BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2013-2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2020 - Pdf 35

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN KIÊN
GIANG GIAI ĐOẠN 2013-2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2020

1


Lời nói đầu
Kế hoạch hành động khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) Kiên Giang được xây dựng theo kế
hoạch của UBND tỉnh Kiên Giang và Ban quản lý khu Dự trữ sinh quyển nhằm điều phối và
lập kế hoạch triển khai các hoạt động trong khu DTSQ một cách tốt hơn và đảm bảo thực hiện
tốt các chức năng của khu DTSQ theo các tiêu chuẩn của chương trình Con người và Sinh
quyển (MAB) thuộc tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO).
Tài liệu này được Dự án Bảo tồn và Phát triển khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang (GIZ/DFAT)
đã hỗ trợ xây dựng. Bản Kế hoạch hành động được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quản lý khu
DTSQ Kiên Giang từ năm 2006 và đặc biệt là hỗ trợ kỹ thuật của dự án GIZ Kiên Giang.
Kế hoạch hành động khu DTSQ Kiên Giang đề ra chiến lược nhằm qui hoạch tổng hợp
và triển khai cá hoạt động trong khu DTSQ với sự tham gia của các Sở, Ban ngành trong tỉnh,
các Huyện, Thị, Xã, dự án GIZ Kiên Giang, các tổ chức Chính trị xã hội, các tổ chức phi Chính
phủ, cộng đồng Doanh nghiệp và người dân địa phương. Việc huy động được nguồn kinh phí
bền vững và củng cố vị trí pháp lý nhằm quản lý hiệu quả khu DTSQ là rất cần thiết. Kế hoạch
hành động cũng chỉ ra giải pháp nhằm giúp UBND tỉnh Kiên Giang nâng cao nhận thức và
năng lực cho các Sở, Ngành và các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp và cộng đồng địa
phương nhằm huy động và khuyến khích sự tham gia và đóng góp của họ trong quản lý khu
DTSQ Kiên Giang.
Mục tiêu của Kế hoạch hành động là nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học
và các hệ sinh thái, quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên và đưa khu DTSQ Kiên Giang trở
thành nơi mà mọi người dân đều được hưởng lợi và thưởng thức các giá trị môi trường, văn
hóa, danh lam, thắng cảnh và có các hoạt động sinh kế, sản xuất kinh doanh hiệu quả, bền vững
và có trách nhiệm. Tài liệu này nhấn mạnh một số vấn đề chính mà khu DTSQ Kiên Giang
đang phải giải quyết trong thời gian tới như biến đổi khí hậu, quản lý ô nhiễm, việc bảo vệ và

1.8. Vấn đề qui hoạch và quản lý............................................................................................ 16
2.1. Quan điểm........................................................................................................................ 17
2.2. Nguyên tắc ....................................................................................................................... 17
2.3. Phương pháp tiếp cận....................................................................................................... 17
2.4. Kế hoạch hành động ........................................................................................................ 17
3.1 Mục tiêu chung ................................................................................................................. 18
3.2 Mục tiêu cụ thể ................................................................................................................ 18
3.2.1. Giai đoạn 2013-2015 ................................................................................................ 18
3.2.2. Giai đoạn 2016-2020 ................................................................................................ 18
3.2.3. Tầm nhìn sau 2020.................................................................................................... 19
5.1. Nâng cao nhận thức và truyền thông ............................................................................... 24
5.2. Nâng cao Năng lực .......................................................................................................... 24
5.3. Quy hoạch và phối hợp liên ngành .................................................................................. 25
5.4. Chiến lược cải thiện sinh kế............................................................................................. 25
5.5. Nghiên cứu và bảo tồn ĐDSH ......................................................................................... 29
Một hệ thống giám sát và đánh giá chi tiết về ĐDSH khu DTSQ Kiên Giang do dự án Kiên
Giang xây dựng (Chu Văn Cường, 2009)................................................................................... 30
5.6. Hợp tác quốc tế ................................................................................................................ 31
5.7. Cơ chế tài chính và ngân sách ......................................................................................... 31
5.8. Giám sát, đánh giá và báo cáo ......................................................................................... 32

3


Danh mục bảng
Bảng 1. Phân vùng quản lý khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang ...........................................................6
Bảng 2. Các mối đe dọa, mục tiêu quản lý và hoạt động ................................................................... 20

Danh sách hình
Hình 1. Bản đồ khu Dự trữ sinh quyển và các khu bảo tồn dự kiến thành lập ..................................... 12

DFAT:

Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc

GTZ:

Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức

GIZ:

Tổ chức Hợp tác phát triển Đức

KH &CN:

