A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Sinh mệnh văn chương và tên tuổi cuả người cầm bút luôn đứng
trước sự thử thách nghiệt ngã của thời gian.Trong dòng chảy của quy luật
ấy, có một nhà văn đã lưu được tên tuổi của mình trong tâm hồn và tình
cảm các thế hệ độc giả - nhà văn Nguyễn Tuân.
Đọc Nguyễn Tuân ta sẽ thấy cái hay, cái lạ của ông trải trên những
trang viết. Ông là một trong số không nhiều nhà văn đã tạo cho mình một
phong cách nghệ thuật độc đáo. Trong cuốn Nhà văn hiện đại, nhà phê
bình văn học Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Văn chương Nguyễn Tuân đã
làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông
và những ý kiến cùng tư tuởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu
cay, khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi lôi thôi, như một
bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái
của tâm hồn”. Có thể thấy, Nguyễn Tuân đã đưa vào văn chương thành
công cái Tôi lớn lao của con người xã hội, con người chủ thể, con người
sáng tạo. “Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường hay nghĩ đến một cái
“tôi” đặc biệt tài hoa, nhưng cũng hết sức tài tử” ( theo Nguyễn Đăng
Mạnh).
Sự nghiệp của Nguyễn Tuân chủ yếu được nhắc đến là những tác
phẩm ở thể tùy bút và bút ký, đặc biệt là tùy bút. Có thể nói tính tự do,
phóng túng và khả năng thể hiện bản ngã của người cầm bút ở thể tùy bút
đã rất ăn nhập với cá tính, tài năng Nguyễn Tuân. Nói như Vương Trí
Nhàn thì “Tùy bút đã là một phần cuộc đời…là một thứ số phận mà bảo
rằng ông lựa chọn nó hay nó lựa chọn ông, đằng nào cũng được”. Và ở
một thể loại khác được Nguyễn Tuân thử bút trong giai đoạn đầu của quá
trình sáng tác là truyện ngắn thì cái tôi của ông cũng thấp thoáng, bằng
nhiều cách. Những gì Nguyễn Tuân đã làm là cả một hành trình dâng
hiến đời văn, tài văn cho nhân dân, cho văn hóa dân tộc. Đó là lẽ sống
của những con người cao cả, những nhà văn chân chính.
1
Người lái đò sông Đà (lớp 12). Đây là hai tác phẩm tiểu biểu cho hai giai
đoạn sáng tác và cũng là hai thể loại thành công của Nguyễn Tuân. Về
2
một mặt nào đó, nó góp phần phác họa đầy đủ chân dung của “cái Tôi”
nhà văn- ngọn nguồn của sự sáng tạo và cho thấy diện mạo phong cách
độc đáo của nhà văn này.
Vì lẽ đó, trong khuôn khổ của một đề tài tôi muốn đề cập đến
hướng tiếp cận tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân. Dù không mới
nhưng thiết nghĩ nó sẽ góp một phần nhỏ vào việc dạy và học có hiệu quả
những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân trong chương trình THPT. Đó
là hướng tiếp cận các tác phẩm của nhà văn trên cơ sở áp dụng các biện
pháp đặc trưng của “loại thể” và dựa trên cái nhìn có hệ thống về bản
chất cái Tôi cá nhân của nhà văn.
II/ Nhiệm vụ của đề tài
Chia sẻ kinh nghiệm về: Hướng tiếp cận và dạy học tác phẩm của
nhà văn Nguyễn Tuân trong chương trình THPT theo đặc trưng loại thể
và dựa trên cái nhìn có hệ thống về cái Tôi của nhà văn.
III/ Cơ sở nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: tiếp nhận lí thuyết về dạy học tác phẩm văn học theo loại
thể và những kiến thức về nhà văn.
- Cơ sở thực tiễn: những thuận lợi và hạn chế của đối tượng học sinh lớp
11,12 ( với những đặc điểm nổi bật về tâm lí, trí tuệ), cơ sở vật chất, tinh
thần, hiệu quả áp dụng phương pháp, biện pháp dạy học tác phẩm văn
học theo loại thể…
IV/ Phương pháp nghiên cứu
- Biện pháp thu nhập và xử lí thông tin.
- Biện pháp khảo nghiệm và thống kê tư liệu.
- Biện pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Nguyễn Tuân hào hứng
đón chào và tham gia cách mạng một cách nhiệt tình. Từ năm 1948-1958,
ông giữ chức Tổng thư kí Hội văn nghệ Việt Nam. Nguyễn Tuân hoạt
động rất tích cực trên mặt trận văn hóa và tiếp tục đóng góp cho văn học
nhiều trang viết sắc sảo, đầy nghệ thuật để rồi tên tuổi được ghi nhận là
một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.
