm
lo đến sự nghiệp giáo dục. Vì mọi người nhận thức được: Giáo dục ngày nay được
coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, là cội nguồn để "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Thành tựu 20 năm đổi mới, giáo dục nước ta đã phát triển một cách rõ rệt về
quy mô, đa dạng hóa các loại hình trường lớp. Chất lượng giáo dục đã có những
chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đội ngũ
cán bộ giáo viên đa số được đào tạo chuẩn về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đã
cũng đã quy định “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng
giáo dục”. Vì vậy, muốn đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục thì phải nâng cao
chất đội ngũ giáo viên.
Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Quan Sơn lần thứ IV (nhiệm kỳ 2010
-2015) khẳng định : Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tích cực xây dựng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa về trình độ, đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Mở rộng đa dạng hóa các hính thức giáo dục và nâng
cao chất lượng giáo dục thường xuyên, các trung tâm học tập cộng đồng. Đấy
8
mạnh việc thực hiện phong trào thi đua dạy tốt, học tố gắn với việc thực hiện có
hiệu quả cuộc vận động của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra, khắc phục những
tồn tại, hạn chế trong giáo dục, ngăn chặn các tệ nạn xâm nhập học đường [11, tr
23]
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học trong và
ngoài nước nghiên cứu và đưa ra các giải pháp cơ bản trong việc xây dựng nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên THCS nói riêng. Đối
với huyện Quan Sơn chưa có công trình nào nghiên cứu việc xây dựng các giải
pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường PTDTBT THCS.Việc
nghiên cứu để đưa ra các giải pháp một cách đầy đủ, có tính hệ thống, cập nhật, có
tính chiến lược đối với việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các
trường PTDTBT THCS huyện Quan Sơn có ý nghĩa lớn nhằm hoàn thiện cả về mặt
lý luận lẫn thực tiễn trong việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các
trường PTDTBT THCS đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục
và đào tạo và quan điểm chỉ đạo về ưu tiên triển giáo dục và đào tạo đối với các
vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, vùng sâu, vùng xa.
1. 2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm về đội ngũ, đội ngũ giáo viên
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Ngày nay, khái niệm
đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán
bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ đều xuất phát theo cách hiểu của
Đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có ý thức kỷ luật cao, chấp hành tốt các quy chế
chuyên môn, kỷ cương, kỷ luật của nhà trường. Biết coi trọng kỷ luật, thấy kỷ luật
là sức mạnh của tập thể.
Đội ngũ giáo viên mạnh là luôn luôn có ý thức tiến thủ, ý thức xây dựng tập
thể, phấn đấu trong mọi lĩnh vực. Mỗi thành viên phải là tấm gương sáng cho hóc
sinh noi theo.
1.2.3. Khái niệm giáo dục Trung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc bán
trú, học sinh bán trú, vùng có kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn
- Giáo dục THCS là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, nó
sau Tiểu học và trước THPT. THCS kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9).Thông
thường, độ tuổi học sinh ở trường THCS là từ 11- 15. Hết cấp THCS, học sinh được
xét tốt nghiệp dựa trên thành tích học tập tích lũy 4 năm. Muốn học tiếp trình độ cao
hơn học sinh phải tham dự các kỳ thi tuyển sinh.
10
- Trường THCS là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường có tư cách pháp nhân và con dấu riêng.
- Trường phổ thông dân tộc bán trú là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia
đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường
phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu
số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên
cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có
từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học
cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học
sinh ở bán trú.
- Học sinh bán trú là học sinh đang học tại các trường phổ thông dân tộc bán
trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trường tiểu học và trung
học cơ sở công lập khác ở vùng này, được ủy ban nhân dân huyện phê duyệt cho
phép ở lại trường để học tập trong tuần do không thể đi đến trường và trở về nhà
Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục nước ta hiện nay là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Phát triển GD&ĐT sẽ tạo ra động lực phát triển
trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội. Trong đó nhân tố con người (đội ngũ
GV) đóng vai trò chủ đạo quyết định chất lượng giáo dục.
Đánh giá vai trò của người thầy trong sự nghiệp giáo dục hiện nay, Đảng ta
khẳng định “GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh,
trong sự nghiệp đổi mới giáo dục vị trí vai trò của GV phải nâng lên một tầm cao
mới”.[21]
Với những đặc điểm nổi bật: Sự bùng nổ của tri thức, khoa học và công nghệ;
sự xuất hiện một thế giới phụ thuộc lẫn nhau; sự đối mặt với những vấn đề lớn có
tính toàn cầu, vượt ra ngoài phạm vi mỗi quốc gia, của từng khu vực như dân số và
môi trường…
“Con người là trung tâm của sự phát triển, một xã hội phát triển dựa vào sức
mạnh của tri thức, bắt nguồn từ khai thác tiềm năng của con người, lấy việc phát
huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền
vững. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Việc đặt con
người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho giáo dục phải rà soát lại nhận thức
về mục tiêu: Từ chỗ “học để biết” sang nhấn mạnh “học để làm”, rồi “học để cùng
chung sống”, “học để khẳng định mình”, có nghĩa là khuyến khích sự phát triển đầy
12
đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người. “Vì lợi ích của bản thân và vì tương
lai của dân tộc, giáo dục phải là công cụ vừa cho cá nhân, vừa cho tập thể nhằm xây
dựng nguồn lực con người thành động lực cho sự phát triển bền vững”[9].
Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ 21 đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm
chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng của người GV.
Công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, tạo ra những phương tiện,
phương pháp giao lưu mới, tạo cơ hội cho mọi người có thể học dưới nhiều hình
thức theo khả năng và điều kiện cho phép. Giáo dục nhà trường không còn là nguồn
thông tin duy nhất đem đến cho HS các tri thức mới mẻ của loài người mà HS có
thể tiếp nhận thông tin khoa học từ các nguồn khác như: phần mềm dạy học,
phẩm chất, kỹ năng, tri thức để tiếp tục học tiếp ở THPT hoặc đi vào cuộc sống
thông qua các hình thức đào tạo nghề, lao đông giản đơn.
Đặc điểm lao động của người giáo viên Trung học cơ sở
Lao động sự phạm là một dạng lao động nghề nghiệp có những nét đặc thù do
mục đích, đối tượng và công cụ của lao động sư phạm quy định.
Lao động sư phạm thực hiện chức năng di sản văn hóa xã hội, tái sản xuất
sức lao động xã hội đảm bảo sự nối tiếp giữa các thế hệ và làm cho sức lao
động ngày càng hoàn thiện “trí tuệ hóa” cao.
* Mục đích của lao động sư phạm
Mục đích lao động sư phạm của người GV THCS là giáo dục thế hệ trẻ ở tuổi
từ 11 đến 14 sau khi đã hoàn thành chương trình tiểu học, nhằm hình thành ở học
sinh nhân cách, phẩm chất, kỹ năng, tri thức để tiếp tục học tiếp ở THPT hoặc đi
vào cuộc sống thông qua các hình thức đào tạo nghề, lao động giản đơn.
Nước ta tiến hành CNH, HĐH và tiến tới nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngành
giáo dục phải đào tạo ra những HS tự chủ, năng động, sáng tạo, có khả năng bảo tồn
và phát huy được bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc, biết tiếp thu và chọn lọc
nhưng tinh hoa văn hóa của nhân loại .
* Đối tượng của lao động sư phạm
Đối tượng của lao động sư phạm là những con người, là thế hệ trẻ đang lớn
lên và đang trưởng thành. Đối tượng của lao động sư phạm là cái vốn quý, là tương
lai của dân tộc. Vì vậy, lao động sư phạm càng mang ý nghĩa đặc biệt, càng trở nên
cao quý. Đối tượng này có những đặc điểm: HS không chỉ chịu ảnh hưởng tác động
của GV mà còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như gia đình, bạn bè, môi
trường xã hội… nên lao động sư phạm có nhiệm vụ điều chỉnh mọi tác động đó,
làm cho chúng mang tính giáo dục. HS (đối tượng của lao động sư phạm) phát triển
14
không theo tỷ lệ thuận với tác động sư phạm mà theo những quy luật của sự hình
thành con người, tâm lý, nhận thức
Trong lao động sư phạm, người GV là chủ thể, người HS là khách thể (đối
tượng). Song người HS không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể của lao động sư
Giáo viên có những quyền hạn sau đây:
Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo; được nhà trường tạo điều kiện để
giảng dạy và giáo dục HS;
Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ;
Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo
dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện đảm bảo thực hiện đầy đủ
nhiệm vụ nơi mình công tác;
Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự ;
Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ Luật Lao
động.
Các quyền khác theo quy định của pháp luật[16].
Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức
khỏe theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường;
Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành;[7].
Phẩm chất và năng lực của giáo viên
* Phẩm chất của giáo viên
Người GV là hình mẫu, là tấm gương sáng để HS học tập và noi theo vì vậy
mà người GV cần phải có đầy đủ các phẩm chất cơ bản như phẩm chất đạo đức,
phẩm chất chính trị tư tưởng, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất
đạo đức nghề nghiệp dạy học. Trong quá trình dạy học và giáo dục HS, người GV
hình thành ở các em lòng yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những phẩm chất
đạo đức cách mạng, những nét tính cách tốt đẹp. Công tác giáo dục không thể chỉ
tiến hành trong những giờ nhất định, mà nó phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi,
trong mọi vấn đề, thông qua những hành vi của GV. Nếu không có sự tu dưỡng
thường xuyên, không có sự trưởng thành về mặt đạo đức, chính trị, tư tưởng, không
có sự hoàn thiện về nhân cách, không có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm
hàng ngày của GV, thì công tác giáo dục không thể đem lại kết quả tốt, GV không
GV còn phải có kiến thức về tâm lý học, giáo dục học, logic học. Nắm được
những tri thức về phương pháp giáo dục, dạy học, kiểm tra đánh giá, quản lý giáo
dục và phải luôn cập nhật những thông tin mới, những thành tựu của lĩnh vực này.
