Nghiên Cứu Đặc Điểm Bệnh Lý Và Lâm Sàng Bệnh Do Loài Tiên Mao Trùng Phân Lập Từ Trâu Của Tỉnh Tuyên Quang Trên Chuột Và Ngựa Thí Nghiệm - Pdf 35

I

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU THUỶ

Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH
DO LOÀI TIÊN MAO TRÙNG PHÂN LẬP TỪ TRÂU CỦA TỈNH
TUYÊN QUANG TRÊN CHUỘT VÀ NGỰA THÍ NGHIỆM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Lớp
Khóa học

: Chính quy
: Thú y
: Chăn nuôi thú y
: 41 - TY
: 2009 - 2013

Thái Nguyên - 2013


I


LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một bác sỹ thú y tương lai, ngoài việc phải trang bị cho
mình những kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn
thực tập thử thách về thực tế. Chính vì vây thực tập tốt nghiệp là một khâu
quan trọng đối với các trường đại học nói chung và trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng
cố và hệ thống lại kiến thức đã học trong nhà trường đồng thời giúp sinh viên
làm quen với thực tế sản xuất, rèn luyện, nâng cao tay nghề, tích lũy kinh
nghiệm chuyên môn, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất
góp phần vào sự phát triển của nền nông nghiệp của nước ta.
Thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian để mỗi sinh viên tự rèn luyện, tu
dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết về xã hội để
khi ra trường sẽ trở thành những cán bộ kỹ thuật vừa có trình độ chuyên môn
vừa có năng lực để công tác.
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự phân công
và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo hướng dẫn, tôi đã tiến hành thí
nghiệm đề tài "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài
tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang trên chuột và
ngựa thí nghiệm".
Đến nay thời gian thực tập đã kết thúc và khóa luận tốt nghiệp của tôi
đã hoàn thành. Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn và kinh
nghiệm còn hạn chế nên kết quả của báo cáo khóa luận này không tránh khỏi
những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy,
cô và bạn bè đồng nghiệp để khóa luận của em được đầy đủ và hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Thủy

: Variable Antigen Type


IV

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Kết quả định danh loài mao trùng ở trâu tại tỉnh Tuyên Quang ..... 41
Bảng 4.2. Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm ... 44
Bảng 4.3. Tần xuất xuất hiện T. evansi trong máu chuột gây nhiễm.............. 45
Bảng 4.4. Triệu chứng lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm ................................ 46
Bảng 4.5. Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T. evansi ................ 47
Bảng 4.6. Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do
gây nhiễm ........................................................................................ 48
Bảng 4.7. Khả năng gây bệnh của T. evansi trên ngựa gây nhiễm ................. 50
Bảng 4.8. Diễn biến thân nhiệt của ngựa gây nhiễm ...................................... 51
Bảng 4.9. Một số triệu chứng lâm sàng ở ngựa gây nhiễm ............................ 54
Bảng 4.10. Sự thay đổi một số chỉ tiêu máu của ngựa gây nhiễm .................. 55
Bảng 4.11. Bệnh tích đại thể của ngựa bị bệnh tiên mao trùng do
gây nhiễm ........................................................................................ 57


V

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cấu tạo cơ bản của T. evansi............................................................. 5
Hình 4.1. Hình ảnh gen Rotat 1.2 của loài tiên mao trùng ở Tuyên Quang ... 42
Hình 4.2. Trình tự gen Rotat 1.2 của tiên mao trùng ở Tuyên Quang ............ 43
Hình 4.3: Đồ thị diễn biến thân nhiệt ngựa gây nhiễm số 1 sau 3 tuần

2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý ............................................................................... 13
2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa....... 14
2.1.3.3. Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng..................................................... 16
2.1.4. Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ....................................... 17
2.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng ........................................................................... 17
2.1.4.2. Chuẩn đoán thí nghiệm ...................................................................... 18
2.1.5. Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa ................................. 23
2.1.5.1. Phòng bệnh ......................................................................................... 24
2.1.5.2. Điều trị bệnh ....................................................................................... 26
2.2. Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng .................................................. 27
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 27


