LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho em xin phép được gửi lời cám ơn chân thành tới quý thầy
cô khoa Du Lịch trường Đại học Hải Phòng đã cung cấp cho em những nền
tảng kiến thức quý báu để em có thể hoàn thành bài khóa luận một cách tốt
nhất. Đặc biệt là cho phép em xin được gửi lời cám ơn tới:
Giáo viên hướng dẫn Th.s Bùi Thị Hồng Thoa, người đã trực tiếp chỉ
bảo, hướng dẫn em tận tình trong thời gian em làm bài khóa luận này.
Các cô chú, anh chị trong Ủy ban nhân dẫn huyện Kiến Thụy, đặc biệt là
các anh chị, cô chú trong ban quản lý văn hóa huyện Kiến Thụy đã giúp đỡ
em rất nhiều trong quá trình thu thập tài liệu và tiếp cận với thực tế.
Và em xin cám ơn gia đình của em, một mái ấm tình thương đã luôn bên
em, tạo điều kiện, giúp đỡ em trong mọi hoàn cảnh cả về vật chất, thời gian
và tiền bạc để em có thể vững tin thực hiện bài khóa luận của mình một cách
hiệu quả.
Do một số hạn chế bởi kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm chưa có nên
trong bài khóa luận này sẽ không thể tránh khỏi phần thiếu sót, em rất mong
sẽ nhận được những đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn để bài khóa
luận có thể trở nên hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
Người viết
Hoàng Thị Thu Hà
LỜI CAM ĐOAN
Em là Hoàng Thị Thu Hà, sinh viên của lớp Văn Hóa Du Lịch K13, khoa
Du Lịch, trường Đại học Hải Phòng. Em lựa chọn đề tài “Khai thác giá trị
các lễ hội truyền thống huyện Kiến Thụy góp phần phát triển hoạt động du
lịch nhân văn thành phố Hải Phòng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình. Em xin cam đoan bài khóa luận này là công trình nghiên cứu sáng tạo
của riêng em, không sao chép từ bất kỳ công trình nghiên cứu của người khác.
Hải Phòng, tháng 6 năm 2016
lễ hội dân gian truyền thống tại huyện Kiến Thụy bao quát nhiều giá trị văn
1
hóa, giá trị lịch sử, giá trị du lịch. Tuy nhiên, những giá trị trên lại chưa được
địa phương khai thác cho phát triển hoạt động du lịch. Chính vì vậy, việc khai
thác các lễ hội dân gian truyền thống tại huyện Kiến Thụy đối với ngành du
lịch là cơ sở giúp địa phương tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, phát
triển các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bên
cạnh đó góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Kiến
Thụy có nhiều lễ hội nói chung và lễ hội dân gian truyền thống nói riêng. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu của khóa luận người Viết đi vào
tìm hiểu một số lễ hội tiêu biểu tại huyện kiến Thụy như: lễ hội Vật cầu Kim
Sơn, lễ hội Rước lợn ông Bồ và Chạy đá Kỳ Sơn, lễ hội Minh Thề, lễ hội đền
Mõ, lễ hội đình, chùa Văn Hòa. Thông qua các lễ hội trên người viết đi vào
phân tích các giá trị, hiện trạng của việc khai thác giá trị các lễ hội trên gắn
với hoạt động du lịch, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả các
lễ hội trên. Trên đây là lý do để người Viết lựa chọn đề tài “Khai thác giá trị
các lễ hội truyền thống huyện Kiến Thụy góp phần phát triển hoạt động du
lịch nhân văn thành phố Hải Phòng” làm nội dung nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có nhiều tài liệu, công trình khoa học nghiên cứu về huyện
Kiến Thụy tiêu biểu như:
Đề tài “Một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch du khảo đồng
quê tại Kiến Thụy - Hải Phòng”, [7] của sinh viên Lê Thị Hòa, lớp Quản trị
Du lịch, trường Đại học Hải Phòng. Trong đề tài này, tác giả đề cập đến loại
hình du lịch du khảo đồng quê. Tác giả đi vào phân tích những tiềm năng,
hiện trạng, giải pháp nhằm khai thác hiệu quả loại hình du lịch du khảo đồng
quê tại huyện Kiến Thụy.