17
Có kiến thức về những vấn đề kinh tế- xã hội của đất nước và của địa phương;
hiểu biết phong tục tập quán, ngôn ngữ và đời sống cộng đồng của địa phương nơi
trường đóng; Nắm được các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật
pháp của Nhà nước và của ngành Giáo dục.
Ngoài ra, người GV cần phải có kiến thức về công nghệ thông tin, nền kinh tế
tri thức, mục tiêu giáo dục ở thế kỷ 21, mục tiêu kế hoạch đào tạo của bậc học mà
mình gảng dạy. Kiến thức về lập kế hoạch dạy học, soạn giáo án, tổ chức các hoạt
động giáo dục cho HS, sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học trên lớp và
kiến thức, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, tham gia các hội thảo khoa học nhằm
không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi
mới của sự nghiệp phát triển giáo dục.
Kỹ năng sư phạm
GV phải có các kỹ năng sư phạm gồm: Kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo dục, kỹ
năng tổ chức, kỹ năng phối hợp với cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục trong
xã hội.GV có kỹ năng chuẩn bị bài trên lớp: Xác định được mục đích, yêu cầu và
những nội dung cơ bản của bài học; dự kiến các phương pháp, phương tiện dạy học
sẽ sử dung trong dạy học, phân bố thời gian theo các khâu, các bước của giờ lên lớp
và soạn giáo án một cách hợp lý, khoa học; Người GV trong quá trình dạy học luôn
giữ vai trò chủ động theo quy trình khoa học; Ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc, phù hợp
với trình độ nhận thức của HS. GV phải biết đặt câu hỏi và duy trì không khí hứng
thú tích cực học tập của HS; Sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học đặc
biệt là ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và dạy học, tự làm các
thiết bị dạy học, nắm được cách thức, tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
HS, lập hồ sơ giảng dạy của bản thân và tích lũy tư liệu giảng dạy, biết xây dựng hồ
sơ theo dõi quá trình học tập của HS để thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho
cha mẹ HS.
thể nào đó” [23, tr 387]. Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác
động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ hống, một quá trình, một trạng thái nhất
định tựu trưng lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích hợp,
càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra. Tuy
nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận
và thực tiễn đáng tin cậy.
1.2.6. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THCS là những cách thức tác
động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng trong đội ngũ GVTHCS
19
1.2.7. Chất lượng
Chất lượng là một khái niệm rất trìu tượng, đa chiều, đa nghĩa, được xem xét
từ nhiều bình diện khác nhau. Chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một
con người, sự vật, hiện tượng” [23, tr 387]
Mặc dầu chất lượng là “cái” tạo ra phẩm chất, giá trị, song khi phán xét về
chất lượng thì phải căn cứ vào phẩm chất, giá trị do nó tạo ra. Đó cũng là cơ sở
khoa học rất quan trọng cho việc “đo” chất lượng.
Một định nghĩa khác “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [14, tr 7-12]
(mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng, các mục đích ,
còn sự phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong muốn của những người quan
tâm, là đạt được hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra ). Tuy nhiên ý nghĩa thực tế của
định nghĩa trên là ở chổ xem xét chất lượng chính là xem xét sự phù hợp với mục tiêu.
1.2.8. Chất lượng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở
Chất lượng GVTHCS về bản chất là năng lực nghề nghiệp và phẩm chất nhân
cách của họ, chứ không phải đơn thuần là sự phù hợp với mục tiêu.
Theo định nghĩa chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con
người, sự vật, hiện tượng” và định nghĩa chất lượng là “Tập hợp các đặc tính của
một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những
nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn (TCVN-ISO 8402) thì chất lượng GVTHCS
được thể hiện ở phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị và năng lực sư phạm của
năng giúp người giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ và nâng cao tay nghề của mình.
Muốn khảo sát chất lượng giáo viên, chúng ta phải căn vào chuẩn trên để xây
dựng bộ tiêu chí đánh giá.
1.3. Trường PTDTBT THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường PTDTBT được tổ chức và hoạt động theo quy định của Điều lệ
trường tiểu học, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học.
Trường PTDTBT là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con
em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán
bộ cho các vùng này.
Học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do
không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày
21