Một số Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm - Pdf 30

Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
1
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Lời mở đầu
Nhờ thực hiện chính sách mở cửa, đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ kinh
tế đối ngoại, đến nay Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 160 nớc, lãnh thổ
thuộc đủ các châu lục trên thế giới. Quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng phát triển
đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thơng mại quốc tế giữa Việt Nam và các nớc
khác. Những mối quan hệ thơng mại thờng xuyên giữa các nớc đã làm phát sinh
những quyền lợi và nghĩa vụ thanh toán của nớc này đối với nớc khác, do đó tất
yếu phải xuất hiện thanh toán quốc tế.
Là một khâu quan trọng trong hoạt động ngoại thơng, liên qua đến nghĩa
vụ tiền tệ phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế đã trở thành
một yếu tố quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động này. Ngân hàng là một thành
viên quan trọng trong hoạt động thanh toán quốc tế, chất lợng thanh toán quốc tế
của ngân hàng có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các đơn vị tham gia vào lĩnh vực ngoại thơng.
Mặt khác, Việt Nam đã và đang từng bớc tham gia vào quá trình hội nhập
với nền kinh tế thế giới, từng bớc ký kết hiệp định thơng mại song phơng, khu
vực và đa phơng. Đến nay, đã là thành viên của tổ chức khu vực thơng mại tự do
ASEAN (AFTA) và của diễn đàn Châu á - Thái Bình Dơng (APEC), đã ký kết
hiệp định thơng mại với Hoa Kỳ, chuẩn bị gia nhập tổ chức thơng mại thế giới
(WTO). Các quan hệ thơng mại với Nhật Bản, EU, Nga, Trung Quốc... đang tiếp
tục đợc mở rộng. Thực tế đó đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với lĩnh
vực ngoại thơng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng. Vì vậy
việc nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế là hết sức cần thiết và hiện
đang là vấn đề đợc rất nhiều nhà kinh tế quan tâm.
Qua quá trình thực tế tại ngân hàng công thơng Hoàn Kiếm, em nhận thấy
rằng: sau khi đợc đổi mới về cơ cấu tổ chức, trong sạch hoá các hoạt động từ năm
1997, hoạt động thanh toán quốc tế của chi nhánh đã đạt đợc một số kết quả đáng

một cách đầy đủ thì thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ
phát sinh có liên quan đến các quan hệ kinh tế, thơng mại và các mối quan hệ
khác nh chính trị, ngoại giao, hợp tác văn hoá,khoa học kỹ thuật...giữa các cá
nhân, các tổ chức, các chính Phủ giữa các nớc thông qua ngân hàng của các nớc
có liên quan.
Nh vậy, thanh toán quốc tế không chỉ có thanh toán mậu dịch mà còn gồm
cả thanh toán phi mậu dịch và thanh toán viện trợ, vay nợ.
-Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh liên quan đến
hàng hoá không mang tính chất thơng mại. Đó là việc thanh toán các chi phí của
các đoàn ngoại giao, ngoại thơng ở các nớc sở tại, các chi phí vận chuyển, đi lại
của các đoàn khách của các tổ chức, cá nhân nớc ngoài.
-Thanh toán vay nợ, viện trợ: thực chất cũng là thanh toán mậu dịch song
nó khác thanh toán mậu dịch ở chỗ nguồn thanh toán . Thanh toán mậu dịch đợc
thực hiện bởi nguồn tự có, còn viện trợ là do các nớc ngoài cấp vốn (mà thờng là
các nớc xuất khẩu cho vay hoặc các tổ chức tài chính tín dụng cho vay hoặc cho
không).
Tuy nhiên về cơ bản, thanh toán quốc tế phát sinh trên cơ sở hoạt động th-
ơng mại và đợc gọi là thanh toán quốc tế trong ngoại thơng.
Thanh toán quốc tế nhanh chính xác, đúng luật sẽ đẩy nhanh tốc độ lu
chuyển hàng hoá, luân chuyển vốn của các bên tham gia, mở rộng và củng cố
quan hệ hợp tác buôn bán làm ăn giữa các nớc. Có nh vậy, hoạt động xuất nhập
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
khâủ mới thực sự phát huy tác dụng của nó trong sự phát triển kinh tế của mỗi đất
nớc.
Vì vậy thanh toán quốc tế đã trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá
hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thơng.
II. Vai trò và ý nghĩa của thanh toán quốc tế
1.Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế

