ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HÀ THU
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH DO LOÀI
TIÊN MAO TRÙNG PHÂN LẬP TỪ TRÂU CỦA TỈNH TUYÊN QUANG
GÂY RA TRÊN CHUỘT VÀ THỎ THÍ NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Phạm Thị Trang
THÁI NGUYÊN - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý từ phía Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn Th.S
Phạm Thị Trang, em tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh
lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên
Quang gây ra trên chuột và thỏ thí nghiệm"
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y,
đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho em trong suốt thời gian học
Bảng 4.4:
Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm ........ 40
Bảng 4.5:
Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch
gây nhiễm ................................................................................... 41
Bảng 4.6:
Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm................................ 43
Bảng 4.7:
Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T. evansi ............ 45
Bảng 4.8:
Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do
gây nhiễm ................................................................................... 46
iii
DANH MỤC CÁC KÝ TỰ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CATT: Card Agglutination Test of Trypanosomiasis
cs: Cộng sự
ELISA: Enzym Linked Immunosorbent Asay
2.1.4. Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ................................... 17
2.1.5. Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa ............................. 21
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 26
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................... 26
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................... 28
Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................... 31
3.1. Đối tượng, phạm vi, vật liệu nghiên cứu ................................................. 31
3.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................... 31
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................ 31
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 31
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu .......................................................................... 31
3.2.2. Thời gian nghiên cứu ......................................................................... 32
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 32
v
3.3.1. Xác định khả năng gây bệnh của loài tiên mao trùng đã phân
lập trên thỏ ................................................................................................... 32
3.3.2. Xác định khả năng gây bệnh của loài tiên mao trùng đã phân
lập trên chuột bạch ....................................................................................... 32
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 32
3.4.1. Phương pháp gây nhiễm loài tiên mao trùng đã phân lập từ trâu
của tỉnh Tuyên Quang cho động vật thí nghiệm (thỏ, chuột bạch) ............. 32
3.4.2. Phương pháp kiểm tra máu của động vật thí nghiệm sau
gây nhiễm ................................................................................................... 34
3.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu ................................. 35
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 37
4.1. Nghiên cứu khả năng gây bệnh của loài T. evansi phân lập ở Tuyên
Hiện nay, một số bệnh do vi khuẩn, virus cơ bản đã được ngăn chặn bằng
cách tiêm phòng định kỳ các loại vacxin có chất lượng cao, nhưng các bệnh
ký sinh trùng vẫn lưu hành đang gây tác hại âm ỉ và lâu dài. Trong đó phải
kể đến bệnh tiên mao trùng, đây là một trong những bệnh ký sinh trùng
nguy hiểm trên đàn trâu bò.
Bệnh tiên mao trùng là bệnh truyền lây giữa người và gia súc do ký sinh
trùng đơn bào (Protozoa), lớp trùng roi (Flagellata) gây ra. Có nhiều loài
thuộc giống Trypanosoma, như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma cruzi,
Trypanosoma evansi, Trypanosoma congolense, Trypanosoma gambiense,
Trypanosoma vavax, Trypanosoma siminae…
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [21], Phan Địch Lân và cs (2004)
[24], Phan Văn Chinh (2006) [2], bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng
trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên bò là 7 - 14%,
trong đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc lên tới 6,3 - 20%.
2
Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc bệnh tiên mao trùng ở
gia súc vùng núi và trung du cao hơn vùng đồng bằng và ven biển. Trong khi
đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập
trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du; đây là các vùng có điều kiện
tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở
hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương còn yếu kém;
dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng
hơn và gây thiệt hại lớn hơn.
Để có cơ sở xác định các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do
Trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại tỉnh Tuyên Quang giúp cho công tác
chẩn đoán và phòng, trị bệnh được tốt hơn, góp phần hạn chế những thiệt hại
do bệnh tiên mao trùng cho gia súc chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
2.1.1.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động
vật học
Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [9],
vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa)
như sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài trypanosome (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense
6
- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 -15nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp
ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa). Lớp
vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử Glycoprotein luôn biến đổi (Vanant
Glycoprotein Surface - VGS). Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp
song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng. Theo Hoare (1972) [51];
Phạm Sỹ Lăng (1982) [21]; Nguyễn Quốc Doanh (1999) [7], chính nhờ sự sắp
xếp này của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ.
- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất
bao gồm các nội quan: Ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu
sáng, kinetoplast (thể cơ động), Mitochrondno, Reticulum (lưới nội bào) và
mạng lưới Golgi.
- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng.
Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân,
về phía cuối thân còn có thể Kinetoplast chứa ADN (KADN). Từ Kinetoplast có
một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự
do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cũng giống lớp vỏ của thân. Trong
roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc
chiều dài roi (Hoare, 1972) [51]; (Nguyễn Quốc Doanh, 1999) [7].