4
Trong hơn năm mươi năm cầm bút và sáng tạo không ngừng,
Nguyễn Tuân đã để lại một sự nghiệp văn học phong phú với nhiều bài
học bổ ích cho những ai muốn bước vào nghề văn. Bắt đầu viết từ năm
1930, dường như con người ấy bước vào nghề văn cốt là để khẳng định
một cá tính riêng, một phong cách nghệ thuật không thể lẫn với bất kì ai.
Trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng tháng Tám 1945,
tuy có những biến đổi nhất định trong tư tưởng, quan điểm song cá tính
và phong cách ấy vẫn là một sự thống nhất - rất Nguyễn Tuân và chỉ có
thể là Nguyễn Tuân mà thôi. Trước cách mạng, tác phẩm của ông chủ
yếu xoay quanh ba đề tài chính: Chủ nghĩa “Xê dịch”, vẻ đẹp “Vang
bóng một thời” và Đời sống trụy lạc. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng
Mạnh thì giai đoạn này phong cách nghệ thuật của ông có thể gói gọn
trong một chữ “ngông” . Ông luôn thể hiện là một nghệ sỹ tài tử ngông
nghênh, kiêu bạc với đời, biểu hiện những cái khác đời, thậm chí ngược
đời, lấy cái tài hoa, uyên bác để “trêu ghẹo thiên hạ, để khinh thế ngạo
vật”. Tất cả đều xuất phát từ một cái Tôi đối lập với xã hội, có khi sa vào
chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Có lẽ bởi trong giai đoạn này người “lữ
khách” ấy cảm thấy không thể tìm được trong môi trường quanh mình cái
cảm giác mới lạ, mãnh liệt mà ông vẫn hằng khát khao “tôi muốn mỗi
ngày trong cuộc sống của tôi phải cho tôi cái say rượu của tối tân hôn”,
cũng bởi cảm cảm giác bất hòa với thực tại - cái thời buổi Tây Tàu nhố
viết truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí, tùy bút, phóng sự...Thể loại gắn bó
chủ yếu và làm nên tên tuổi nhà văn lớn chính là thể tùy bút. Bằng ngòi
bút bản lĩnh, ông đã góp phần bồi đắp, phát triển thêm nhiều khả năng
nghệ thuật cho thể loại này.
Văn giới coi Nguyễn Tuân là “một thứ định nghĩa về văn chương”,
những ai muốn bước vào nghề văn đều tìm thấy từ con người và tác
phẩm của ông nhiều bài học bổ ích cho công việc sáng tạo nghệ thuật.
Bạn đọc gần xa lưu giữ trong tình cảm của mình những trang văn đẹp,
hình ảnh về một cá tính, nhân cách đẹp. Nguyễn Tuân thực sự xứng đáng
với tất cả niềm tin yêu và sự ngưỡng mộ ấy. Nguyễn Tuân ngày càng
khẳng định được vị trí hàng đầu vững chắc của mình trong nền văn xuôi
Việt Nam hiện đại.
6
II/ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN VÀ TÙY BÚT
1.TRUYỆN NGẮN
Nhận diện thể loại truyện ngắn là một nỗ lực liên tục của cả người
sáng tác và giới nghiên cứu lí luận. Truyện ngắn có thể được hiểu khái
quát là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, một lát cắt của đời sống nhưng dung
chứa trong nó nội dung phản ánh hiện thực sâu sắc. Truyện ngắn không
miêu tả hiện thực trong cả một quá trình mà chỉ chớp lấy những khoảnh
khắc ấn tượng, những điểm sáng thẩm mĩ để từ đó khái quát lên những
nét bản chất nhất mang tính quy luật của hiện thực. Vì vậy, đặc trưng cơ
bản của truyện ngắn là sự hàm súc, cô đọng. Truyện ngắn thể hiện khả
năng chiếm lĩnh hiện thực và phản ánh mang trình độ cao của người nghệ
sĩ và nó ngày càng phát huy được thế mạnh trong nền văn học hiện đại.
Về tính chất của “loại” trong thể “truyện ngắn”, có thể phân biệt như
sau: Loại “Truyện ngắn - kịch hoá” là những truyện ngắn được xây dựng
theo hướng kịch hoá thường lấy một hành động nhân vật làm nòng cốt.
Tùy bút là một thể loại văn xuôi có đóng góp đáng kể vào nền văn
học, đặc biệt ở thời kỳ hiện đại. Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên,
Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Bình Nguyên Lộc, Vũ Bằng, Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Băng Sơn… là những tên tuổi lớn với những tác phẩm thành
công ở thể loại này.