Khoa học và Công nghệ

KH&ĐT:

Kế hoạch và Đầu tư

MRC:

Ủy ban sông Mê Kông

NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TN&MT:

Tài nguyên và Môi trường

UBND:


Tổng (ha)

Vùng lõi

23.073

13.862

36.935

Vùng đệm

116.791

55.787

172.578

Vùng chuyển tiếp

189.439

789.152

978.591

Dự án Bảo tồn và Phát triển khu DTSQ Kiên Giang (GIZ Kiên Giang) được thực hiện
từ năm 2008 để hỗ trợ công tác quản lý khu DTSQ với sự đồng tài trợ giữa cơ quan Phát triển
Quốc tế Úc (hiện nay thuộc bộ Ngoại giao và Thương mại Úc) và GTZ (GIZ từ năm 2011). Dự


Khoảng 1.500 loài thực vật có mạch thuộc 150 họ, thuộc 8 bộ;



77 loài thú có vú thuộc 20 họ, thuộc 8 bộ;



222 loài chim thuộc 50 họ, thuộc 11 bộ;



107 loài bò sát và lưỡng cư thuộc 20 họ, thuộc 5 bộ.



700 ha rạn san hô; 1.200 ha thảm cỏ biển, một vài hệ sinh thái ven biển.



Rừng tràm (Melaleuca cajaputi) trên đất than bùn ở VQG U Minh Thượng



Rừng cây họ Dầu ở Phú Quốc (Nguyễn Xuân Đặng, 2009)

Sự đa dạng của các hệ sinh thái mang lại lợi ích thiết thực cho các hoạt động kinh tế
trong khu DTSQ. Phần lớn các khu vực đất liền trong khu Dự trữ bị ngập lũ hàng năm do lũ về
từ thượng nguồn sông MêKong. Điều này tạo ra được sự thích ứng độc đáo của hệ sinh thái

thành quách và cung điện tại Hà Tiên. Từ đây, đất đai được mở rộng đến Rạch Giá và U Minh
để gia nhập mới nước Việt Nam thuộc triều đình nhà Nguyễn ở Huế. Các hoạt động phát triển
sau đó đặc biệt về kinh tế bắt đầu tại vùng U Minh vào năm 1700. Việc khai khẩn theo kiểu
khai phá văn minh dưới thời Pháp thuộc cho đến khi Chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở
Vĩnh Thuận vào năm 1930 và mở ra thời kỳ mới cho người dân cày có ruộng và quyền sử dụng
đất của mình.
U Minh là nơi ẩn cư chính trị của một số quan lại nhà Nguyễn trong thời kỳ Tây Sơn
(1787-1802), tiếp đến lại bị người Pháp xâm chiếm xâm chiếm, kể cả toàn đồng bằng sông
Cửu Long (1859-1867). Sau này, U Minh trở thành căn cứ kháng chiến của các chiến sỹ Cộng
sản trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ (1945-1975). Sau chiến tranh, rất nhiều
cựu chiến binh đã ở lại định cư hoặc chuyển đến sinh sống ở khu vực U Minh. Người Việt và
Hoa đã đến định cư ở khu vực này và trở thành các cộng đồng người chính so với nhóm thiểu
số người Khmer hiện chỉ chiếm khoảng 12 % dân số trong khu DTSQ. Trong thời kỳ đô hộ
của thực dân Pháp đã chứng kiến việc ra đời và phát triển của tầng lớp địa chủ người Việt. Thời
kỳ này việc đào kênh, đắp đê bao được thực hiện bởi bộ Công cộng và công ty đào vét kênh
mương của Pháp. Việc đào đắp kênh, mương dẫn đến đất than bùn bị phơi nhiễm. Cháy rừng
trên đất than bùn thường xuyên xảy ra vào mùa khô và đầu mùa xuân làm thay đổi đáng kể các
hệ sinh thái tự nhiên. Rất nhiều kênh mương mới đã hình thành trong nỗ lực bảo tồn đất than
bùn còn sót lại ở khu vực U Minh kể cả việc duy trì mực nước cao và ngập úng để phòng chống
cháy rừng.
Một diện tích khá lớn rừng bị khai thác hoặc mất đi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
đặc biệt là rừng ngập mặn. Điều này dẫn đến việc xói lở bờ biển, ngập úng do nước biển và
xâm nhập mặn tới các vùng đất sản xuất liền kề và làm cho đất bị thoái hóa.
Vĩnh Tế là kênh đầu tiên được xây dựng vào năm 1820 và là ranh giới giữa Việt Nam
và Vương quốc Cao Miên, nay là Căm Pu Chia. Hệ thống kênh rạch chằng chịt trong khu
DTSQ và toàn đồng bằng sông Cửu Long cũng gây khó khăn trong công tác quản lý nước hiện
nay và trong tương lai do mực nước ở các địa điểm là không giống nhau và điều này sẽ dễ dẫn
tới xâm nhập mặn bởi nước biển. Để kiểm soát mặn, một hệ thống kiểm soát mặn tại các kênh
chính đã được thiết kế và xây dựng bởi các kỹ sư Pháp, Hà Lan, Mỹ và Việt Nam, trong khi
việc kiểm soát mặn ở các kênh thứ cấp được giao cho địa phương. Sau năm 1986, Chính phủ