Đề tài “Tiềm năng và biện pháp phát triển du lịch sinh thái huyện Kiến
trị văn hóa, lịch sử, giá trị tự nhiên của huyện Kiến Thụy gắn với phát triển
hoạt động du lịch. Trong những công trình trên, có những công trình đề cập
đến một số lễ hội tại huyện Kiến Thụy cũng như khai thác nó cho phát triển
du lịch. Song thực tế, huyện Kiến Thụy còn có nhiều lễ hội truyền thống khác,
đặc biệt là việc khai thác hệ thống các lễ hội truyền thống đó vào phát triển
hoạt động du lịch vẫn chưa được các tác giả nghiên cứu. Chính vì vậy, nội
3
dung mà người viết lựa chọn nghiên cứu là vấn đề mới cần được đi vào tìm
hiểu.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu giá trị các lễ hội truyền thống tại huyện Kiến Thụy gắn với
phát triển hoạt động du lịch nhân văn thành phố Hải Phòng.
Phạm vi nghiên cứu
Kiến Thụy có nhiều lễ hội khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nội
dung khóa luận tác giả đi vào nghiên cứu các lễ hội truyền thống: Lễ hội Vật
cầu Kim Sơn, lễ hội Rước lợn ông Bồ, chạy đá Kỳ Sơn, lễ hội đền Mõ, lễ hội
đình và chùa Văn Hòa, lễ hội Minh Thề.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá những giá trị của các lễ hội truyền thống tại huyện Kiến Thụy
trên cơ sở đó góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.
Khai thác giá trị các lễ hội truyền thống tại Kiến Thụy góp phần phát
triển hoạt động du lịch nhân văn của huyện Kiến Thụy nói riêng và của thành
phố Hải Phòng nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích giá trị các lễ hội truyền thống tại huyện Kiến Thụy.
Đánh giá thực trạng việc khai thác các lễ hội truyền thống tại huyện Kiến
Đề tài sẽ góp phần nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết của người dân
trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử các lễ hội truyền
thống của địa phương.
Việc khai thác những giá trị lễ hội truyền thống sẽ góp phần quảng bá về
những giá trị văn hóa độc đáo của địa phương, thu hút khách du lịch đến với
lễ hội, làm cho hoạt động du lịch được phát triển góp phần nâng cao đời sống
nhân dân cũng như thúc đẩy việc giao thoa văn hóa vùng miền.
Đối với các công ty du lịch
Đề tài là cơ sở giúp cho doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn thành phố
Hải Phòng và những doanh nghiệp ngoài thành phố Hải Phòng nhìn nhận,
5
khai thác những giá trị của hệ thống lễ hội truyền thống tại huyện Kiến Thụy,
góp phần phát triển hoạt động du lịch nhân văn của địa phương.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
thì đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát các lễ hội truyền thống tại huyện Kiến Thụy –
Hải Phòng.
Chương 2: Thực trạng khai thác giá trị các lễ hội truyền thống huyện
Kiến Thụy cho phát triển hoạt động du lịch nhân văn Hải Phòng.
Chương 3: Một số đề xuất nhằm khai thác giá trị các lễ hội truyền
thống huyện Kiến Thụy cho phát triển hoạt động du lịch nhân văn thành
phố Hải Phòng.
6
Chương 1
Phần hội
8
Đúng 9 giờ quả cầu biểu tượng được mở ra và hội được bắt đầu. Vật cầu
có 3 hiệp, mỗi hiệp 15 phút. Sau mỗi hiệp vật cầu là thời gian nghỉ giải lao,
trong giờ giải lao có múa cờ, múa rồng xen kẽ. Khi giáp nào thắng cuộc (đưa
được nhiều số lần quả cầu về sân mình nhất), tiếng hò reo lại vang dậy như
sấm. Thể lệ vật cầu như sau: Đội nào mang được quả cầu từ hố cầu cái về hố
cầu quân ở giáp mình thì đội đó chiến thắng.