Hình 2.1: Cấu tạo cơ bản của T. evansi
7
2.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi.
Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải. Bệnh tiên mao trùng xảy ra
với tên gọi “bệnh Surra” ở Ả rập Saudi, Yemen, Sultanate, Ả Rập thống
nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan. Ở châu Á, bệnh xuất
hiện ở Trung Á thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương,
Trung Quốc, Indonexia, Philippine. Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria
(nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên
Xô cũ). Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến
ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia. Tại Châu Úc cũng đã xác định là có
bệnh tiên mao trùng (Ried, 2002) [58].
Theo Losos G. J. (1972) [53] cho rằng: Bệnh tiên mao trùng phổ biến
nhất là ở châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia,
Thái Lan, Lào, Campuchia, Iran, Philippine.
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác
nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Năm 1911, một ổ dịch làm chết
nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều trường hợp chết tại chuồng ngựa
của công ty Khai thác rừng Hà Nội. Năm 1992 - 1926, ở Nam bộ, ngựa, chó mắc
bệnh tiên mao trùng đã chết hàng trăm con (Phạm Sỹ Lăng, 1972) [20].
Trịnh Văn Thịnh (1982) [38] cho biết: năm 1925, bệnh tiên mao trùng
xảy ra ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai
Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Ninh, Bắc Giang,
Phú Thọ, Yên Bái, Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây, Vĩnh Yên làm
chết 148 ngựa, bò.
Phan Địch Lân (1983) [24] đã điều tra cơ bản về côn trùng thú y tại các
vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc cho biết: trâu, bò ở miền núi, trung du
nhiễm ký sinh trùng đường máu nói chung là cao hơn trâu, bò ở vùng đồng
9
bằng ven biển. Các giống bò ngoại có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu
nghiệm có thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ như: thỏ,
chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột bạch...
Desquesnes M. và cs (2009) [47] cho biết: bệnh do Trypanosoma
evansi là bệnh được truyền từ vật bệnh sang vật khỏe thông qua sự hút máu
của côn trùng môi giới. Vì vậy, mầm bệnh có thể được truyền đi trong
phạm vi không gian rộng lớn.
Theo Nguyễn Thị Lim Lan (2012) [16], sự lây truyền tiên mao trùng
từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khỏe là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ
phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae). Ruồi
và mòng hút máu của các gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào
vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khỏe, trong khi hút máu sẽ truyền tiên
mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khỏe. Sự lây truyền này mang tính
chất cơ học. Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền
bệnh tiên mao trùng quan trọng.
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [21], ở Nam Mỹ, Ligniere, Elmasson, đã
truyền bệnh thực nghiệm thành công bằng cách cho ruồi Stomoxys calcitrans
và xác định khoảng cách ruồi đốt vật ốm sang vật khỏe không quá 24 giờ.
Muzari M.O. và cs (2010) [55] đã nghiên cứu rằng: Mòng Tabanus ở Úc
là một trong những vật môi giới phổ biến truyền bệnh do Trypansoma evansi
ở động vật.
Ở các nước nhiệt đới, người ta còn nghĩ tới khả năng lan truyền của
T.evansi nhờ những loài nhuyễn thể hút máu như: đỉa, vắt.
Phan Địch Lân (1983) [24] cho biết: ở nước ta khí hậu, điều kiện sinh
thái thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ
ruồi Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cư trú, đẻ trứng, cần khí
hậu nóng (160 C - 300C), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai
11
Hoạt động của mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền
bệnh của chúng. Trong một ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du,
đồng bằng giống nhau xuất hiện lúc 6 - 8 giờ, nhiều nhất 12 - 14 giờ, ít dần, mất
đi 16 - 18 giờ. Ở miền núi Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 - 10 giờ, 17 - 18 giờ,
vào 10 - 14 giờ xuất hiện ít.
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau
khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: thời gian từ giờ thứ 1 đến
thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự
như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7
chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và
thời gian chết của chuột cũng dài. Điều này có thể giải thích là do độc lực của
tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh
cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus.
2.1.2.3. Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao
trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu,
giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất.
Phan Địch Lân (2004) [25] đã tổng lợp kết quả điều tra 3172 trâu ở các
tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,1%), trâu 3 - 5
tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%),
trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi.
Theo Phan Văn Chinh (2006) [2], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở
4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm
tuổi (6,92% và 2,31%). Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng
ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9). Thời gian này điều kiện sinh thái
thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, hút máu súc vật
và truyền tiên mao trùng.