Năm 2010, tỉnh Kiên Giang có 1,7 triệu dân với tỉ lệ tăng dân số là 1,3 /năm. Chỉ
khoảng 27 % dân số sống ở các thành phố, đô thị, còn lại (73 %) sống ở vùng nông thôn. Người
dân tộc thiểu số, phần lớn là người nghèo, chiếm khoảng 13,6 % dân số toàn tỉnh và chủ yếu
sống ở dọc các kênh mương (ADB, 2011).
Phát triển bền vững là nguyên tắc chỉ đạo trong phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Tuy
nhiên việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao (10-12 %/năm) và phụ thuộc vào các ngành sản xuất
cơ bản và khai thác tài nguyên (đất, rừng và nước) trong khi thiếu qui hoạch tổng hợp, có sự
tham gia và chương trình quản lý tốt sẽ là một thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn và khai
thác bền vững tài nguyên thiên nhiên trong tỉnh. Đây sẽ là rủi ro cao và gây tổn thất về sản xuất
và sinh kế bền vững trong tương lai đối với sản xuất và sinh kế (Chu Văn Cường và Dart,
2011). Ngập úng và xâm nhập mặn do tác động của BĐKH sẽ là rủi ro lớn nhất đối với sản xuất
nông nghiệp và sinh kế của người dân ở các huyện ven biển ở Kiên Giang (ADB, 2011).
Nông nghiệp là ngành kinh tế lớn nhất, chiếm khoảng 42 % GDP toàn tỉnh (ADB,
2011). Kiên Giang là tỉnh sản xuất lúa lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 4,3 triệu
tấn lương thực vào năm 2012 (UBND tỉnh Kiên Giang, 2013) với sự cơ giới hóa cao. Tuy
nhiên, việc tăng lượng mưa trong mùa nưa do tác động của Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng nguy
9


cơ ngập úng. Xâm nhập mặn cũng đang ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp tại các khu vực
ven biển của tỉnh trong mùa khô do sự cộng hưởng của lượng mưa giảm và nước biển dâng và
suy giảm lượng nước ngọt từ thượng nguồn sông Mêkong. Ngoài ra việc sử dụng phân bón và
thuốc hóa học nhằm duy trì độ màu mỡ cho đất (do bị giảm phù sa trong những năm gần đây)
cũng đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường như ô nhiễm nước ở các kênh rạch, hệ sinh thái
ven biển và các khu vực ven bờ nơi có các cửa thoát lũ (Sở TN&MT Kiên Giang, 2007).
Kiên Giang cũng là trung tâm sản xuất thủy sản lớn của cả nước và tính bền vững của
ngành kinh tế này đang bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm nguồn nước và bệnh dịch và sự gia tăng số
lượng các tàu đánh bắt cá cũng sẽ làm trữ lượng cá và thủy sản tự nhiên giảm đi (Chu Văn
Cường và Dart, 2011).
Vùng biển Kiên Giang đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành khai