Trong làng có 24 dòng họ, chia thành ba giáp, mỗi giáp là 8 dòng họ:
Giáp Đượng, giáp Nam và giáp Bắc. Mỗi giáp phải chọn cho mình 6 người
trong đó có một người làm tổng cờ, chỉ huy 5 đô vật hay còn gọi là các giai
cầu. Đô vật là những thanh niên chưa vợ, khỏe mạnh. Tổng cờ mặc võ phục
đầu chít khăn, chân quấn xà cạp, tay cầm cờ đuôi nheo chỉ huy giành giật cầu.
Sới vật cầu trên sân đình có hình con nhạn. Lỗ cầu cái đào ở giữa sân chính
rốn con nhạn. Quả cầu được đặt vào lỗ cái. Sau tiếng trống vang lên cuộc vật
bắt đầu. Vào cuộc, giai cầu nhảy xuống lỗ cầu cái tung lên, quả cầu tròn nhẵn
lại rắn, nặng khó bấu khiến các đội tranh giành rất hào hứng. Kết hội, quả cầu
được ném xuống hồ bán nguyệt trước cửa đình. Người dân tranh nhau tìm
cách vớt cầu vì họ tin rằng nhà nào vớt được quả cầu đem về cho lợn ăn thì
lợn sẽ chóng lớn và tránh được các dịch bệnh.
Lễ hội Vật Cầu Kim Sơn là lễ hội tiêu biểu của cư dân nông nghiệp, nó
tái hiện cuộc sống lao động vất vả và những ước muốn của người dân nông
nghiệp về mùa màng bội thu, chăn nuôi thuận lợi.
1.1.2. Lễ hội Rước lợn ông Bồ và chạy đá Kỳ Sơn
Lễ hội Rước lợn ông Bồ và chạy đá Kỳ Sơn được diễn ra vào ngày mồng 910 tháng Giêng (Âm lịch) tại đình làng Kỳ Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy.
Lễ hội Rước lợn ông Bồ
Ngoài đặc điểm chung là "lễ hội của nông dân", lễ hội Rước lợn ông Bồ
(tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch) còn mang sắc thái địa phương với
cứ 3 năm tổ chức một lần.
Nghi lễ
Theo các bậc cao niên trong làng, lợn sau khi được nuôi trong chuồng
sạch sẽ 1 năm, đến ngày mùng 9 tháng Giêng, chủ lợn mở cửa chuồng để bà
con biết. Lợn được mổ thịt, làm sạch sẽ, đặt trên mâm cho xoãi cả bốn chân,
10
có giấy hồng điều trang trí. Mâm bánh dày được xếp đẹp mắt, cùng mâm ngũ
quả nhiều màu sắc hấp dẫn. Tất cả được đặt lên kiệu rước trong tiếng trống
hội làng và đội âm nhạc. Kỳ Sơn không rước lợn được làm chín vàng cả con
và mâm xôi đầy như thường thấy trong các mâm lễ vật của nhiều lễ hội khác.
Lợn rước nặng cân được mổ thịt và để tươi sống. Những con lợn to, mâm
bánh dày trắng ngần thơm dẻo thể hiện mong ước sự phồn thịnh, năm này,
tháng này được mùa cả trồng trọt lẫn chăn nuôi.
Sau khi rước xong, bánh dày, lộc quả chia cho dân làng thụ hưởng. Còn
“Ông Bồ” được xẻ và chia phần cho mọi thành viên trong giáp họ, thể hiện sự
công bằng.
Phần hội
Ngoài những nghi lễ trên, lễ hội còn quy tụ nhiều trò chơi dân gian đặc
sắc như kéo co, bắt vịt và các màn biểu diễn nghệ thuật dân gian như hát đúm,
chèo, quan họ, ca múa. Những trò chơi tưởng đã mai một theo thời gian vẫn
có sức hấp dẫn mạnh mẽ, tạo sự vui tươi, phấn khởi, hứa hẹn một năm mới
mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm. Người dân làng Kỳ Sơn lại mong chờ đến
lễ hội 3 năm sau.
Người dân Kỳ Sơn luôn trân trọng, gìn giữ và phát huy những lễ hội văn
hóa địa phương, dù có đi xa làm ăn, sinh sống, mỗi ngày hội đến họ trở về
quê hương và tham gia lễ hội truyền thống đặc sắc của làng.