Trong phần giới thiệu Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1, nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Mạnh có nêu ra một định nghĩa bao quát được hầu hết những
đặc trưng của thể loại: “Tùy bút là gì ?...Có thể hiểu một cách đại khái thế
này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự kiện, một mẩu
chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy nêu lên những vấn đề này
khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những suy tưởng của mình
một cách thoải mái, phóng túng”.
Không có cốt truyện, không có tình tiết éo le gay cấn, nên sức hấp dẫn
của những trang tùy bút là ở cách thức tác giả bộc lộ thế giới tinh thần chủ
quan với những cung bậc cảm xúc mãnh liệt, những rung động tinh tế cùng
những liên tưởng bất ngờ, tài hoa, uyên bác.
8
III/ TÌNH HÌNH DẠY - HỌC TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN TUÂN
Qua thực tế khảo sát đối tượng tiếp nhận tác phẩm của nhà văn
Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ Văn THPT là học sinh lớp 11 và
lớp 12 người viết nhận thấy có một số vấn đề như sau:
Năng lực trí tuệ của học sinh có thể giúp các em nắm bắt tác phẩm
không khó khăn. Các em cũng đã có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu
tượng một cách độc lập và sáng tạo, việc phân tích hình tượng văn học,
phân tích cái hay cái đẹp của tác phẩm có thể được các em thực hiện có
hiệu quả. Tuy vậy vì một số lí do, nhiều em có thiên hướng về đời sống
học sinh còn chưa hiểu những yếu tố chính trong phong cách nghệ thuật
của tác giả hoặc nắm bài chỉ là những ý đơn lẻ mà không phải theo hệ
thống. Trong việc giảng dạy tác phẩm, phần nhiều giáo viên chỉ đi vào
phân tích hình tượng nhân vật.
Về tư liệu sách giáo khoa, đối với tác phẩm Chữ người tử tù thì
phần tác giả Nguyễn Tuân, các em sẽ được học là trong chương trình lớp
12. Vì vậy nếu như học sinh chỉ dựa vào tiểu dẫn sách giáo khoa để soạn
bài thì sẽ lúng túng trong việc nhận ra chất văn riêng của tác giả. Phần
hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa là vô cùng quan trọng. Đó là
những câu hỏi để các em đi sâu cảm nhận tác phẩm. Tuy vậy, phần câu
hỏi phân tích hình tượng Huấn Cao và viên quản ngục chưa chỉ rõ được
thi pháp xây dựng hình tượng cho các em.
Đối với tác phẩm Người lái đò sông Đà, ở trang viết của Nguyễn Tuân
yếu tố tự sự có phần đậm nét, nhưng trữ tình vẫn là cốt lõi, quán xuyến toàn
bộ mạch cảm xúc, tư tưởng của tác phẩm. Những câu hỏi gợi ý trong phần
Hướng dẫn học bài của sách giáo khoa hầu như chỉ nhằm tìm hiểu về nghệ
thuật khắc họa hình ảnh sông Đà, hình tượng ông lái đò và nét tài hoa độc
đáo, uyên bác của phong cách tùy bút Nguyễn Tuân. Hơn nữa, trong khi cái
Tôi tài hoa, uyên bác được chú trọng khai thác thì cái Tôi dào dạt, tinh tế
trong cảm xúc, chân thành gắn bó với đất nước và dân tộc của một nhà văn
từng có thời kỳ dài thoát ly cuộc sống, chỉ ham mải miết trong xê dịch ít
nhiều đã bị xem nhẹ. Trên thực tế, việc dạy - học tác phẩm này gặp không ít
10
trở ngại bởi trước đó học sinh chủ yếu được học các tác phẩm văn xuôi thiên
về tự sự, dần dần cảm xúc và nhận thức của các em đã quen nương theo cốt
truyện, hệ thống nhân vật, tình tiết, đến khi cần cảm thụ một tác phẩm văn
xuôi giàu chất trữ tình, các em gặp lúng túng.
IV/ TIẾP CẬN TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN
Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, kết quả
của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 - 1960 của nhà văn, in
trong tập bút ký “Sông Đà”. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con
người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông
Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Với Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã
ghi dấu ấn không trộn lẫn của mình ở thể loại tùy bút, bám sát hiện thực,
say mê khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực.
Hơn thế nữa, tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng tình
cảm của nhà văn. Từ cái Tôi cô đơn, đối lập với cuộc đời, nhà văn đã hòa
mình vào cuộc sống chung của đất nước và tìm thấy cái đẹp trong cuộc
đời thường bằng sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất
nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào con đường
dân tộc đang hướng tới. Tấm lòng ấy, tài năng ấy của Nguyễn Tuân thật
đáng trân trọng.
