A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão với
sự xuất hiện của nhiều ngành khoa học mới đặc biệt là sự bùng nổ của công
nghệ thông tin làm cho khối lượng tri thức tăng lên một cách nhanh chóng. Điều
đó đã đặt ra cho nghề dạy học một yêu cầu mới không chỉ dạy học kiến thức mà
quan trọng hơn là dạy cho học sinh cách học và tự học.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã và đang tiến hành
đổi mới toàn diện về giáo dục ở các cấp học trong đó có THPT nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả đào tạo. Sự đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực
như: đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và
kiểm tra đánh giá. Trong đó đổi mới phương pháp dạy học được đặt lên hàng
đầu. Vì vậy, phương pháp dạy học tích cực ngày càng được chú trọng và trở nên
phổ biến.
Trong quá trình giảng dạy môn sinh học THPT tôi nhận thấy đa phần học
sinh đều cho rằng môn Sinh học thường là khô khan, khó hiểu. Điều này gây ảnh
hưởng không nhỏ tới việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học
bộ môn. Một thực trạng dễ thấy là ở học sinh, nhất là những em có học lực từ
trung bình trở xuống thường rất khó tập trung trong giờ học bộ môn. Vấn đề đặt
ra là giáo viên phải không ngừng tìm tòi mọi phương pháp, cách thức để khơi
dậy sự hứng thú, nhiệt tình học tập của học sinh nếu không tiết dạy sẽ trở nên
nhàm chán, khó có được sự thành công.
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn Sinh học ở trường THPT Lê Lai,
nếu giáo viên biết kết hợp giữa kiến thức bộ môn với những câu ca dao, tục ngữ,
thành ngữ thì bài học sẽ hay hơn, sinh động hơn rất nhiều. Với sự trăn trở tìm
giải pháp khơi dậy sự hứng thú học tập ở học sinh đối với bộ môn Sinh học
THPT tôi muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp những kinh nghiệm về việc “Lồng
ghép một số câu tục ngữ, thành ngữ nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy môn
sinh học lớp 12 THPT – Chương trình chuẩn”.
II. Phạm vi đề tài
Trong đề tài này, Tôi chỉ sử dụng một số câu tục ngữ, thành ngữ trong
tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Đây là những kinh nghiệm được đúc kết trong
đời sống và quá trình sản xuất, được truyền từ đời này sang đời khác giúp mọi
người hiểu được thực tế của cuộc sống; các hiện tượng xảy ra liên quan đến kiến
thức sinh học và thực tế sản xuất. Đó cũng là những câu truyền miệng rất dễ
nhớ, dễ thuộc với hàm ý cô đọng và sâu sắc mà trong quá trình giảng dạy bộ
môn Sinh học có thể lồng ghép một số câu tục ngữ, thành ngữ vào trong một số
nội dung của bài học trong chương trình sinh học THPT rất hợp lí và thuận lợi.
Thế nhưng trên thực tế việc vận dụng hệ thống kinh nghiệm này trong dạy
và học bộ môn còn ít được quan tâm. Có rất nhiều câu tục tục ngữ, thành ngữ
khi đọc lên đã giúp học sinh hiểu ngay giá trị thực tiễn nên giáo viên có thể sử
dụng để đặt vấn đề hay để minh họa cho kiến thức cần giải quyết trong bài học.
Nhiều câu chỉ nêu lên những hiện tượng mà việc giải thích cần phải có tài liệu
hỗ trợ và sự hướng dẫn tổ chức học tập của giáo viên thì học sinh mới hiểu một
cách sâu sắc.
Vì vậy, khi tiếp xúc với những vấn đề mang tính thực tế học sinh thường
gặp khó khăn trong việc giải thích, liên hệ các hiện tượng liên quan đến kiến
thức bộ môn từ đó dẫn đến mức độ hứng thú đối với bộ môn không cao, chất
lượng bộ môn giảm sút.
2
II. Khái quát về tục ngữ, thành ngữ
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, diễn trọn vẹn một
ý, một nhận xét, một luân lý, có khi là một sự phê phán, có nhịp điệu, hình ảnh,
thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động, sản xuất, xã
hội…), được nhân dân ta vận dụng vào thực tiễn đời sống.
Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều
người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn.
Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là
một câu hoàn chỉnh. Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.
lĩnh hội kiến một cách đầy đủ nhất. Bên cạnh đó các em nhìn nhận bộ môn Sinh
học cũng theo chiều hướng tích cực hơn.
Thứ ba: Học sinh trường THPT Lê Lai đa số các em đều ngoan, được
trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập và có thư viện với các đầu sách để
các em tham khảo.
1.2. Khó khăn:
Thứ nhất: Học sinh trường THPT Lê Lai có đến 90% là con em đồng bào
dân tộc thiểu số, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn, trình độ không đồng đều
nên chất lượng bộ môn còn thấp.
4
Thứ hai: Cơ sở vật chất tuy đã được đầu tư nhưng còn thiếu, chưa có
phòng học bộ môn, các trang thiết bị phục vụ dạy học vẫn còn thiếu, chưa tương
xứng với công cuộc đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục.
Thứ ba: Để vận dụng tốt đề tài này vào dạy học sinh học lớp 12 đòi hỏi
người giáo viên giảng dạy phải am hiểu kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam và
chịu khó tìm tòi, sưu tầm thêm các kinh nghiệm dân gian cũng như việc lồng
ghép vào bài giảng có liên quan đến kiến thức một cách thật tự nhiên.
2. Tổ chức thực hiện
2.1. Sử dụng tục ngữ, thành ngữ để kiểm tra bài cũ
Khi kiểm tra nội dung kiến thức bài 39: Biến động số lượng cá thể của
quần thể sinh vật. Mục I.1. Biến động theo chu kì. Giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Bằng hiểu biết thực tế và kiến thức đã học, em hãy giải thích câu:
“Mùa thu chim ngói, mùa hè chim cu”
Hay câu tục ngữ này đề cập đến vấn đề gì? Với câu hỏi này giáo viên gợi
ý học sinh cần trả lời được các nội dung sau: Đây là câu tục ngữ nói về kinh
nghiệm đánh bắt chim. Sự biến động số lượng cá thể chim ngói và chim cu theo
chu kỳ mùa và phụ thuộc vào nguồn thức ăn có trong môi trường.
hạn, muốn phát huy hết khả năng của giống cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật
chăm sóc tối ưu; còn nếu muốn vượt giới hạn năng suất của giống không có
cách nào khác là phải cải tạo giống cũ hoặc thay đổi giống cũ bằng giống khác.
Hay các câu tục ngữ:
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
“Phân tro không bằng no nước”
“Muốn cho lúa nảy bông to,
Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều”...
để nêu lên vai trò kĩ thuật (môi trường) đối với việc tăng năng suất (kiểu hình)
cây trồng. Tuy nhiên trong từng điều kiện cụ thể mà người ta nhấn mạnh yếu tố
kĩ thuật sản xuất (môi trường) hay yếu tố giống (kiểu gen).
Ngoài ra giáo viên có thể yêu cầu học sinh giải thích thêm câu tục ngữ:
“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
Để nói đến nội dung đặc điểm mức phản ứng rộng của các tính trạng số
lượng (tâm lí): chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện môi trường.
Mở rộng nghĩa hơn đó chính là: hoàn cảnh sống tác động đến nhân cách
con người như thế nào. Mực là chỉ hoàn cảnh không tốt, môi trường sống không
lành mạnh. Đèn là chỉ môi trường sống tích cực. Như thế có nghĩa là khi người
ta sống trong môi trường không tốt thì nhân cách dễ bị tha hóa, dễ làm điều sai
trái và sa ngã. Ngược lại, nếu như được giáo dục trong môi trường lành mạnh thì
con người có thể rèn luyện được tính cách của mình cho tốt. Hoàn cảnh tác động
và chi phối đến nhân cách chúng ta rất nhiều. Trẻ con sinh ra giống như một tờ
giấy trắng. Những gì ta giáo dục, môi trường tác động đến nó như thế nào thì nó
sẽ trở thành một con người như thế ấy. Nếu xung quanh bạn luôn có những
người tốt, sống tích cực thì bạn cũng sẽ học được ở họ nhiều điều hay. Và ngược
lại, nếu quanh bạn chỉ toàn những người xấu thì hoàn cảnh tiêu cực ấy cũng sẽ
dần làm bạn tha hóa về nhân cách…
2.2. Sử dụng tục ngữ, thành ngữ để mở bài
Ở bài 22: Bảo vệ vốn gen của loài người và một số vấn đề xã hội của di
truyền học. Mục I: Bảo vệ vốn gen của loài người (tư vấn di truyền và sàng lọc
Với câu thành ngữ này giáo viên có thể sử dụng chúng làm lời dẫn khi
bước vào nội dung bài dạy. Trước hết giáo viên nêu câu thành ngữ và hỏi: Tại
sao người ta lại nói như vậy? Để tìm hiểu chúng ta cùng nghiên cứu nội dung bài
học. Với câu thành ngữ này học sinh sẽ dễ dàng tiếp cận với vai trò của rừng và
biển và vấn đề khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng, biển. Tại sao
nói rừng là vàng, biển là bạc? Qua đó yêu cầu học sinh nêu rõ vai trò của rừng,
của biển đối với tự nhiên và đời sống con người từ đó nâng cao ý thức cho học
sinh trong việc sử dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên rừng và biển.