Lễ hội chạy đá Kỳ Sơn
Trước đây lễ hội chạy đá thường mở hội vào ngày mồng 5 tháng Giêng,
quay cuồng ba lần làm nóng trước cái rét cắt da cắt thịt đầu xuân, rồi lao vào
tranh mò tìm đá. Khi vào cuộc chơi chạy ba lần theo tiếng trống để mò tìm đá.
Cuộc thi mò đá diễn ra trong 3 hiệp, mỗi hiệp khoảng 15 phút. Bên nào tìm
được đá phải khéo léo chuyền nhau đưa đá về đình. Đường về đình xa, đá lại
nặng và trời rét nên rất khó trở thành người thắng cuộc. Mặc dù vậy, nhưng
không ai nản chí vì càng chạy đá, họ càng hăng hái. Lễ hội chạy đá được dân
làng Kỳ Sơn khôi phục lại năm 2006. Từ đó đến nay, cách 3 năm, dân làng tổ
chức lễ hội 1 lần. Giáp nào có người giành được và mang đá chạy về đình là
giáp ấy thắng cuộc. Năm lễ hội nào cũng vậy, đến chiều mồng 9 tháng Giêng,
12
khu vực bến Đầm, gần đình làng, dân làng tụ hội rất đông để hò reo, cổ vũ
cho các đội tham gia thi đấu.
Phần kết hội là lễ hoàn đá vào đình và người mò được đá nhận giải
thưởng của làng. Người xưa quan niệm ai mò được đá thì năm ấy gia đình và
dòng họ làm ăn phát tài, phát lộc.
Chạy đá có ý nghĩa rèn luyện tinh thần, khí chất của con người trước sự
khắc nghiệt của thiên nhiên. Phiến đá to nặng, nhẵn, trơn, đòi hỏi người tham
gia có sức khoẻ, sự mưu trí, nên “chạy đá” mang đậm tinh thần thượng võ.
1.1.3 Lễ hội Minh Thề
Lễ hội Minh Thề đươc diễn ra và kéo dài trong ba ngày 14, 15, 16
tháng Giêng hàng năm, nhưng nghi thức “Minh thề” được tổ chức ngay buổi
khai hội. Lễ hội được tổ chức tại chùa Hoà Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến
Thuỵ. Lễ hội là sự kết hợp giữa tín ngưỡng với giáo dục đạo lý nhân cách.
Theo sách cũ, chùa Hòa Liễu được xây dựng từ thế kỷ XIII tại làng Lan
Niểu (nay là thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên). Đến thế kỷ XVI, lễ hội Minh
Thề xuất phát từ năm 1561 khi Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toản (vợ
Thái thượng hoàng Mặc Đăng Dung) đến lập ấp Lan Niểu (nay là thôn Hòa
Liễu), vận động dân làng mở rộng diện tích chùa, làm mới tượng phật. Bà đã
Sau đó làm lễ dâng hương, dâng rượu, dâng nước trong tiếng nhạc bát âm.
Sau khi Tế thần, các bô lão, quan khách và dân làng, chức dịch, quần áo chỉnh
tề tập trung quanh sân miếu theo thứ bậc.
Chủ tế dùng động tác “chỉ trời vạch đất” mô phỏng theo phép biến trong
Kinh dịch rồi vẽ một vòng tròn đường kính 2m ở giữa sân miếu gọi là Đài thề.
Trước Đài thề đặt một bàn thờ hướng về cửa miếu thâm nghiêm. Đứng
trước lễ đường, vị trưởng lễ nhận dao theo phong tục, rồi xoay người một
vòng, cắm mạnh dao xuống đất, thể hiện ý chí cao ngất trời.