Phú Quốc, khô cá Sặc Rằn, nước mắm Phú Quốc và mật ong U Minh, v.v. (Lương Thanh Hải,
2012).
1.4. Du lịch
Khu DTSQ Kiên Giang rất đa dạng về yếu tố tự nhiên, văn hóa và có giá trị để thu hút
khách du lịch trong nước và quốc tế. Sự hấp dẫn này cùng với các thị trường du lịch liền kề
hiện nay ở Việt Nam và các điểm du lịch khác trong vùng Đông Nam Á. Đây là cơ hội để Kiên
Giang phát triển các sản phẩm du lịch và hình ảnh du lịch có chất lượng khác biệt với các điểm
du lịch khác ở khu vực Đông Nam Á (Carter, 2013a). Du lịch đang tăng trưởng, đặc biệt là tại
đảo Phú Quốc và chính phủ đang có kế hoạch phát triển ngành kinh tế mũi nhọn này phục vụ
phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc này sẽ làm tăng áp lực và rủi ro đến tài nguyên rừng và
ĐDSH do việc phát triển đường xá, hạ tầng. Hiện tại có ít hoạt động du lịch sinh thái trong khu
DTSQ mặc cho là có khoảng 3 triệu khách đến Kiên Giang mỗi năm, nhưng tỉnh có tiềm năng
lớn để phát triển du lịch sinh thái dựa vào các VQG, đầm Đông Hồ, đồng cỏ Bàng Phú Mỹ và
các khu rừng ngập mặn và rừng tràm. Tầm nhìn phát triển du lịch trong kế hoạch quản lý du
lịch đã được BQLkhu DTSQ Kiên Giang thông qua (Carter, 2013a).
Những tiềm năng du lịch của Kiên Giang sẽ giúp:
• Tạo sinh kế cho người dân địa phương và cải thiện cuộc sống cộng đồng thông qua các
hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng công cộng.
• Khuyến khích bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ tính nguyên vẹn của môi trường và làm phong
phú thêm nền văn hóa và phong tục địa phương.
• Hỗ trợ tốt hơn cho công tác bảo tồn thiên nhiên và văn hóa của các địa điểm thông qua
tăng cường nhận thức về môi trường và văn hóa, mối quan tâm và cam kết thông qua sự
hiểu biết và trân trọng hơn.
• Thúc đẩy các trải nghiệm và đánh giá về giá trị tự nhiên và văn hóa ở Kiên Giang
• Mang lại những lợi ích của du lịch (ngoại hối và cơ hội việc làm), đồng thời giảm thiểu
tác động tiêu cực về môi trường và xã hội.
• Tăng cường sự hiểu biết giữa các nền văn hóa du lịch cộng đồng địa phương thông qua
sự tương tác xã hội.

Việc xây dựng bản đồ về hiện trạng bờ biển bằng phương pháp mới kết hợp giữa ảnh vệ
tinh và phương pháp ghi hình hiện trạng bờ biển đã được áp dụng lần đầu tiên tại khu DTSQ
12


Kiên Giang. Kết quả lập bản đồ cho thấy phần lớn bờ biển Kiên Giang đang bị xói lở và các
khu vực ưu tiên phục hồi rừng ngập mặn và bờ biển (Duke và cộng sự, 2010; Russell và cộng
sự, 2013).
Năm 2013, VQG U Minh Thượng được công nhận là Vườn di sản Đông Nam Á. Đây là
sự ghi nhận giá trị ĐDSH và quản lý bền vững đất than bùn ở trong vườn, đặc biệt là sau khi
bắt đầu chương trình quản lý nước cải tiến nhằm phục hồi ĐDSH từ năm 2010.
1.6. Các hoạt động hỗ trợ chức năng khu DTSQ
Các nghiên cứu về rừng ngập mặn cho thấy có 27 loài cây ngập mặn phân bố trong khu
Dự trữ, chiếm 69 % số loài được tìm thấy ở Việt Nam (Duke và cộng sự, 2010). Biện pháp kỹ
thuật mới về bảo vệ rừng ngập mặn và hỗ trợ việc trồng và tái sinh tự nhiên rừng ngập mặn
được triển khai rất thành công ở Vàm Rầy, Hòn Đất và đang được áp dụng cho những nơi khác
như ở huyện An Minh (Chu Văn Cường và Brown, 2012). Việc bảo vệ và phục hồi rừng ngập
mặn sẽ làm tăng tính ĐDSH và mở rộng danh mục các loài cây ngập mặn sử dụng trong trồng
rừng và phục hồi rừng. Các loài cây ngập mặn có giá trị cao như Su ổi (Xylocarpus granatum)
đã được trồng thử nghiệm nhằm mục đích tạo thu nhập trong khu vực rừng phòng hộ đang thực
hiện chính sách 7:3 ở An Minh và Hòn Đất (xem chi tiết trong mục 5.4). Các BQL rừng phòng
hộ thuộc sở NN& PTNT Kiên Giang đã tập huấn cho người dân địa phương về việc xây dựng
hàng rào bảo vệ bờ biển và trồng rừng.
Việc xây dựng nhà máy chế biến gỗ ghép thanh (MDF) ở Kiên Giang sẽ cần khoảng
thêm 30.000 ha rừng tràm (Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, 2012) và đây sẽ là cơ hội
nhằm tăng đáng kể diện tích rừng trồng trong khu DTSQ.
Một kế hoạch quản lý nước cải tiến cho VQG U Minh Thượng đã được xây dựng sau
hội thảo quốc gia năm 2009 (Chu Văn Cường và cộng sự, 2011). Kế hoạch bắt đầu được thực
hiện từ 2010 liên quan việc giảm mực nước giữ ở rừng, trước đó được duy trì ở mức cao để
chống cháy rừng. Rừng tràm đã tái sinh trở lại và quần thể chim nước đã tăng tới 30% (Trần