VII

2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ...................................................... 29
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 33
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ............................................................. 33
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 33
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................... 33
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 35
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 35
3.2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 35
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 35
3.3.1. Định loại tiên mao trùng ký sinh trên trâu của tỉnh Tuyên Quang ....... 35
3.3.2. Khả năng gây bệnh của T. evansi trên chuột bạch ................................ 35
3.3.3. Đặc tính gây bệnh của T. evansi trên ngựa gây nhiễm ......................... 35
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 36
3.4.1. Phương pháp định loại tiên mao trùng phân lập từ trâu bệnh ở

4.3.5. Bệnh tích đại thể của ngựa gây nhiễm .................................................. 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ......................................... 58
5.1. Kết luận .................................................................................................... 58
5.2. Tồn tại....................................................................................................... 59
5.3. Đề nghị ..................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 60
I. Tài liệu tiếng Việt ........................................................................................ 60
II. Tài liệu tiếng Anh ....................................................................................... 63


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội theo hướng hội nhập khu vực
và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng chiếm
vị trí hết sức quan trọng. Chăn nuôi trâu, bò cung cấp thịt, sữa có giá trị dinh
dưỡng cao cho con người, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến, cung cấp nguồn phân hữu cơ lớn cho ngàng trồng trọt
Muốn phát triển chăn nuôi, song song với làm tốt công tác giống, công
tác chăm sóc nuôi dưỡng, cần phải làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh. Khí
hậu nước ta nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển. Hiện
nay, một số bệnh do vi khuẩn, virus cơ bản đã được ngăn chặn bằng cách tiêm
phòng định kỳ các loại vacxin có chất lượng cao, nhưng các bệnh ký sinh
trùng vẫn lưu hành đang gây tác hại âm ỉ và lâu dài. Trong đó phải kể đến
bệnh tiên mao trùng - một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm trên đàn trâu bò.
Bệnh tiên mao trùng là bệnh truyền lây giữa người và gia súc do ký
sinh trùng đơn bào (Protozoa), lớp trùng roi (Flagellata) gây ra. Có nhiều loài
thuộc giống Trypanosoma, như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma cruzi,

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý và
lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu bệnh tại tỉnh Tuyên
Quang trên cả chuột và ngựa gây nhiễm, là tiền đề cho các nghiên cứu sâu
hơn về bệnh.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh và khuyến
cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh tiên mao trùng; nhằm hạn
chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra; góp phần nâng cao
năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
2.1.1.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại
động vật học
Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997)
[8], vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào
(Protozoa) như sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964

Phạm Sỹ Lăng (1982) [17], cho biết: T. evansi thuộc giống
Trypanosoma Gruby. (1843), là những tiên mao trùng có hình suốt chỉ thon,
mảnh, hai đầu thót tròn hoặc nhọn. Thân là một khối nguyên sinh chất, giữa
có một nhân, cuối thân có một thể cơ động (kinetoblast), hay còn gọi là hạch
cơ động. Từ thể cơ động hoặc gần thể cơ động xuất hiện một roi đính vào
thân, chạy dọc lên phía trước tạo thành màng rung động nhiều nếp gấp do có
một đoạn tự do ở phía trước.
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11],
Trypanosoma evansi là loại ký sinh trùng ký sinh ngoài hồng cầu, có hình
thoi, dài 18 - 34µm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi
T. evansi khoảng 1,5µm. Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung
động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu tạo thành roi tự do. Nhờ có roi,
màng rung động mà T. evansi chuyển động được trong máu của động vật.
Tiêu bản máu nhuộm giemsa, nguyên sinh chất của T. evansi bắt màu xanh
nhạt, nhân bắt màu hồng. Tiên mao trùng ký sinh trong máu của động vật có
xương sống, được truyền từ động vật này sang động vật khác theo phương
thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi
Stomoxydinae.
Tiên mao trùng T. evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là
một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34µm (trung bình là 25µm),
chiều rộng 1,5 - 2µm. Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân


5

nhọn. Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của
các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu trúc từ ngoài
vào trong được chia thành 3 phần chính:
- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 -15nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp
ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa). Lớp

ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG
65, ISG 75, ISG 100. Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước,
các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997).
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt
VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện
kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng
nguyên biến đổi.
Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins
(1969), đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Cross
(1975), đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là
glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau
(mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử). Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật
chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT
(Variable Antigen Type). Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích
thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng, một con tiên
mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen
của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này.
Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng
biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ.
Tuy nhiên, Van Meirvenne (1975), cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt
của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi
xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ). Theo Hajduc và Vickernlan
(1981), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy


7

ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch. Những quan điểm này là
hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao

8

2.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò
2.1.2.1. Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng có một phạm vi phân bố địa lý cực kỳ rộng, nó được
phát hiện ở vật nuôi trong nhà và các động vật hoang dã. T.evansi phân bố rộng
nhất trong các loài tiên mao trùng gây ra bệnh cho động vật, chúng đã gây bệnh
ở bắc Phi, Trung Đông, dọc theo Ấn Độ Dương tới gần đại lục châu Âu và châu
Á, ở vùng đất mới như Trung và Nam Mỹ cũng đã tìm thấy T. evansi.
Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc
Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải.
Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi “bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,
Yemen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan,
Pakistan.
Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ,
Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine.
Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện
chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ).
Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở
Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia.
Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Ried, 2002
[48]; Losos G. J. 1972 [46]), cho rằng: Bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất là ở
châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái
Lan, Lào, Campuchia, Iran, Philippine.
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác
nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Năm 1911, một ổ dịch làm chết
nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều trường hợp chết tại chuồng ngựa
của công ty Khai thác rừng Hà Nội. Năm 1992 - 1926 ở Nam bộ, ngựa, chó mắc
bệnh tiên mao trùng đã chết hàng trăm con, Phạm Sỹ Lăng (1982) [17].
Trịnh Văn Thịnh (1982) [34], cho biết: năm 1925, bệnh tiên mao trùng

Bò sữa An Phước, Đồng Nai nhiễm T. evansi với tỷ lệ 12,6%.
2.1.2.2. Vật chủ, vật môi giới truyền bệnh, phương thức lây truyền bệnh tiên
mao trùng
Trypanosoma evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất trong các loài tiên
mao trùng, chúng gây bệnh cho hầu hết các loài gia súc trên thế giới: trâu, bò,
ngựa, chó, mèo, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, lạc đà, voi… Ở các
nước trâu, bò đều nhiễm T. evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm hơn và
thường ở thể mãn tính, mang trùng. Lạc đà thường nhiễm T. evansi ở thể cấp
tính, chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á.


10

Ngoài những động vật bị nhiễm T. evansi tự nhiên, trong phòng thí
nghiệm có thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ như: thỏ,
chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột bạch….
Theo Nguyễn Thị Lim Lan (2012) [15], sự lây truyền tiên mao trùng từ
trâu, bò ốm sang trâu, bò khỏe là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ
Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae). Ruồi và
mòng hút máu của các gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút,
sau đó lại hút máu gia súc khỏe, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ
vòi hút vào máu con vật khỏe. Sự lây truyền này mang tính chất cơ học. Như
vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
quan trọng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1982) [34], cho biết: năm 1949, Brumpt E. đã
tìm ra những loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ Tabanidae
đóng vai trò môi giới truyền bệnh chủ yếu của T. evansi. T.evansi không có
chu kỳ phát triển trong ký chủ trung gian, mà chỉ được truyền theo phương
thức cơ giới. Ngoài ra T. evansi còn có khả năng truyền bệnh nhờ một loại ve,
nhuyễn thể khác.

chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài. Những loài
mòng phổ biến nhất ở tất cả các vùng là: Tabanus rubidus, T. striatus,
Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis.
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T. fumifer,
Chrysops vander. Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở
tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở
những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất
hiện ở những vùng có độ cao dưới 1.000 m), loài Stomoxys indica (chỉ thấy
xuất ở vùng núi Thủy Cầm - Thanh Hóa).
Phan Địch Lân (2004) [21] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai
loài mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và
14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ
12,5%. Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng
hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu từ vòi hút ruồi và
mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất
là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34, trung bình là 24 giờ. Sự hoạt động của tiên
mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng
ngừng hoạt động.
Hoạt động của mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền
bệnh của chúng. Trong một ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du,