Nguyễn Tuân là nhà văn mang nặng lòng hoài cổ, là một trí thức
giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, luôn gắn bó với những giá trị
văn hoá cổ truyền của dân tộc. Chính vì thế trong sáng tác của mình, ông
thích viết về vẻ đẹp riêng của thời xưa. Trước Cách mạng ông đi tìm cái
đẹp của thời xưa còn sót lại còn sau Cách mạng ông không đối lập xưa
với nay, cổ với kim mà tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ, hiện tại và
tương lai.Trong thế giới của “Vang bóng một thời”, cái cổ điển thường
chiếm ưu thế và được nhà văn ưu tiên hàng đầu với thái độ trân trọng đặc
biệt. Quay về quá khứ, tưởng như quá khứ là một khía cạnh của chủ
nghĩa lãng mạn. Đó cũng là thể hiện sự bất mãn, quay lưng lại thực tại,
phủ nhận xã hội đương thời.Còn ở tác phẩm Người lái đò S ông Đà ông
đã tìm vẻ đẹp xưa trong một không gian - thời gian hiện đại. Tác phẩm
ra đời trong những năm đất nước ta tiến hành xây dựng lại miền Bắc nói
chung và vùng đất Tây Bắc nói riêng, những hình tượng chính trong tác
12
nhân vật và nhân vật, không gian trong tù và không gian ánh sáng bao
quanh nhân vật trong cảnh cho chữ. Đọc đoạn văn cuối tả cảnh cho chữ
13
chúng ta phải làm nổi bật được “cái thần” của bức tranh. Đó là vẻ đẹp
của những người tài hoa yêu mến và trân trọng cái đẹp. Chú ý đến các từ
ngữ miêu tả hình ảnh, âm thanh, màu sắc, dáng điệu để làm nổi bật hình
tượng ba nhân vật, thể hiện sự đổi ngôi hiếm có giữa người tử tù và quan
coi ngục, thể hiện sự chiến thắng và lên ngôi của cái đẹp trong không
gian nhà tù ẩm ướt, bẩn thỉu.
Bên cạnh đó, giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý đọc đúng các từ
cổ đã được chú giải ở sách giáo khoa. Đây là các từ quan trọng tạo nên
không khí cổ xưa của tác phẩm.
Với Người lái đò sông Đà, văn Nguyễn Tuân biến đổi rất linh hoạt.
Mạch văn tuôn chảy theo dòng cảm xúc hết sức thoải mái, chuyện này
chồng chéo lên chuyện kia không theo một trình tự nào, và cũng không bị
ràng buộc hạn chế bởi không gian, thời gian. Vì thế, cần có giọng đọc
phù hợp với cảm xúc của tác giả.
Mục đích cuối cùng của hoạt động đọc là người giáo viên hướng
dẫn học sinh chiếm lĩnh được tinh thần của tác phẩm. Tóm tắt tác phẩm
và nắm bắt được hệ thống hình tượng tác phẩm.
2.2. Phương pháp gợi mở
Phương pháp gợi mở chủ yếu cho người đọc đi tìm để tự chiếm
lĩnh lấy tri thức của mình. Phương pháp này hỗ trợ cho phương pháp đọc
sáng tạo, giúp cho học sinh mở rộng nhận thức, để phân tích, bình giá các
hiện tượng văn học.Vì vậy cần xây dựng hệ thống câu hỏi logic, chặt chẽ,
xây dựng tình huống có vấn đề; xây dựng hệ thống bài tập, đặt vấn đề
cho học sinh làm theo đề xuất của giáo viên và tiến hành tổ chức tranh
luận.
nhà trong một khoảng thời gian nhất định và tổ chức thảo luận trên lớp
khi đã có kết quả nghiên cứu của học sinh.
15
C . PHẦN KẾT LUẬN
Phân tích và khám phá tác phẩm văn học để các em học sinh cảm
thụ và yêu quý tác phẩm, rung động với tác phẩm không phải là một điều
dễ dàng. Nó đòi hỏi người giáo viên không chỉ có tài mà còn phải có cái
tâm.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, người viết đưa ra những hiểu
biết về việc cảm thụ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân theo đúng loại
thể của tác phẩm và căn cứ vào bản chất cái Tôi của nhà văn. Người viết
chỉ muốn đưa ra vấn đề để cùng suy ngẫm chứ không đề xuất một cách
dạy cụ thể bởi mỗi người bằng kinh nghiệm, cái tài và cái tâm của bản
thân sẽ có những hướng tiếp nhận phù hợp. Thiết nghĩ những trình bày ở
đây cũng chỉ là một số gợi ý cho nên không tránh khỏi những bất cập,
thiếu sót, hy vọng nhận được sự bổ sung, góp ý của các đồng nghiệp để
bài viết tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa ngày 20 tháng 05 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Lê Thị Cam