bảo vệ bờ biển, đến Úc để học về phương pháp nghiên cứu quản lý vùng bờ biển và bảo vệ
rừng, quản lý nước đặc biệt là liên quan đến tính nguyên vẹn vùng ven biển và biến đổi khí hậu,
đến Bazil để tìm hiểu về quản lý rừng ven biển ở VQG và các giải pháp khuyến khích sự tham
gia của cộng đồng.
Một số tài liệu hướng dẫn kỹ thuật đã được xây dựng và tỉnh thông qua gồm:


Quản lý và phục hồi đầm Đông Hồ



Quản lý tổng hợp vùng ven biển tỉnh Kiên Giang



Quản lý và phát triển du lịch bền vững tỉnh Kiên Giang

Các kiến nghị về thiết kế, xây dựng và bảo dưỡng đê ở Kiên Giang cũng đã được tỉnh
thông qua (Heiland và cộng sự, 2013). Rất nhiều tờ rơi, thông tin dự án (22 tài liệu) liên quan
đến quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các nghiên cứu đánh giá ĐDSH ở khu DTSQ
được xuất bản và đăng tải trên website của dự án. Nhiều sinh viên trong nước và quốc tế (Úc,
Đức, Thuỵ Sỹ) đã đến và thực hiện các nghiên cứu hiện trạng và quản lý các nguồn tài nguyên
của khu DTSQ (Dự án GIZ Kiên Giang, 2014).
1.7. Các đe dọa đến tính nguyên vẹn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu DTSQ.
1. Biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất và có tác động lớn lên tính bền vững của khu
Bảo tồn. Cộng đồng cần phải hiểu về các ảnh hưởng này và xây dựng các phương án thích
ứng khi mà phần lớn diện tích đất liền trong khu DTSQ cao hơn mực nước biển chưa tới 1
m và đây những vùng nằm có nguy cơ tiềm tàng bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng (ADB,
2011; Bộ TN&MT, 2012; Ủy ban sông Mê Kông (MRC), 2010). Một vài sự kiện thời tiết
cực đoan đã gây sóng lớn và nước biển tràn qua mặt đê và vùng bờ biển đang bị xói lở đến

một rủi do đến hệ sinh thái ven biển đặc biệt là thảm cỏ biển, một hệ sinh thái rất quan
trọng đối với loài Bò biển và các loài cá, thuỷ sản (BQL Khu bảo tồn biển Phú Quốc,
2009). Số lượng Bò biển đang giảm nhanh khi mà chúng là đối tượng đang bị săn bắt vì
có giá trị cao (Hines và cộng sự, 2008). Lượng Cá ngựa và Đồi mồi cũng đang cạn kiệt do
bị khai thác quá mức (Giles và cộng sự, 2005).
5. Hoạt động săn bắn, buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã như tê tê, bò sát cũng là
mối nguy cơ đe doạ đến sự bền vũng các quần thể này. Cộng đồng địa phương thường
không nhận thức được lợi ích của việc bảo tồn hệ sinh thái mà họ đang sống ở trong và
xung quanh mình (Hamman và cộng sự, 2006; Nguyễn Xuân Đặng, 2009).
6. Ô nhiễm nước trên sông, kênh rạch từ chất thải sinh hoạt và nước lũ cũng gây ra ô nhiễm
vùng ven biển. Hiện tượng tảo độc phát triển mạnh do ô nhiễm nước ở khu vực ven biển
có thể gây bệnh cho con người (ví dụ khu vực cạnh các khu ngh dưỡng ở Phú Quốc). Ô
nhiễm chất thải nhựa, túi ny lông từ các khu vực dân cư và khu vực vực tàu thuyền neo
đậu và làm chết các loài động vật biển. Thuốc trừ sâu và hàm lượng ni tơ, phtố pho trong
15