lại, phản ánh trên cán cân mậu dịch của nớc đó. Nhìn vào cán cân mậu dịch, nhà
nớc có thể quản lý đợc hàng hoá xuất nhập khẩu thuộc loại gì? Giá trị bao nhiêu?
Tình hình ngoại thơng đang xuất siêu hay nhập siêu? Những loại hàng hoá nào là
mặt hàng xuất khẩu chủ lực?...để từ đó đề ra chính sách ngoại thơng thích hợp
nh khuyến khích đầu t sản xuất hàng xuất khẩu, u tiên tài trợ nhập khẩu các mặt
hàng nào bằng hình thức cho vay qua Bộ Tài Chính, qua các ngân hàng thơng
mại, cấp vốn trực tiếp, gián tiếp, bảo lãnh...Đồng thời qua theo dõi hoạt động
thanh toán quốc tế, Nhà nớc có cơ sở để chỉnh lại những điểm bất hợp lý trong hệ
thống pháp luật hay chính sách có liên quan đến thanh toán quốc tế cho phù hợp
với tình hình mới, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thơng. Ví dụ nh cuối
năm 1997, Chính phủ đã ra quy định cho vay bắt buộc đối với một số doanh
nghiệp nhập khẩu để thanh toán L/C trả chậm, góp phần giúp các ngân hàng Việt
Nam sớm thực hiện đợc cam kết quốc tế, giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn bản
chất vấn đề, cải thiện hình ảnh của các ngân hàng Việt Nam và nâng cao uy tín
của nớc ta trong buôn bán ở thị trờng quốc tế. Điều này đã giúp cho một số hợp
đồng thơng mại có giá trị lớn đợc tiếp tục ký kết với nớc ta.
Tóm lại, thanh toán quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát
triển ngoại thơng và chúng ta cũng hiểu rằng ngoại thơng là một công cụ thúc đẩy
quá trình liên kết kinh tế ở trong nớc và giữa trong nớc với nớc ngoài. Khi các n-
ơc có mối quan hệ kinh tế, việc hợp tác làm ăn tốt đẹp thì họ sẽ có tiếng nói
chung trên nhiều lĩnh vực nh chính trị, ngoại giao, văn hoá...Nh thế quan hệ đối
ngoại giữa các nớc đợc thắt chặt hơn, và điều đó lại càng thúc đẩy liên kết kinh
tế.ở một khía cạnh khác, việc phát triển mối quan hệ giao lu giữa các nớc không
chỉ đơn giản là gắn nền kinh tế trong nớc với nền kinh tế thế giới để tranh thủ
những lợi thế do ngoại thơng mang lại, mà còn là dùng ngoại thơng để thúc đẩy
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
các quá trình phát triển kinh tế trong nội bộ nền kinh tế, phát triển nền kinh tế thị
trờng thống nhất ở trong nớc.

Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
những khoản ngoại tệ mà ngân hàng nớc ngoài mở tài khoản tại ngân hàng mình,
hoặc nhờ mối quan hệ tốt với ngân hàng nớc ngoài mà ngân hàng có thể nhận đợc
những khoản vay u đãi, những khoản đầu t tín dụng qua ngân hàng mình.
III. Các yếu tố ảnh hởng đến hoạt động thanh toán quốc
tế
1. Yếu tố khách quan
1.1 Tỷ giá hối đoái
Trong hoạt động thanh toán quốc tế, đơn vị đợc sử dụng thờng không phải
là đồng nội tệ mà là các loại ngoại tệ khác nhau. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
so sánh, quy đổi từ đông tiền nớc này sang đồng tiền nớc khác. Để giải quyết vấn
đề này, ngời ta đa ra khái niệm tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là sự so sánh giá
trị giữa các đồng tiền với nhau, nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị
tiền tệ nớc này so với đơn vị tiền tệ nớc khác.
Sự biến động của tỷ giá hối đoái luôn có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động
ngoại thơng, điều đó đồng nghĩa với việc ảnh hởng đến hoạt động thanh toán
quốc tế. Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái giảm (có nghĩa là đồng tiền nội tệ trở nên có
giá tơng đối so với đồng ngoại tệ) thì khối lợng hàng hoá nhập khẩu vào nớc đó
có xu hớng tăng lên còn khối lợng hàng hoá xuất khẩu có xu hớng giảm xuống.
Điều này xảy ra do khi giá trị của đồng nội tệ tăng thì có nghĩa là giá cả hàng hoá
của nớc ngoài rẻ đi một cách tơng đối so với hàng hoá trong nớc và do đó nhu cầu
tiêu dùng đối với các hàng hoá đó tăng lên; trong khi đó giá trị của các hàng hoá
xuất khẩu của nớc đó lại đắt lên tơng đối so với hàng hoá của nớc ngoài và bởi
vậy nhu cầu tiêu dùng đối với hàng hoá đó giảm đi tơng đối. Ta cũng có điều ng-
ợc lại khi tỷ giá tăng.
Việc thực hiện các hoạt động ngoại thơng thờng đòi hỏi nhiều thời gian để
hoàn tất và chính trong khoảng thời gian này, sự biến động về tỷ giá tất yếu dẫn
đến việc gây thiệt hại hoặc cho ngời xuất khẩu hoặc cho ngời nhập khẩu.
Sự thay đổi bất thờng của tỷ giá hối đoái còn gây ảnh hởng không tốt đến
việc mua bán ngoại tệ của ngân hàng. Việc cân nhắc nên mua hay bán ngoại tệ

trên đờng vận chuyển, giảm chi phí vận chuyển... Điều này cũng ảnh hởng trực
tiếp tới hoạt động ngoại thơng và do đó sẽ ảnh hởng tới hoạt động thanh toán
quốc tế.
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
1.3. Tình hình chính trị xã hội
Tình hình chính trị xã hội của mỗi quốc gia có ảnh hởng đến tất cả các
hoạt động kinh tế của quốc gia đó bao gồm cả nội thơng và ngoại thơng. Khi tình
hình chính trị xã hội ổn định, các hoạt động kinh tế sẽ có một nền tảng vững chắc
để hoạt động. Sự bất ổn định chính trị xã hội là một trong những nhân tố to lớn
trong việc tàn phá nền kinh tế của mỗi quốc gia không loại trừ quốc gia đó theo
thể chế chính trị nào. Trong hoạt động ngoại thơng, không một thơng gia nào lại
lựa chọn đối tác của mình ở một nớc đang có những biến động về chính. Sự biến
động về chính trị sẽ có thể làm cho bạn hàng của thơng gia này (nếu là ngời xuất
khẩu) không giao đợc hàng hoá hoặc (nếu là ngời nhập khẩu) không thanh toán
đợc tiền. Những rủi ro này nằm ngoài mong muốn của cả hai phía và tất nhiên là
những rủi ro bất khả kháng bởi vì thông thờng không có bảo hiểm cho rủi ro dạng
này. Do vậy trong bất kỳ trờng hợp nào thì các thơng gia cũng không bao giờ
muốn đặt mình vào những khả năng rủi ro nh vậy.
1.4. Các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc có mục đích là điều tiết các hoạt
động kinh tế. Những chính sách này luôn nhằm mục đích đem lại lợi ích tốt nhất
cho đất nớc. Sự ổn định và tính đúng đắn của các chính sách kinh tế vĩ mô của
Nhà nớc có tác động rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và
thanh toán quốc tế. Ví dụ nh chính sách thuế của Nhà nớc, khi thuế nhập khẩu
cao, hàng hoá vào nớc đó giảm đi và hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giảm theo,
hoặc nếu Nhà nớc cấm nhập khẩu một hay một số mặt hàng nào đó thì cũng tác
động tơng tự đến hoạt động thanh toán quốc tế. Do đó nếu chính sách ngoại hối
của Chính phủ không đúng đắn, không bám sát cung cầu trên thị trờng sẽ tác