14
15 - 30 ngày. Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương
làm rối loạn trung khu điều hòa thân nhiệt , gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt,
lúc hết sốt xen kẽ nhau). Khi sốt thường có rối loại về thần kinh (kêu rống,
run rẩy, ngã vật xuống). Độc tố cũng phá hủy hồng cầu, ức chế cơ quan tạo
máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần. Độc tố còn tác động đến bộ
máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, làm con vật ỉa chảy. Hội chứng tiêu chảy
thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh.
Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các
mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thủy thũng
chất keo vàng dưới da.
2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa
* Ở trâu, bò
Trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu sau:
- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền
tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,70C) kéo dài 2 - 4
ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên. Thời gian gián đoạn giữa
hai cơn sốt dài hay ngắn tùy theo thể trạng con vật. Khi con vật sốt, kiểm tra
máu thường thấy tiên mao trùng.
- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện
triệu chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy
vòng quanh kêu rống lên. Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn
ngược rồi đổ ngã xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng. Sau 20 - 30
phút con vật lại đứng dậy đi lại được. Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng
lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính.
Trâu bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân
sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và
nhai lại cho đến khi sắp chết.
khi có nhiều Trypanosoma evansi ký sinh. Ở Việt Nam, Bùi Quý Huy (1998)
16
[10] đã xác nhận một ổ dịch ở trâu Murrah (Cúc Phương - Ninh Bình) sẩy thai,
thai có tiên mao trùng trong máu. Nguyễn Đăng Khải (1995) [11] cho biết, năm
1987 lần đầu tiên những ca sẩy thai do tiên mao trùng đã được chẩn đoán và ghi
nhận trên đàn trâu Murrah nuôi tại trung tâm Phùng Thượng. Tổng số có 28 con
bị sẩy thai chiếm 46,6% số trâu chửa đẻ. Qua xét nghiệm toàn đàn 34/78 trâu
dương tính với Trypanosoma evansi sau khi đã loại trừ Blucella và Leptospira.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [15], hầu hết trâu, bò sữa bị
bệnh thì suy nhược, mất dần khả năng sinh sản và giảm lượng sữa 30 - 50%,
có thể chết do kiệt sức. Trâu cái bị sẩy thai vào tháng thứ 7 - 8 khi bị bệnh
tiên mao trùng.
Theo Nguyễn Quốc Doanh và cs (1998) [6], các triệu chứng lâm sàng
chủ yếu ở thỏ nhiễm T. evansi gồm:
- Thủy thũng tai (tai cụp xuống) ở ngày 25 - 52.
- Thủy thũng ở bẹn ở ngày 25 - 36.
- Thủy thũng mi mắt (mắt có nhử) ngày 26 - 52.
- Khó thở ở ngày 26 - 52.
- Phân nhão ở ngày 15 - 30.
2.1.3.3. Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng
Trypanosoma evansi ký sinh trong máu gây cho gia súc một thể bệnh
toàn thân. Trong quá trình ký sinh, T. evansi lấy các chất dinh dưỡng trong
máu, thải ra các chất cặn bã, các chất này là độ c tố cho cơ thể. Khi T. evansi
chết đi thì xác chết của chúng cũng là chất độc. Những chất độc do T. evansi
thải ra các tác giả gọi là Trypanotoxin. Độc tố theo máu đi khắp cơ thể, tác
động lên các nội quan của vật bệnh, gây ra một số bệnh tích đặc biệt.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], con vật mắc bệnh tiên mao trùng
ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được. Đối với gia súc mắc bệnh ở thể
cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần
kinh (điên loạn) và chết nhanh. Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng:
18
sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm phúc mạc, phù thũng ở bụng
và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [21]. Triệu chứng sẩy
thai cũng có thể thấy ở trâu cái có chửa ở tháng thứ 7 - 8 bị bệnh tiên mao
trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [15].
2.1.4.2. Chuẩn đoán thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí
nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc. Tùy điều
kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương
pháp phù hợp và có độ chính xác cao.
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương
pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T. evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi; vì
vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi. Cho một giọt máu nhỏ lên phiến
kính đã có sẵn 1 giọt nước muối sinh lý, đậy la men lên để máu dàn theo la
men thành một lớp mỏng. Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40) để
phát hiện tiên mao trùng sống.
* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng
dụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam. Phương pháp này
có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi
nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm. Song, nhược điểm của
TUAF - CATT để đánh giá tình hình nhiễm Trypannosoma evansi trên 1570
mẫu máu/huyết thanh trâu, bò, dê và ngựa tại 4 tỉnh Thái Nguyên, Lai Châu,
Lạng Sơn và Hòa Bình trong năm 2013 và 2014 cho thấy: tỷ lệ dương tính huyết
thanh học đối với đàn gia súc các địa phương đã khảo sát là 20% (2 tỉnh Thái