các kênh rạch và ở đầm Đông Hồ có nguồn gốc từ việc sự dụng quá mức trong sản xuất
nông nghiệp (chủ yếu là sản xuất lúa) gây hại lớn đối với sự phát triển của động, thực vật
biển (Sở TN&MT Kiên Giang, 2007).
7. Cháy rừng ở các VQG và rừng trồng do việc dùng lửa đốt ong lấy mật và đốt cỏ, dọn dẹp
thực bì.
8. Việc lấn chiếm đất trái phép ở các khu vực xung quanh VQG, đặc biệt và khu vực đảo
Phú Quốc.
9. Quy hoạch sử dụng đất cho khu vực dân cư, du lịch và phát triển nông nghiệp trong khu
vực vùng đệm của VQG và khu vực chuyển tiếp khu DTSQ đặc biệt ở Phú Quốc. Điều
này rất quan trọng cho sự phát triển bền vũng các hoạt động du lịch.
10. Sự xuống cấp và mất đi các di sản văn hóa.
1.8. Vấn đề qui hoạch và quản lý
Hiện chưa có kế hoạch quản lý khu DTSQ cũng như phân định ranh giới giữa vùng đệm

2.3. Phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận sinh thái và hướng dẫn SLIQ (Suy nghĩ hệ thống, kế hoạch cảnh
quan, điều phối tổng hợp và kinh tế chất lượng’ của UB Quốc Gia MAB Việt Nam cho các khu
DTSQ của Việt Nam.
2.4. Kế hoạch hành động
Kế hoạch hành động DTSQ Kiên Giang được thực hiện theo các giai đoạn sau:


2013-2015: thực thi các dự án ưu tiên trong danh sách “ Xây dựng kế hoạch quản lý cho
KDTSQ Kiên Giang”



2016-2020: Thực thi các dự án/chương trình khác và thực thi giám sát và đánh giá hiệu quả
các dự án/chương trình trước đó.



Sau 2020: Đánh giá các kết quả đạt được và các hạn chế như là một nhiệm vụ trong đánh
giá hiệu quả quản lý khu DTSQ, xác định các ưu tiên tiếp theo và bổ sung các dự án/chương
trình cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu/dự án/chương trình trong Kế hoạch hành động.

17


3. MỤC TIÊU CỦA KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG
3.1 Mục tiêu chung
Phát triển KDTSQ thành một mô hình phát triển bền vững địa phương góp phần thực
hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2015 và giai đoạn tiếp theo của tỉnh.
3.2 Mục tiêu cụ thể



nguồn: chính phủ, ngành công nghiệp, các tổ chức xã hội và tư nhân, các cơ quan phát triển
quốc tế và các tổ chức phi chính phủ quốc tế.
6. Tăng cường phối hợp và triển khai thoả thuận hợp tác giữa khu DTSQ Kiên Giang và
Kampot về bảo tồn thảm cỏ biển và Bò biển.
3.2.3. Tầm nhìn sau 2020
Thế chế hoá các hoạt động của khu DTSQ như là một chức năng tổ chức cho các hoạt
động mang tính đa ngành trong khu DTSQ gồm khung pháp lý của các quy định và kinh phí
phù hợp từ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Điều này có nghĩa là UBND, các sở,
ngành doanh nghiệp và các cơ quan xã hội công nhận rằng mô hình khu DTSQ được lồng ghép
trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Theo cơ chế và cách vận hành này thì hoạt
động của khu DTSQ sẽ đóng góp vào Chiến lược phát triển bền vững quốc gia (Chương trình
nghị sự 21) và thoả mãn các tiêu chí của Kế hoạch hành động Madrid của UNESCO/MAB. Các
mục tiêu cần đạt được sau năm 2020 là:
1.

Thích ứng với biến đổi khí hậu.

2.

Cân bằng các hệ sinh thái và hỗ trợ cho các dịch vụ môi trường.

3.

Giá trị văn hoá của Kiên Giang sẽ được bảo tồn và lồng ghép vào du lịch và chủ động
hỗ trợ cho các giá trị của KDTSQ và bảo tồn môi trường và xã hội.

4.


triển sẽ gây ảnh hưởng
đến hệ sinh thái trong
khu DTSQ

Qui chế quản lý và kế hoạch
hành động dựa trên việc cân
bằng giữa mục tiêu bảo tồn
và phát triển kinh tế

Thiết lập cơ sở pháp lý cho khu DTSQ với sự tham gia của tỉnh và chính quyền
Trung ương và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức liên quan có thể tham gia
trực tiếp vào quá trình qui hoạch và quản lý.

2

Thiếu kinh phí vận
hành và quản lý khu
DTSQ

Xây dựng cơ chế tài chính
bền vững để vận hành và
quản lý khu DTSQ

i) Làm việc với UBND tỉnh và các sở ban ngành, doanh nghiệp và các hiệp hội
(tổ chức xã hội) để thiết lập cơ chế đồng tài trợ trong quản lý khu DTS
ii) Xây dựng quỹ khởi động (cấp vốn) cho các hoạt động ở KDTSQ và các
hướng dẫn và sử dụng nhãn hiệu khu DTSQ và kêu gọi, vận động tài trợ.