Bên cạnh những bớc tiến trong quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nớc, những
nỗ lực trong việc tài trợ hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu , một yếu tố quan
trọng để phát triển thanh toán quốc tế thì các quyết định cũng nh các chính sách
của Chính phủ vẫn còn bộc lộ những hạn chế làm ảnh hởng đến kết quả hoạt
động thanh toán quốc tế của các ngân hàng nh sự không hoàn thiện của hệ thống
luật pháp quốc gia hay sự quá cững nhắc trong quản lý vĩ mô của Chính phủ.
Nh vậy để hoạt động thanh toán quốc tế phát triển thì các nớc cần đề ra đ-
ợc các chính sách đúng đắn và phù hợp.
2. Yếu tố chủ quan
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Thanh toán quốc tế là một hoạt động của ngân hàng, do đó tất yếu nó chịu
ảnh hởng của các yếu tố thuộc bản thân ngân hàng.
Trong thanh toán quốc tế, vai trò của các ngân hàng là không thể thiếu,
hiếm khi các bên tham gia mua bán tự thanh toán tiền với nhau, Các ngân hàng
có nhiệm vụ đứng ra đảm bảo thanh toán cho ngời xuất khẩu và đòi tiền ngời
nhập khẩu. Nh nhà kinh tế học Adam smith đã nói: Tiền là thứ nguyên liệu bôi
trơn bánh xe lu thông thì vai trò của ngân hàng trong thanh toán quốc tế cũng đ-
ợc ví nh vậy. Không có các ngân hàng thì hoạt động thanh toán quốc tế sẽ bị
ngừng trệ. Các ngân hàng muốn thực hiện tốt vai trò của mình thì cần có những
điều kiện sau:
-Phải có nguồn ngoại tệ đầy đủ, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu ngoại tệ
của khách hàng trong việc thực hiện thanh toán.
-Ngân hàng phải có trang thiết bị hiện đại thì mới đáp ứng đợc nhu cầu của
khách hàng ngày càng khắt khe hơn thể hiện ở chất lợng dịch vụ thanh toán phải
chính xác, nhanh gọn, mới có thể thắng trong cuộc cạnh tranh ngày càng găy gắt
giữa các ngân hàng.
-Ngân hàng phải có uy tín và vị thế trên trờng quốc tế. Do thanh toán quốc
tế thực hiện trên phạm vi quốc tế cho nên một ngân hàng không đợc tin tởng trên

tìm hiểu kỹ bạn hàng, do hợp đồng ngoại thơng quy định không chặt chẽ, rõ ràng
từ bên mua đa lại. Ngợc lại, ngời nhập khẩu có thể mất tiền mà không nhận đợc
hàng hoặc nhận hàng chậm, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh vì có thể giá cả trên thị trờng
biến động bất lợi cho họ. Khi các bên thơng mại rơi vào hoàn cảnh phức tạp nh
vậy, họ đều tìm cách chấp nhận một cơ chế chuyển đổi vừa thuận tiện, vừa an
toàn, đáng tin cậy cho cả hai bên. Trong khi thay đổi và chấp nhận bất kỳ một cơ
chế nào, họ đều xem xét những vấn đề riêng, những đòi hỏi cũng nh sự e ngại của
mình. Những đòi hỏi của họ có thể là những điều sau:
Ngời xuất khẩu muốn:
-Ngời nhập khẩu trả tiền ngay sau khi chuyển hàng hoá, tức là giảm mức tối
thiểu rủi ro trong thanh toán và không bị ứ đọng vốn.
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
-Có sự đảm bảo của ngời nhập khẩu hoặc của ngân hàng của ngời nhập khẩu
trả tiền theo trách nhiệm hợp đồng.
-Có sự thuận tiện trong việc thanh toán tại đất nớc mình và sự hỗ trợ tài chính
nếu có thể (trớc và sau khi giao hàng).
-Thông tin và sự đảm bảo của ngời nhập khẩu là có giấy phép nhập khẩu cần
thiết, tình hình tài chính của ngời nhập khẩu và tiền tệ ở nớc ngời nhập khẩu.
Ngời nhập khẩu muốn:
-Trả tiền hàng hoá chỉ sau khi nhận đợc hàng
-Có sự đảm bảo là ngời xuất khẩu chuyển giao hàng hoá đúng hợp đồng đã ký
kết.
-Có sự hỗ trợ tài chính cho đến khi nhận và bán đợc hàng và sự thuận tiện sử
dụng một bên thứ ba có khả năng đảm bảo phía ngời xuất khẩu thực hiện đúng
yêu cầu của mình.
-Có sự hỗ trợ trong thủ tục liên quan đến những chứng từ hàng hoá cũng nh
các khía cạnh khác trong hoạt động ngoại thơng.
Để có thể vợt qua những vấn đề có liên quan đến lợi ích chung song đối