Mặt khác, giáo viên có thể sử dụng câu thành ngữ:
“Tấc đất tấc vàng”
và đặt câu hỏi: Tại sao người ta lại nói tấc đất tấc vàng? Sau đó dẫn dắt học sinh
đi đến kết luận: Đất rất quan trọng trong đời sống con người. Nó là môi trường
sản xuất lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Đất đai, nói một cách đơn
7
giản là một điều kiện không thể thiếu được cần cho sự sống còn của con người.
Bản dự thảo luật đất đai của nước ta công bố ngày 21 tháng 8 năm 1987 đã
khẳng định: "Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng". Vì
vậy chúng ta phải quý đất, sử dụng hợp lí tài nguyên đất. Qua đây giáo viên có
thể giáo dục học sinh ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường nói chung, tài
nguyên đất nói riêng.
2.3. Sử dụng tục ngữ, thành ngữ để giải thích hay kết luận nội dung kiến thức
Với bài 8,9 “ Quy luật Men Đen”: Giáo viên có thể sử dụng các câu tục
ngữ sau:
“Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”
“ Cha nào con nấy”
thậm chí nhiều gia đình đã tan vỡ, dẫu những nghi ngờ này hoàn toàn thiếu cơ
sở khoa học.
Các nhà khoa học đã chứng minh, mỗi đứa trẻ khi sinh ra đều bằng sự kết
hợp “công bằng” một nửa gen từ bố và một nửa từ mẹ, nên đều mang trong
mình những nét của cả bố và mẹ, xét cả về ngoại hình lẫn tính cách. Tuy nhiên,
do sự sắp xếp ngẫu nhiên của các gen di truyền mà những nét này ít hay nhiều,
giống hoàn toàn hay giống một phần. Có những đứa trẻ là kết tinh của những nét
đẹp nhất của bố mẹ, có những đứa trẻ lại mang những nét không đẹp nhất của bố
mẹ, có đứa lại chỉ giống bố, có đứa lại là “khuôn đúc lại” của mẹ. Và cũng
không ít đứa trẻ lại giống với người cách nó một thế hệ như ông, bà... hoặc
giống cô, dì, chú, bác, cậu ruột. Bên cạnh đó, có những đứa trẻ lại mang gen
“lặn” về hình thức với bố mẹ, không giống bất kỳ ai, kể cả là ông bà, cô, dì, chú,
bác, cậu ruột.
Khi dạy bài 36: Quần thể sinh vật và mối quan hệ giữa các cá thể trong
quần thể. Mục II. Quan hệ giữa các cá thể trong quần thể, giáo viên có thể sử
dụng câu tục ngữ:
“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
để dẫn dắc và khắc sâu nội dung kiến thức cho học sinh về mối quan hệ hỗ trợ
giữa các cá thể cùng loài được thể hiện qua hiệu quả nhóm: Chống gió bão, hạn
chế thoát hơi nước, sinh trưởng nhanh và chịu hạn tốt hơn cây sống riêng lẻ.
Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu theo nghĩa khác: “một cây” ý chỉ một cá
nhân, một phần tử rất nhỏ bé trong xã hội. Còn “ba cây” chính là một tập thể bao
gồm nhiều người. Câu tục ngữ trên mang cho mình hai tầng ý nghĩa: nghĩa đen
và nghĩa bóng. Về nghĩa đen, câu tục ngữ muốn nói nếu chỉ với một cái cây nhỏ
bé thì không thể nào làm nên ngọn núi hay ngọn đồi. Nhưng ngược lại, với ba
cây thì ngọn đồi, ngọn núi đó sẽ được trọn vẹn rất nhiều. Cũng như trong công
việc chỉ có một cá nhân thì chẳng thể nào làm nên việc lớn được. Nhưng trong
một tập thể với nhiều suy nghĩ và ý tưởng khác nhau thì con người sẽ đạt được
sự thành công dễ dàng hơn. Qua câu tục ngữ trên, cái mà người xưa muốn gửi
Hoặc khi dạy bài 37: Đặc trưng của quần thể sinh vật. Mục IV. Mật độ cá
thể của quần thể, giáo viên lồng ghép nội dung bài dạy bằng việc sử dụng các
câu sau:
“Cấy thưa hơn bừa kĩ”
“Cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn”
Kết quả thảo luận của học sinh cần được giáo viên định hướng tới nội
dung: Trong trồng trọt, nếu gieo trồng đúng mật độ thì năng suất sẽ cao hơn vì
như vậy cây trồng sẽ có đủ ánh sáng, chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát
triển từ đó cho năng suất cao, ngược lại sẽ cho năng suất thấp. Mật độ quần thể
mang tính đặc trưng cho từng quần thể của loài, nó ảnh hưởng tới mức độ sử
dụng nguồn sống trong môi trường, tới khả năng sinh sản và tử vong của quần
thể.
Với bài 38: Đặc trưng cơ bản của quần thể sinh vật. Mục VII. Tăng
trưởng của quần thể người, giáo viên có thể sử dụng câu thành ngữ:
“ Trời sinh voi sinh cỏ”
để đặt câu hỏi: Theo em quan niệm trên ở câu thành ngữ có hợp lí không? Tại
sao? Với kiến thức đã học cũng như hiểu biết thực tế học sinh có thể phát biểu
được: Quan niệm trên có thể đúng cách đây vài chục năm. Ngày nay, mọi
chuyện đã thay đổi, không chỉ vì chuyện giá sinh hoạt đắt đỏ mà còn vì chuyện
môi trường, là sự gia tăng dân số quá nhanh. Điều này ảnh hưởng không tốt đến
sự phát triển kinh tế xã hội và hạnh phúc gia đình. Vì vậy trong việc sinh đẻ số
con sinh ra phải phù hợp với khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc của gia đình và
10
đảm bảo sự hợp lý với sự phát triển kinh tế xã hội và điều kiện về tài nguyên,
môi trường... Dân số tăng nhanh và phân bố dân cư không hợp lý là nguyên
nhân chủ yếu làm cho chất lượng môi trường giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống của con người.
V. Kết quả đạt được
8.7
2011-2012
Khối 12
4.5
30.9
58.9
5.7
2012-2013
Khối 12
6.5
37.5
53.5
2.5
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. Bài học kinh nghiệm
Trên đây là một vài vấn đề được xem là kinh nghiệm mà bản thân tôi đã
sinh vừa hiểu kiến thức và vừa mở rộng được vấn đề thực tế.
Những cách sử dụng tục ngữ, thành ngữ trong bài dạy và đề nghị chỉ
mang tính chất chủ quan không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đồng
nghiệp góp ý để bài viết hoàn chỉnh.
Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm bước đầu mà tôi đã đúc rút, thực hiện
trong quá trình giảng dạy bộ môn, nhằm tìm giải pháp nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn sinh học, còn mang màu sắc chủ quan, chưa hoàn thiện, còn hạn chế
về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn. Tôi rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến quí báu của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để ngày
càng hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 05 năm 2013
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
12
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ -------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1
I. Lí do chọn đề tài---------------------------------------------------------------------------------------------------- 1
II. Phạm vi đề tài------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1
III. Mục tiêu đề tài ---------------------------------------------------------------------------------------------------- 1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ --------------------------------------------------------------------------------------- 2
I. Cơ sở lí luận ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 2