3



Mối đe dọa

Mục tiêu quản lý

Hoạt động cần thiết
phát triển du lịch đặc biệt là trên đảo Phú Quốc và hoạt động chuyển đổi mục
đích sử dụng đất từ rừng sang nuôi trồng thủy sản và trồng trọt (đặc biệt là lúa).

5

Cán bộ cơ quan nhà
nước, doanh nghiệp và
cộng đồng chưa hiểu rõ
về khu DTSQ và các
giá trị mà nó mang lại

Xây dựng và triển khai
chương trình nâng cao nhận
thức và năng lực nhằm
khuyến khích sự tham gia của
các bên liên quan trong khu
DTSQ

i) Xây dựng các chương trình về nhận thức khu DTSQ cho các ngành, huyện
và hội, đoàn thể xã hội để lồng ghép vào kế hoạch tuyên truyền của các ngành
và liên kết các ngành vào BQL khu DSTQ.
ii) Thành lập ban cố vấn với sự tham gia của các bên liên quan (lãnh đạo các
ngành, nhà khoa học, tổ chức, tổ chức phi chính phủ (NGOs), doanh nghiệp, cá
nhân v.v…) để hỗ trợ quản lý KDTSQ như một mô hình quản lý tổng hợp với

Mối đe dọa

Mục tiêu quản lý

7

Chưa tận dụng được các Xây dựng chiến lược, chương
cơ hội hợp tác quốc tế
trình hợp tác phối hợp

8

ĐDSH trong khu DTSQ
đang bị suy thoái và
mất đi do các hoạt động
phát triển chưa phù
hợp. Sinh kế của người
dân đang bị ảnh hưởng
do tài nguyên biển đang
bị cạn kiệt. Khai thác
thủy sản quá mức và
phương pháp đánh bắt
đang ảnh hưởng đến
ĐDSH biể

Mở rộng vùng lõi khu DTSQ
và cải thiện công tác bảot tồn
ĐDSH biển

Biến đổi khí hậu gây


Khu bảo tồn đất ngập nước đầm Đông Hồ nhằm cải thiện chất lượng
nước (xem Carter, 2013b)



Đưa phần diện tích còn lại của VQG Phú Quốc vào vùng lõi của khu
DTSQ
ii) Xây dựng chương trình quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển thông qua việc
nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác và quản lý bền vững trữ lượng cá
và thủy sản.
iii) Tiến hành đánh giá và giám sát trữ lượng đánh bắt
iv) Áp dụng việc khai thác theo hạn mức các hệ sinh thái trong khu DTSQ
i) Chương trình quản lý vùng ven biển phòng chống sạt lở, phục hồi rừng ngập
mặn bằng các hàng rào chắn sóng theo điều kiện lập địa và hiện trạng bờ biển.

22


TT

10

Mối đe dọa

Mục tiêu quản lý

phòng hộ ven biển, xâm
nhập mặn, ngập úng và
chuyển đổi đất phèn

Giang với các khu DTSQ quốc tế (có các điều kiện tự nhiên, cảnh quan tượng
tự Kiên Giang) mà đã thành công trong quản lý.
iii) Tài liệu hóa các bài học, kinh nghiệm và lồng ghép vào kế hoạch học hỏi,
nghiên cứu đa ngành và xây dựng qui trình quản lý thích ứng
iv) Lồng ghép phân vùng qui hoạch sử dụng đất phù hợp với phát triển các cơ
sở hạ tầng và công trình phụ trợ (ví dụ: du lịch ở Phú Quốc)
v) BQL khu DTSQ triển khai các sáng kiến và giải pháp quản lý dựa trên kết
quả nghiên cứu.
vi) Xây dựng hướng dẫn các hoạt động trong khu DTSQ và phương pháp quản
lý cho từng vùng (lõi, đệm và vùng chuyển tiếp)