về phơng thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất.
Phơng thức thanh toán là cách ngời xuất khẩu dùng cách nào đó thu tiền về
và ngời nhập khẩu dùng cách nào đó để trả tiền hàng. Trong buôn bán, ngời ta có
thể lựa chọn nhiều phơng thức khác nhau để thu và trả tiền hàng. Mỗi phơng thức
đều có u nhợc điểm của nó và đây chính là điểm nảy sinh mâu thuẫn về quyền lợi
giữa ngời mua và ngời bán - điều kiện thực hiện việc thanh toán và thời điểm
thanh toán.
Với ngời xuất khẩu, khi bán một loại hàng hoá nào đó, chừng nào thu
nhiều tiền hàng, thời gian thu tiền nhanh hay chậm đều ảnh hởng đến sự tiếp tục
quá trình kinh doanh của họ. Nếu thời gian thanh toán nhanh, sau khi hàng bán
xong thu đợc tiền vốn về ngay, vốn luân chuyển không bị ứ đọng, không những
giảm đợc chi phí lãi vay ngân hàng để tiếp tục kinh doanh mà còn tạo điều kiện
dễ dàng mở rộng kinh doanh của họ. Cho nên, ngời xuất khẩu nào cũng muốn thu
hồi tiền hàng càng nhanh càng tốt.
Với ngời nhập khẩu, khi mua một hàng hoá nào đó, chừng nào trả tiền, thời
gian trả tiền sớm hay muộn là điều họ rất quan tâm. Không một ngời nhập khẩu
nào muốn trả tiền hàng của họ sớm quá, khi hàng hoá của họ cha tiêu thụ đợc.
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
15
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Nếu ngời nhập khẩu phải trả tiền hàng trớc khi nhận hàng của ngời xuất khẩu
giao thì tiền vốn của họ coi nh bị chiếm dụng. Do vậy, ngời nhập khẩu nào cũng
muốn trả tiền càng chậm càng hay.
Vì vậy, cả hai ngời xuất khẩu và ngời nhập khẩu đều quan tâm đến việc lựa
chọn một phơng thức thanh toán thích hợp nhất trong giao dịch mua bán của
mình. Quá trình lựa chọn phơng thức thanh toán là quá trình đấu tranh về quyền
lợi của đôi bên.
Ngân hàng là một thành viên quan trọng trong thanh toán quốc tế. Chất l-
ợng thanh toán quốc tế của ngân hàng có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh của đôi bên tham gia thơng mại. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ là

(1)
Ngời hởng lợi
(Ngời xuất khẩu)
(1)Sau khi thoả thuận đi đến ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng, ng-
ời xuất khẩu thực hiện việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho ngời nhập khẩu
đồng thời chuyển giao bộ chứng từ (vận đơn, chứng từ về hàng hoá và các
chứng từ có liên quan) cho ngời nhập khẩu.
(2)Ngời nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ, hoá đơn, viết lệnh
chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình trong đó ghi rõ ràng đầy đủ:
9 Tên, địa chỉ ngời xin chuyển
10 Số tài khoản, ngân hàng mở tài khoản
11 Số tiền xin chuyển
12 Tên, địa chỉ ngời hởng lợi, số tài khoản, tên ngân hàng chi
nhánh.
13 Lý do chuyển tiền
14 Kèm theo giấy tờ, chứng từ có liên quan nh: giấy phép nhập
khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thơng, tờ khai hải quan...
(3)Sau khi kiểm tra nếu hợp lệ, đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ
trích tài khoản ngời nhập khẩu để chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã
thanh toán cho ngời nhập khẩu.
(4)Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nớc
ngoài (bằng th hoặc bằng điện) để chuyển tiền cho ngời xuất khẩu.
(5)Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho ngời xuất khẩu (trực tiếp hoặc
gián tiếp thông qua ngân hàng khác) và gửi giấy báo cho đơn vị đó.
2.1.3. Các bên tham gia
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
17
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
-Ngời phát hành lệnh chuyển tiền ( ngời trả tiền )
-Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nớc ngời hởng lợi. ở đây, việc thanh