Tế thần xong các bô lão, quan khách, dân làng và chức dịch mặc quần áo
chỉnh tề tập trung quanh sân miếu theo thứ bậc. Ba vị đại diện cho hàng ngũ
chức dịch, hội tư văn và bô lão trong làng do ban tổ chức lễ hội và hội đồng
bô lão tuyển chọn bước lên Đài thề làm lễ thắp hương khấn vái trời đất bách
thần. Đại diện tư văn dõng dạc đọc Minh Thề có Hịch văn. Hịch văn rằng:
14
“Chúng tôi gồm những người làm việc công của làng, họp trước đền theo tục
lệ uống máu ăn thề, xin thề các điều sau: Nếu lấy của công làm việc công thì
được các thần linh ủng hộ. Nhược bằng, có lòng tham, lấy của công làm của
tư, nguyện cầu các chư vị thần linh đả tử! Y như lời thề…”, “Trên từ cụ già
đến tuổi 18 ở dân thôn, trong làng vườn tược, buồng cau trái chuối, ngoài
đồng lúa mạ hoa màu, mọi người đều công minh chính trực, không tham lam
vơ vét. Người nào tà tâm trộm cắp của nhau, nguyện cầu thần linh đả tử. Y
như lời thề…”; “Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin trời tru diệt”… Sau
mỗi đoạn của Hịch văn Minh thề, các vị trong đoàn bồi lễ giơ tay biểu lộ
quyết tâm “Xin thề, xin thề!”
Sau khi mọi người cùng hô vang câu “y như lời thề” hoặc “y như miệng
thề”, vị chủ tế cầm dao bầu cắm mạnh xuống trong vòng tròn Đài thề để biểu
thị sự quyết tâm.
Tiếp đến là nghi lễ cắt tiết gà để uống máu ăn thề diễn ra rất cầu kì theo
đồng áng, là khẩu lệnh tác chiến khi giặc dã, hỏa hoạn, trộm cướp,…nên mọi
người gọi công chúa là “Bà chúa Mõ”, rồi tụ tập trai tráng mở vật cầu trời cho
mưa thuận gió hòa, có nước cho nhà nông cấy trồng, mùa màng tươi tốt. Cũng
theo truyền thuyết, một dịp trời hạn hán, có bọn mục đồng vào chùa xin nước,
bà nói: “Các cháu thử cùng nhau thi vật xem được thua thế nào, ta sẽ cho
nước uống…”. Bọn trẻ vâng lời, vờn tay đấu vật, bà cả mừng ban phép,
nghiệm thay trời đô mưa mát mẻ chan hoà khắp vùng, nhân đó đổi tên chùa là
Đồng Mục. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa
về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông đã sắc
phong cho Bà là Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa,
ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập
đền thờ. Đền Mõ có từ đó và được lưu giữ đến ngày nay, bốn mùa hương hoa.
Từ đó, lễ hội đền Mõ được dân làng tổ chức và lưu giữ để tưởng nhớ về công
đức của Bà đối với dân làng.
Nghi lễ
Rạng sáng ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, bà con trong xã cũng như
ngoài xã lại có dịp đổ về tham dự lễ tế tại đền Mõ, dân chúng lại khiêng long
16
đình bát biểu và bài vị của thần thánh, từ trong đền ra trường đảo phơi giữa
thanh thiên bạch nhật. Có người cho rằng, đây cũng chính là tâm nguyện của
bà trước khi về cõi Phật, để thần thánh thấu hiểu được nỗi khổ của dân chúng,
mà xót lòng đoái thương chăng? Lệ tục cầu đảo năm nào cũng bắt đầu vào
ngày đầu tiên của lễ hội đền Mõ, tức ngày 12-2 âm lịch, sau khi rước bài vị
“thánh bà” ra, các cháu trai “đồng tử” tuổi không quá 14, đóng khố để trần,
diễn lại tích “mục đồng xin nước” ngày xưa. Ngoài các lễ chính là rước bách
linh, Thành Hoàng của các làng về chầu đền, diễn lại tục mục đồng vật cầu
đảo, lễ hội còn nhiều hoạt động văn hóa dân gian khác được tổ chức.