23


5. HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC
5.1. Nâng cao nhận thức và truyền thông
Đây là một giải pháp quan trọng của Kế hoạch hành động. Việc nâng cao nhận thức cho
cán bộ ở nhiều cấp độ quản lý khác nhau và trong cộng đồng sẽ mang lại hiệu quả và sự thành
công của mô hình khu KDTSQ. Kinh phí tuyên truyền hiện nay đang được sử dụng bởi nhiều
ngành và tổ chức tuy nhiên, cần xây dựng 1 kế hoạch tuyên truyền toàn diện và liên ngành để trao
đổi và sử dụng hiệu quả nguồn lực và đảm bảo hiệu quả KDTSQ. Việc phối hợp các hoạt động
nâng cao nhận thức với sự tham gia của nhiều ngành sẽ nâng cao hiệu quả của chương trình cũng
như tính hiệu quả về kinh phí, thời gian thực hiện, số lượng người tham gia. Giải pháp cho vấn đề
này là các sở, ban ngành liên quan đề cử các cán bộ từ các sở, ngành mình phối hợp với văn phòng
và nhân viên BQL khu DTSQ để xây dựng kế hoạch hoạt động tổng hợp và phối hợp sự đóng góp
từ nhiều lĩnh vực. Theo phương pháp này, một bài trình bày giới thiệu về khu DTSQ (được điều
chỉnh nội dung cho phù hợp với từng đối tượng) sẽ được trình bày cho cán bộ tỉnh, huyện và cộng
đồng tại các cuộc họp, hội thảo và sự kiện có liên quan.
Trao đổi trực tiếp: thông qua các hội nghị chuyên đề, cuộc họp, hội thảo, đào tạo ngắn và dài hạn
cho các nhà quản lý, nhân viên, người dân địa phương.

rõ ràng sẽ giúp hoạt động hiệu quả với sự phối hợp đa ngành.
Một bộ cơ sở dữ liệu chung giữa các ngành sẽ là yếu tố đầu vào quan trọng cho quy hoạch
và phối hợp liên ngành và hoạt động một cách hiệu quả.
5.4. Chiến lược cải thiện sinh kế
5.4.1. Cải thiện sinh kế trong khu vực rừng ngập mặn phòng hộ đang thực hiện cơ chế 7:3 (7
phần rừng: 3 phần thuỷ sản/trồng trọt).
Chính sách 7:3 nhằm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn và cải thiện sinh kế
UBND tỉnh Kiên Giang đang triển khai chính sách trong quản lý và phát triển rừng ngập
mặn ven biển nhằm cân bằng giữa bảo tồn rừng ngập mặn và cải thiện sinh kế. Chương trình thúc
đẩy việc giao đất và rừng ngập mặn cho cá nhân, hộ dân, và tổ chức, nhằm cường bảo tồn rừng
ngập mặn trên phần đất được giao. Theo quyết định 51 năm 2005 (thay thế bằng quyết định
25/2011/QĐ­UBND), còn gọi là chính sách 7:3, BQL rừng sẽ ký hợp đồng lâu dài với các cá nhân
và hộ dân nhằm bảo vệ và sử dụng rừng. Các hộ nhận khoán phải đảm bảo 70% diện tích đất có
rừng che phủ, và được khuyến khích sử dụng 30% đất trống, mặt nước cho hoạt động nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản, và các hoạt động tạo thu nhập khác. Chính sách 7:3 được áp dụng đối
với rừng ngập mặn ven biển.
Cơ chế 7:3 đem lại lợi ích cho người dân địa phương dưới hình thức quyền sử dụng rừng
ngập mặn phòng hộ. Chính sách cũng sẽ cho phép thực hiện hoạt động chi trả dịch vụ môi trường
rừng cho các cá nhân khi áp dụng ở phần 30% diện tích đất giao khoán nhằm cải thiện thêm thu
nhập. Cơ chế này là sự kết hợp các sáng kiến phi tài chính, khuyến khích phát triển kinh tế giới
hạn và có thể tương thích với chính sách chi trả dịch vụ môi trường hiện nay cho cá nhân và là
một giải pháp sáng tạo đối với vấn đề bảo tồn và các chi phí cơ hội từ các hoạt động sử dụng đất
khác. Chính sách này hiện đang thực hiện tại các khu vự ven biển ở tỉnh Kiên Giang. Nếu thành
công nó sẽ tạo nhiều triển vọng cho việc bảo tồn rừng ngập mặn và chi trả dịch vụ môi trường.
Trong năm năm sau khi quyết định số 51/2005, có 490 hộ dân (chiếm 52,5% trong số 932
nhận khoán bảo vệ rừng) đã tham gia thực hiện mô hình. Chính sách đã nhận được sự hỗ trợ mạnh
mẽ từ các BQL rừng, chính quyền và người dân địa phương. Nhiều hộ dân đã tận dụng cơ hội từ
chương trình để đầu tư vào mở rộng nuôi trồng thủy sản, và tăng thu nhập từ nuôi tôm, sò huyết và
cá. Trong khi đó, theo BQL rừng phòng hộ An Minh­An Biên, diện tích rừng cũng đã tăng 20%.
Tuy nhiên, khảo sát của dự án cũng cho thấy người dân địa phương có xu hướng phát triển hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status