12

đồng bằng giống nhau xuất hiện lúc 6 - 8 giờ, nhiều nhất 12 - 14 giờ, ít dần, mất
đi 16 - 18 giờ. Ở miền núi Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 - 10 giờ, 17 - 18 giờ,
vào 10 - 14 giờ xuất hiện ít.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời
gian: từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ tiên mao
trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53

trâu, bò, dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò
nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn
nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu bò bị
đổ ngã hàng loạt. Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi tiếp xúc
với nước cất, cồn và thuốc sát trùng.
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh tiên mao trùng
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò, ngựa,
tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da. Ta có thể quan sát
được phản ứng viêm ở da qua thỏ, dê, cừu và bò gây nhiễm thực nghiệm tiên
mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên mao trùng được
tiêm truyền, một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển tại chỗ viêm này.
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong
bạch huyết và ở trong các mô khác nhau của cơ thể vật chủ theo cách phân chia
theo chiều dọc. Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như
nhau. Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng tiên mao trùng
cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu.
Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong
máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng. Mỗi đợt tiên mao trùng
tăng lên trong máu là sự biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có
tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại
một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng.
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các
chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm
thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản. Ở súc vật bị bệnh,
trong 1ml máu có thể có 10.000 - 30.000 tiên mao trùng. Với số lượng nhiều
như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật mắc
bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả
năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác.
Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin,

Trâu bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân
sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và
nhai lại cho đến khi sắp chết.
- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể
như ở 4 chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục.
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu,
bò bệnh. Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ
ngầu. Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (cùi nhãn) kéo che kín giác mạc.


15

- Hội chứng tiêu hóa: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng,
màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy tiếp
theo những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai
dẳng và con vật vẫn ăn được. Có khoảng 30% trâu, bò bệnh thể hiện viêm
ruột, ỉa chảy kéo dài sau cơn sốt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [14].
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ
sau 7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu bệnh
kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc
mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng
cày kéo và sinh sản. Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu,
bò dễ chết. Trong thực tế có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khỏe, làm
việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
Ở nước ta năm 1972, Phạm Sỹ Lăng [16] cũng đã phát hiện thấy trâu bị
bệnh cấp tính rất nặng, sốt cao, bỏ ăn, điên loạn và chết nhanh. Trâu nhiễm
bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm
giác mạc, phù thũng ở bụng, chân sau và chết do kiệt sức.
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T. evansi gây ra. Theo
Silva Ram và cs (1995), Smith R. D. (1995), số lượng hồng cầu và hàm lượng

- Khó thở ở ngày 26 - 52.
- Phân nhão ở ngày 15 - 30.
* Ở ngựa
Sau khi ruồi, mòng hút máu và truyền tiên mao trùng, ngựa phát bệnh
sau 1 - 2 tuần. Triệu chứng rõ nhất là ngựa sốt 40 - 410C, sốt gián đoạn, khi
sốt có tiên mao trùng ở máu ngoại vi. Khi bị bệnh nặng, ngựa thường sốt cao
đột ngột, các triệu chứng khác chưa kịp thể hiện thì con vật đã lăn lộn điên
cuồng rồi chết. Thể bệnh cấp tính diễn ra khoảng 1 - 3 tuần, thể mãn tính kéo
dài 2 - 4 tháng (tuy nhiên thể mãn tính thường ít gặp).
Hiện tượng thủy thũng xuất hiện ở vùng thấp của cơ thể (ngực, bụng,
âm hộ, vú) sau 1 - 2 tuần kể từ khi phát bệnh. Ngựa đi đứng siêu vẹo, gầy sút
rất nhanh, ăn kém, da khô, lông dựng, bốn chân run rẩy, hay nằm, dần dần liệt
chân, nằm một chỗ rồi chết.
Một số tác giả quan sát triệu chứng lâm sàng ngựa nhiễm bệnh tiên mao
trùng cho biết: ở ngựa, bệnh thường biểu hiện ở cấp tính, rất nặng so với trâu,
bò: sốt cao, phù thũng ở dịch hoàn, trước ngực, chân bị bại liệt nặng, nhưng
vẫn ăn đến khi chết.
2.1.3.3. Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng
Trypanosoma evansi ký sinh trong máu gây cho gia súc một thể bệnh
toàn thân. Trong quá trình ký sinh, T. evansi lấy các chất dinh dưỡng trong



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status