Điểm độc đáo trong những ngày diễn ra lễ hội đền Mõ là lễ rước Thành
trình tiêu biểu của làng xã vùng Duyên hải. Trải qua bao đời ông cha ta tu đạo
và gìn giữ từ năm 1578. Thời Lê Hoàng Đinh năm 1600 - 1619 đặc biệt còn
khắc chữ hán vào cây Thạch Trụ đại hiệu Lê Vĩnh Thạnh. Từ năm 1705 –
1729, trong khoảng thời gian này, đình làng được dân làng huy động mọi
người đóng góp công sức, tiền của xây dựng. Ngôi đình được tọa lạc ở khu
đất Tây Nam của làng cũng nằm trong khuôn viên của chùa, diện tích là 18
sào Bắc Bộ. Từ khi có đình, chùa Phả Chiếu, dân làng theo tục lệ hàng năm
có hai kỳ cúng tế Thần Hoàng làng và tục lễ đó được lưu giữ cho tới thời nay.
Nghi lễ
Tiết lệ cúng tế đình làng hàng năm có hai kỳ, ngày 14 tháng 9 cúng cơm
mới, ngày 10 tháng 2 chính kỵ ngài Thành Hoàng. Theo lệ cứ ngày 10 tháng 2
cúng Ngài dân làng mở hội cúng tế 3 ngày (8-9-10 tháng 2). Ngày mồng 8
dân làng từng bừng rước Ngài từ đình Văn Hòa sang đình làng Phương Đôi
cúng lễ. Ngày mồng 9 dân làng lại rước đón Ngài từ đình làng Phương Đôi về
đình làng Văn Hòa để cúng tế (Theo như ý tâm linh dân làng truyền lại Ông
sang đón Bà về). Ngày mồng 10 cúng lễ linh đình có rất nhiều quan khách
chức sắc thập phương về dự.
Phần hội
Ngoài phần lễ dân làng còn mở hội vô cùng đặc sắc như chiếu chèo sân
đình, hát tuồng, hát đúm, sới cờ, sới vật, chọi gà... làm cho lễ hội náo nhiệt
âm vang sống động, nhân dân trong làng vô cùng phấn khởi
18
Trong chùa hiện còn lưu giữ được nhiều di vật cổ là các pho tượng Phật
như tượng Adiđà, Đức ông, Ngọc hoàng thượng đế, tượng Quan âm cùng các
tấm bia ký mang phong cách nghệ thuật thời Mạc, thời Lê cũng như thời
Nguyễn sau này. Năm 1996, chùa Văn Hòa, xã Hữu Bằng đã được Bộ Văn
hoá - Thông tin xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia.
1.2. Giá trị các lễ hội truyền thống huyện Kiến Thụy
Thụy đều gắn liền với các di tích, nên việc tổ chức các lễ hội còn gắn liền với
việc bảo tồn và tôn tạo các di tích mà các lễ hội đó diễn ra. Muốn duy trì các
lễ hội như lễ hội vật cầu Kim Sơn, lễ hội Rước lợn ông Bồ và chạy đá Kỳ
Sơn, lễ hội đình chùa Văn Hòa,… thì cần có địa điểm mang tính chất truyền
thống, đã gắn bó với lễ hội từ ngàn xưa, nơi khởi nguồn lễ hội thì lễ hội mới
được diễn ra và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nói cách khác, ví dụ như
lễ hội vật cầu Kim Sơn mà không được tổ chức ở đình làng Kim Sơn, thì sẽ
không có lễ hội vật cầu Kim Sơn,… Do đó, khi con người trùng tu, lưu giữ
các ngôi đình làng, mái chùa địa phương thì chắc chắn những lễ hội gắn bó
nơi đây sẽ mãi tồn tại cùng thời gian. Duy trì, phát huy giá trị các lễ hội chính
là bảo tồn các cụm, điểm di tích, nơi diễn ra lễ hội, đó là chân lý. Đối với lễ
hội Rước lợn ông Bồ, chạy đá Kỳ Sơn, điều quan trọng hơn cả là bảo tồn
được khu di tích, trùng tu xây dựng công trình hỗ trợ để có thể phát huy giá trị
lễ hội truyền thống. Không chỉ lễ hội truyền thống huyện Kiến Thụy nói
riêng, các lễ hội dân gian Việt Nam nói chung đều có sự gắn kết chặt chẽ đối
với việc bảo tồn, tôn tạo di tích, nơi diễn ra lễ hội. Vì chính những điểm di
tích đền, đình, miếu, chùa,… đó là nơi duy trì lễ hội được tổ chức, đề cao
được giá trị của lễ hội truyền thống, không có đình làng, đền làng thì không
có hội làng.