hàng mới nhận đợc tiền thì không những vốn bị ứ đọng mà còn gặp nguy hiểm,
bởi vì có thể có nhiều lý do mà ngời mua sẽ không nhận hàng, ví dụ nh hàng hoá
không đúng quy cách phẩm chất ghi trong hợp đồng, nh vậy sẽ dẫn đến việc
không thu đủ tiền hàng hoặc không thu đợc đúng hạn.
Do vậy phạm vi áp dụng của phơng thức chuyển tiền thờng chỉ đợc sử dụng
trong việc trả nợ, trả tiền ứng trớc, trả tiền thừa, trả tiền bồi thờng hoặc thanh toán
những chi phí mậu dịch liên quan đến xuất nhập khẩu. Nếu phơng thức thanh
toán đợc áp dụng trong thanh toán xuất nhập khẩu thì chủ yếu là với khách quen,
có tín nhiệm cao.
2.2. Phơng thức mở tài khoản
2.2.1 Khái niệm
Phơng thức mở tài khoản là phơng thức thực hiện bằng cách ngời xuất
khẩu mở một tài khoản, ghi nợ ngời nhập khẩu sau khi ngời này đã hoàn thành
thủ tục hàng hoá, dịch vụ. Đến định từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) ngời
nhập khẩu trả tiền cho ngời xuất khẩu.
2.2.2. Quy trình nghiệp vụ
(1). Ngời xuất khẩu giao hàng cùng với việc gửi chứng từ hàng hoá cho ngời
nhập khẩu.
(2). Báo nợ trực tiếp.
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
19
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
(3). Ngời nhập khẩu dùng phơng thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ
thanh toán.
2.2.3. Ưu nhợc điểm của phơng thức ghi sổ
Ưu điểm của phơng thức này là dễ thực hiện, nghiệp vụ đơn giản, bên mua
thơng xuyên đợc sử dụng hàng hoá khi cha đủ vốn và bên bán bán đợc hàng, giữ
đợc thị trờng.
Tuy nhiên, hạn chế của phơng thức này là quan hệ thanh toán không bình
đẳng, chỉ có lợi cho ngời mua, còn ngời bán thờng xuyên bị ứ đọng vốn, việc thu

hàng phục vụ bên bán phát hành nhờ thu, chuyển các chứng từ cho ngời nhập
khẩu để thu tiền.
Giai đoạn 3: Xuất trình giấy tờ và thanh toán
Ngân hàng bên ngời nhập khẩu thông báo cho ngời nhập khẩu về việc
chứng từ đã tới và những điều kiện của nó. Ngời nhập khẩu trả tiền hoặc chấp
nhận hối phiếu và nhận chứng từ. Sau đó ngân hàng chuyển số tiền đã thu đợc
cho ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu, ngân hàng này tiến hành thanh toán cho
ngời xuất khẩu.
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
21
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
2.3.3. Phân loại nhờ thu
Tuỳ theo các tiêu thức phân loại khác nhau mà có nhiều cách phân loại nhờ
thu.
Căn cứ vào cách thực hiện
1. Uỷ thác thu bằng điện
Ngời xuất khẩu sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ hàng hoá và hối phiếu
uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình đòi tiền ngời nhập khẩu qua ngân hàng đại
lý ở nớc ngời nhập khẩu bằng điện báo thu tiền. Căn cứ vào điện báo đó, ngời
nhập khẩu sẽ trả tiền ngay hoặc chấp nhận thanh toán khi đợc ngân hàng phục vụ
mình báo tin, mà không căn cứ vào chứng từ hàng hoá. Chứng từ hàng hoá đợc
gửi đến sau bằng đờng bu điện, hoặc thông qua ngân hàng, hoặc do ngời xuất
khẩu trực tiếp gửi đến ngời nhập khẩu.
Nh vậy uỷ thác bằng điện là phơng thức thanh toán áp dụng trong trờng
hợp hai bên mua bán tin tởng nhau. Nói chung nó lợi cho ngời nhập khẩu, còn
ngời xuất khẩu đứng trớc rủi ro không thu đợc tiền hàng, hoặc không thu đợc
đúng hạn.
2. Uỷ thác thu bằng th
Ngời xuất khẩu sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ hàng hoá và hối phiếu
gửi đến ngân hàng phục vụ mình đòi tiền ngời nhập khẩu thông qua ngân hàng