Lễ hội truyền thống là nơi tái hiện lại những sự kiện lịch sử trọng đại của
địa phương, nơi lưu giữ những nếp sống văn hóa tốt đẹp, đồng thời là môi
trường giáo dục những thế hệ trẻ, qua đó góp phần vào bảo tồn và phát huy
những truyền thống văn hóa dân tộc, địa phương. Lễ hội vật cầu Kim Sơn là
lễ hội độc đáo của cư dân nông nghiệp, thông qua lễ hội người dân càng hiểu
hơn về truyền thống văn hóa, lịch sử của địa phương mình. Trước hết là câu
20
chuyện về tướng Phạm Ngũ Lão đã cùng quân sĩ rèn luyện thể lực và ý chí
chiến đấu như thế nào. Nhớ về quá khứ hào hùng, nhớ những ngày gian khổ,
nước nhớ nguồn của người dân Kiến Thụy. Thông qua lễ hội, những nét văn
hóa ấy được nuôi dưỡng, giúp người dân hướng về cội nguồn, tưởng nhớ tới
Quỳnh Trân công chúa, người đã có công lập điền trang, thái ấp, cấp lương
thực, tiền bạc cho kẻ nghèo đói, tập hợp muôn dân trong vùng đến đây làm
ăn, sinh sống, từ đó có làng Du Lễ, xã Ngũ Phúc ngày nay. Đối với hai vị
Thành hoàng là Tây Bình và Thái Thượng, người có công đánh giặc ngoại
xâm, sau đó giúp dân làng khai phá đất đai, lập lên trang ấp đầu tiên đã được
người dân nơi đây tôn thành Thành Hoàng làng để thờ tự. Thông qua nghi
thức tế lễ trong lễ hội, sự kính trọng, biết ơn đối với người có công với đất
nước, có công với nhân dân được thể hiện sâu sắc. Với bề dày lịch sử văn hóa
địa phương, trong cuộc sống thực tại, nền văn hóa ấy tiếp tục theo bước cùng
nhịp sống của các thế hệ sau này và mãi mãi, nếu các lễ hội truyền thống
được duy trì và phát triển.
Lễ hội dân gian tái hiện cảnh sinh hoạt văn hóa, lao động của người dân
trong quá khứ, là lịch sử phát triển của dân làng, từ đó giáo dục thế hệ trẻ cần
phải trân trọng thành quả lao động. Lễ hội Rước lợn ông Bồ, chạy đá Kỳ Sơn
là lễ hội của cư dân nông nghiệp được hình thành từ lâu, lễ hội diễn ra với
mong muốn người dân địa phương được ấm no, phồn thịnh, được mùa cả về
trồng trọt và chăn nuôi. Một nét văn hóa thuần nông, thể hiện rõ được nguyện
ước của ông cha từ thuở khai sinh. Thông qua lễ hội Rước lợn ông Bồ, chạy
đá Kỳ Sơn, hiện thực cuộc sống và những ước vọng của người dân được phản
ánh một cách chân thực và là giá trị lớn nhất của hội làng cổ truyền mang lại.
Lễ hội đã tái hiện lại sâu sắc về nếp sinh hoạt, lao động của dân làng trong
quá khứ. Tổ tiên người dân làng Kỳ Sơn đã tham gia sản xuất nông nghiệp lấy
việc nuôi lợn là nguồn kinh tế chính trong gia đình. Có thể nói, nghề nuôi lợn
chính là cái gốc hình thành nên nền văn hóa nông nghiệp của địa phương.
Trong nghi thức tế lễ, hình ảnh mâm bánh dày, lộc quả đều là những sản
phẩm từ nông nghiệp. Hình ảnh tái hiện trong lễ hội, ít nhiều khiến du khách
suy nghĩ về cuộc sống lam lũ, nghèo khó của thế hệ người đi trước. Nếu có
22
góp tiền, người có sức góp sức, người có trách nhiệm phân chia công việc,…
tất cả đều chung sức phục vụ, cung cấp, bố trí, sắp xếp, mua sắm, nấu nướng,
23