trên hối phiếu để yêu cầu thanh toán.
(5). Sau khi kiểm tra, đối chiếu hối phiếu với bộ chứng từ, hợp đồng, nếu thấy
hợp lý, ngời nhập khẩu sẽ ra lệnh cho ngân hàng phục vụ mình thanh toán (trờng
hợp hối phiếu trả ngay D/P) hoặc ký chấp nhận lên hối phiếu (trờng hợp hối
phiếu kỳ hạn D/A)
(6). Ngân hàng đại lý thực hiện các bút toán chuyển tiền và gửi báo có hoặc
hối phiếu đã chấp nhận hoặc thông báo về sự từ chối thanh toán của ngời nhập
khẩu.
(7). Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu tiến hành thanh toán cho ngời xuất
khẩu hoặc chuyển hối phiếu đã chấp nhận hoặc thông báo về sự từ chối thanh
toán của ngời nhập khẩu.
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
23
Luận văn tốt nghiệp Khoa ngân hàng tài chính
Trong phơng thức thanh toán này, chứng từ hàng hoá tách rời trong quá trình
thanh toán. Nếu ngời nhập khẩu không thiện chí thì sau khi nhận hàng, họ có thể
gây khó dễ trong viêc trả tiền. Do đó, phơng thức thanh toán này thờng đợc áp
dụng trong trờng hợp hai bên tin tởng lẫn nhau, hoặc hai bên cùng thuộc một tập
đoàn công ty. Nhìn chung, phơng thức này ít đợc sử dụng trong thanh toán mậu
dịch, mà chủ yếu dùng trong thanh toán cớc phí vận tải, bảo hiểm, lợi tức, hoa
hồng...

Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection)
Khái niệm
Nhờ thu kèm chứng từ là phơng thức trong đó ngời xuất khẩu uỷ thác cho
ngân hàng thu hộ tiền của ngời nhập khẩu không những căn cứ vào hối phiếu mà
còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi kèm theo với điều kiện là nếu ngời nhập khẩu trả
tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng
hoá cho ngời nhập khẩu để nhận hàng.
Trong nhờ thu kèm chứng từ có hai loại:

để nhận hàng (khi ngân hàng đã nhân đợc sự đồng ý thanh toán).
(2). Ngân hàng đại lý thực hiện các bút toán chuyển tiền và gửi báo có hoặc
hối phiếu đã chấp nhận tới ngân hàng nhờ thu bên ngời xuất khẩu hoặc thông
báo về sự từ chối thanh toán của bên nhập khẩu.
(3). Ngân hàng tiến hành thanh toán cho ngời xuất khẩu hoặc chuyển hối
phiếu đã chấp nhận hoặc thông báo về sự từ chối thanh toán của ngời nhập
khẩu.
Trong nhờ thu kèm chứng từ, ngời xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng ngoài
việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với ngời
nhập khẩu. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu
phiếu trơn. Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi của ngời xuất khẩu đợc
bảo đảm hơn. Tuy nhiên, ngời xuất khẩu thông qua ngân hàng mới chỉ khống chế
đợc quyền định đoạt hàng hoá của ngời nhập khẩu chứ cha khống chế đợc việc trả
Trơng Hùng Vỹ Lớp Ngân hàng 40A
25

Trích đoạn Thực trạng thanh toán hàng nhập theo phơng thức nhờ thu tại ngân hàng công thơng Hoàn Kiếm. Phơng thức tín dụng chứng từ 1 Quy trình nghiệp vụ. Thực trạng thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phơng thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng công thơng Hoàn Kiếm. Quy trình nghiệp vụ. Thực trạng thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phơng thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng công thơng Hoàn Kiếm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status